Báo cáo nghiên cứu khoa học: " CƠ SỞ LÝ THUYẾT ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN ĐẤT XÂY DỰNG KHU VỰC THÀNH PHỐ HUẾ THEO QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG" potx - Pdf 19


87
TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, Số 50, 2009 C
Ơ SỞ LÝ THUYẾT ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN ĐẤT XÂY DỰNG KHU VỰC
THÀNH PH
Ố HUẾ THEO QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
Nguyễn Thị Thanh Nhàn
Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế
TÓM TẮT
Đánh giá tài nguyên đất xây dựng phải dựa trên quan điểm địa chất công trình và địa
chất môi trường. Theo quan điểm phát triển bền vững (PTBV) tài nguyên đất xây dựng khu vực
thành phố Huế, để sử dụng hợp lý, tái tạo tài nguyên thiên nhiên kết hợp bảo vệ môi trường nói
chung và môi trường địa chất (MTĐC) nói riêng, thì các hoạt động tự nhiên - kỹ thuật ảnh
hưởng đến cấu trúc nền công trình phải phù hợp với quy luật tự nhiên. Bài báo này đưa ra cơ
sở lý thuyết đánh giá tài nguyên đất xây dựng khu vực thành phố Huế theo quan điểm phát triển
bền vững tính đến lợi ích lâu dài, nhằm ngăn ngừa những hiểm họa về môi trường, đảm bảo
trạng thái bền vững về kinh tế - xã hội cho khu vực nghiên cứu.
I. Cơ sở lý thuyết đánh giá tài nguyên đất xây dựng khu vực thành phố Huế
Tài nguyên
đất xây dựng là bộ phận tài nguyên quý giá. Đối với các đô thị, tài
nguyên này
đặc biệt quan trọng và có ý nghĩa to lớn. Thuật ngữ: "Tài nguyên đất xây
d
ựng" do tác giả Phạm Văn Tỵ có quan niệm: "Đất là tài nguyên quý giá trong đó quĩ
đất dành cho xây dựng là bộ phận tài nguyên quan trọng, được gọi là tài nguyên đất xây
d
ựng”
Tài nguyên

tài nguyên không tái t
ạo, muốn tái tạo phải phá bỏ công trình cũ. Mặt khác, một khi có
phá b
ỏ công trình cũ thì bản thân nó cũng đã bị thay đổi so với ban đầu. Tính năng xây
d
ựng của tài nguyên đất xây dựng nói chung, của nền đất nói riêng phụ thuộc vào những
đặc điểm của nền đất như: cấu trúc địa chất, sự sắp xếp không gian, chiều dày, thành
ph
ần, trạng thái và tính chất các lớp đất cấu tạo nền đất. Những đặc điểm này quyết định
s
ức chịu tải của nền, tính nhạy cảm của nền đất (hay môi trường địa chất nói chung) đối
v
ới các tác động từ bên ngoài, quyết định tính chất và mức độ các vấn đề địa chất công
trình x
ảy ra khi xây dựng nhà và công trình trên nền đất đó. Như vậy, khả năng sử dụng
tài nguyên
đất xây dựng phụ thuộc vào đặc điểm cấu trúc nền đất. Để đánh giá tài
nguyên
đất xây dựng của một vùng hay một lãnh thổ nào đó cần thiết phải điển hình hóa
lãnh th
ổ hay khu vực đó theo đặc điểm cấu trúc nền.
C
ấu trúc nền là quan hệ sắp xếp không gian của các thể địa chất (lớp đất) cấu tạo
n
ền đất, số lượng, đặc điểm, hình dạng, kích thước, thành phần, trạng thái và tính chất
c
ủa các yếu tố cấu thành này. Cấu trúc nền hiện nay đang được nhiều người quan tâm và
định nghĩa khác nhau. Phần lớn các tác giả dùng khái niệm "cấu trúc nền" trong các
nghiên c
ứu của mình, một số tác giả lại dùng các khái niệm tương tự như cấu trúc địa

thích h
ợp, mức độ, qui mô, khối lượng cần tiến hành và giúp các nhà thiết kế, qui hoạch
ch
ọn kiểu, kết cấu công trình, phương pháp thiết kế móng, xử lý nền, áp dụng các bài
toán, mô hình tính toán phù h
ợp, đồng thời dự báo biến đổi môi trường địa chất trong
quá trình xây d
ựng và sử dụng công trình.

89
Theo tác giả, quan điểm chung khi đánh giá tài nguyên đất xây dựng phải dựa
trên quan
điểm địa chất công trình và địa chất môi trường. Tuy nhiên, cho đến nay, quỹ
đất xây dựng khu vực thành phố Huế chưa đến mức độ cạn kiệt, không đủ để xây dựng,
nh
ưng vấn đề đáng quan tâm hiện nay là tốc độ xây dựng các công trình đang phát triển
r
ất nhanh chóng. Các công trình ngầm, công trình cao tầng đã và đang được xây dựng
trên các h
ố móng sâu nên ảnh hưởng của các yếu tố địa kỹ thuật - môi trường phải được
đánh giá đúng. Cụ thể là đánh giá môi trường công trình và ảnh hưởng của các hoạt
động kinh tế - công trình đến tài nguyên đất xây dựng. Quan điểm này được quán triệt
trên các m
ặt sau: Khi đánh giá tài nguyên đất xây dựng không chỉ xem đó là nền đất
ch
ịu tác dụng của riêng tải trọng công trình, mà còn chịu tác động của các hoạt động
kinh t
ế - công trình khác, không chỉ xem xét nền đất có đáp ứng được yêu cầu của công
trình xây d
ựng, mà còn xét tới sự biến đổi của môi trường địa chất và sự phản hồi của

trên th
ế giới từ sau báo cáo Brundtland (1987) và trở thành chìa khóa giúp các quốc gia
xây d
ựng quan điểm, định hướng các giải pháp tháo gỡ bế tắc trong các vấn đề phát triển.
Theo báo cáo này: "Phát tri
ển bền vững (PTBV)là sự phát triển thỏa mãn những nhu cầu
c
ủa hiện tại và không làm tổn hại tới khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai".
Đó là quá trình phát triển kinh tế dựa vào nguồn tài nguyên được tái tạo nhưng tôn trọng
nh
ững quá trình sinh thái cơ bản, sự đa dạng sinh học và những hệ thống trợ giúp tự nhiên
đối với con người, động vật và thực vật. Nói cách khác, PTBV phải đảm bảo sử dụng hợp
lý và
ổn định tài nguyên thiên nhiên, môi trường sống. Nó không chỉ là sự phát triển kinh
t
ế, văn hóa, xã hội vững chắc nhờ khoa học công nghệ tiên tiến mà còn đảm bảo cải thiện
nh
ững điều kiện tự nhiên mà con người đang sử dụng trong hoạt động sống. Do đó, phát

90
triển bền vững phải có sự phối hợp chặt chẽ về đường lối, chính sách kinh tế - xã hội (KT
- XH) và môi tr
ường sinh thái thông qua nhận thức đầy đủ về các hệ thống KT - XH, sinh
thái và m
ối quan hệ giữa chúng, nhằm đảm bảo mọi phúc lợi xã hội không bị suy giảm
theo th
ời gian [6]. Như vậy, để PTBV tài nguyên đất xây dựng khu vực thành phố Huế,
đồng thời sử dụng hợp lý, tái tạo tài nguyên thiên nhiên kết hợp bảo vệ môi trường nói
chung và môi tr
ường địa chất (MTĐC) nói riêng, thì các hoạt động tự nhiên - kỹ thuật

ệc bảo vệ được môi trường địa chất và nguồn tài nguyên đất xây dựng.
Nhìn chung, các y
ếu tố địa kỹ thuật - môi trường ảnh hưởng đến tài nguyên đất
xây d
ựng chủ yếu: yếu tố địa tầng, tính chất cơ lý của đất đá, nước dưới đất, yếu tố công
trình (các tác
động cơ học), yếu tố môi trường (tác động hoá học, sinh học từ các nhà
máy xí nghi
ệp sản xuất, bãi thải, ) khá đa dạng và phức tạp. Dưới góc độ nghiên cứu
tài nguyên
đất xây dựng, có thể xếp chúng vào nhóm các yếu tố địa kỹ thuật - môi
tr
ường ảnh hưởng đến sự biến đổi tài nguyên đất xây dựng.
Để đánh giá tài nguyên đất xây dựng khu vực thành phố Huế, cần điển hình hoá
khu v
ực nghiên cứu theo đặc điểm cấu trúc nền. Cấu trúc nền là phần tác động giữa
công trình và môi tr
ường địa chất, được đặc trưng bằng qui luật phân bố theo chiều sâu,
kh
ả năng biến đổi theo thời gian của các thành tạo đất đá có nguồn gốc, tuổi, thành phần,
c
ấu trúc, bề dày, trạng thái và tính chất địa chất công trình xác định. Quy luật phân bố
theo chi
ều sâu của các thành tạo đất đá phản ánh mối quan hệ địa tầng của chúng và lịch
s
ử của quá trình thành tạo tự nhiên của đất đá. Vùng ảnh hưởng của công trình được
hi
ểu là giới hạn mà tại đó các thành tạo đất đá có ảnh hưởng trực tiếp đến công trình xây
d
ựng [5].

phong phú nớc trung bình.
Mực nứơc xuất hiện < 20m. Nớc
có tính ăn mòn CO và HCO
2
3
Trầm tích Phú Vang có trạng thái dẻo
mềm độ bền, độ nén lún trung bình. Đất yếu
thuộc hệ tầng Phú Bài có độ ẩm cao, trạng
thái dẻo chảy - chảy, độ bền nhỏ, nén lún
lớn. Trầm tích Đà nẵng khô chặt, khả năng
chịu tải khá tốt. Trầm tích Quảng Điền có độ
ẩm, độ bền, tính biến dạng thay đổi trong
diện rộng.
Đặc điểm tính chất cơ lý đất nền
Địa hình đồng bằng
tơng đối thấp và các
bãi bồi tích tụ, không bị
ngập nớc
Trầm tích Phú Vang có trạng thái dẻo
mềm độ bền, độ nén lún trung bình. Đất yếu
thuộc hệ tầng Phú Bài có độ ẩm cao, trạng
thái dẻo chảy - chảy, độ bền nhỏ, nén lún
lớn. Trầm tích Đà nẵng khô chặt, khả năng
chịu tải khá tốt. Trầm tích Quảng Điền có
độ ẩm thấp, tơng đối ổn định.
Gồm tầng chứa nứơc Holocen và
Peistocen, tầng chứa nớc Pleistocen
nằm sâu, mái cách nớc yếu.
Mực nớc xuất hiện < 20m. Nớc
có tính ăn mòn CO và HCO

Hệ tầng Phú Bài nguồn gốc sông
biển đầm lầy lộ trên mặt. Thành
phần đất yếu gồm bùn sét pha lẫn
mùn thực vật, cát pha lẫn vỏ sò và
cát hạt trung xen kẹp các lớp mỏng
cát pha. Bề dày đất yếu

6.0m.
Địa hình tơng đối
cao phân bố ở Thuỷ
Biều, Long Thọ.
2
3
Địa hình gò đồi cao.
Trầm tích hệ tầng Đà Nẵng, Quảng Điền
có độ ẩm nhỏ, độ bền cao, tính biến dạng bé.
Đá của hệ tầng Tân Lâm và Co Bai đáp ứng
làm nền công trình cho mọi qui mô.
Chiều sâu mực nớc ngầm 2,5
m, có nơi > 5.0m. Dới sâu 1 số
nơi thuộc loại nớc có áp.

Lộ trên mặt gồm hệ tầng Phú
Bài hoặc hệ tầng Đà Nẵng. Trầm
tích Quảng Điền thuờng lẫn dăm
sạn. Bên duới lớp tàn tích tích là
các lớp đá hệ tầng Co Bai hoặc
Devon, không có đất yếu.
Địa hình tơng đối
cao, là nơi chuyển tiếp

IV
amQ pv
2-3
1-2
amQ pb
IV
amQ qđ
II-III
mQ đn
III
ambQ pb
1-2
IV
IV
amQ pb
1-2
amQ qđ
II-III
ambQ pb
IV
1-2
a
m
Q
p
b
1

IV
IV
a
m
Q

p
b
1
-2
III
mQ đn
edQ
1
D tl
3
O - S lđ
1
0.5-13.1
6.8 - 23.0
3.6 - 7.5
2.5 - 5.0
1.6 - 8.5
14.0 - 43.0
1.5 - 8.0
1.7 - 5.7
7.3 - 12.0

0
.
0
5.6 - 29.5
0.6 - 5.0
1.5 - 4.0
2.5 - 9.0
16 - 60
150-200
1
5
0
-
2
0
0
600-2700
IIA

Trầm tích edQ phủ trên mặt,
một vài nơi đá gốc lộ ra.
16.0 - 40.0

P
b
n

D

c

thờng

nớc
.

nớc92
Như vậy, khi điển hình hóa được cấu trúc nền từ phạm vi phân bố, các kiểu,
d
ạng sẽ giúp các nhà quy hoạch bố trí hợp lý các công trình xây dựng. Đối với mỗi kiểu
c
ấu trúc nền thường phải sử dụng tổ hợp phương pháp khảo sát khác nhau, dự báo sự
bi
ến đổi môi trường địa chất, sơ đồ sử dụng hợp lý và bảo vệ lãnh thổ khác nhau. Điều
này có ý ngh
ĩa rất quan trọng, nó giúp người khảo sát và thiết kế ngay từ đầu xác định
đúng đắn phương pháp và mức độ khảo sát, quy mô và kiểu kết cấu công trình, phương
án thi
ết kế móng và xử lý nền, chọn sơ đồ tính toán sức chịu tải và dự kiến biến dạng của
n
ền trong quá trình xây dựng và sử dụng công trình (Bảng 1).
- Y
ếu tố địa tầng. Trong nghiên cứu về tài nguyên đất xây dựng, yếu tố địa tầng
ph
ản ánh các đặc điểm về thành phần đất đá cũng như sự sắp xếp không gian của chúng.
S
ự biến đổi bề dày và đặc tính bất đồng nhất về địa tầng của cấu trúc nền đất sẽ ảnh
h

đúng đắn phương pháp và mức độ khảo sát, quy mô và kiểu kết cấu công trình, phương
án thi
ết kế móng và xử lý nền, chọn sơ đồ tính toán sức chịu tải và dự kiến biến dạng
c
ủa nền trong quá trình xây dựng và sử dụng công trình.
Th
ực tế cho thấy, nếu không khảo sát chi tiết các đặc điểm bất đồng nhất về địa
t
ầng, sẽ có thể dẫn đến các sai lầm trong giải pháp thiết kế, đặc biệt với các công trình
thi công b
ằng móng cọc. Hiểu biết đúng đắn về sự biến đổi bề dày và đặc tính bất đồng
nh
ất về địa tầng (đặc biệt có sự xuất hiện của thành tạo đất yếu) sẽ giúp các nhà thiết kế
đưa ra các giải pháp móng công trình hợp lý.
- Y
ếu tố tính chất cơ lý của đất đá. Yếu tố này thể hiện chủ yếu ở độ bền, tính
bi
ến dạng và sự nhạy cảm của đất trước các tác động bên ngoài. Tính chất cơ lý được
hình thành su
ốt quá trình thành tạo và tồn tại của đất đá trong môi trường địa chất.
Chúng ph
ụ thuộc vào thành phần vật chất, nguồn gốc, tuổi địa chất và điều kiện tồn tại,

93
biến đổi về sau. Mỗi loại đất đá, ứng với đặc tính cơ lý riêng đều đáp ứng được khả
n
ăng xây dựng ở các mức độ khác nhau và có thể không cần đến giải pháp xử lý. Nhìn
chung, các thành t
ạo đất đá trong khu vực nghiên cứu có tính chất cơ lý đáp ứng được
kh

- Y
ếu tố nước dưới đất. Phản ánh sự có mặt và ảnh hưởng của nước dưới đất
đối với cấu trúc nền đất. Tùy trường hợp cụ thể, nước dưới đất trong nền đất có thể gây
nên các v
ấn đề như gây nên sự ăn mòn vật liệu đối với công trình xây dựng, khả năng
ng
ập úng khi xây dựng công trình, làm giảm khối lượng thể tích của đất đá, thay đổi
tr
ạng thái của đất và do đó làm thay đổi một số chỉ tiêu cơ lý quan trọng của đất nền,
gây nên các quá trình bi
ến dạng của đất đá do thay đổi áp lực nước lỗ rỗng Nước
trong c
ấu trúc nền đất và nước tồn tại trong môi trường địa chất xung quanh thường là
m
ột thể thống nhất nên cần làm sáng tỏ mối quan hệ giữa chúng. Điều này không chỉ có
ý ngh
ĩa khi chọn sơ đồ tính toán nền, mà còn cho phép dự báo được các biến đổi diễn ra
trong c
ấu trúc nền đất khi có sự thay đổi của môi trường địa chất. Trong phạm vi khu vực
nghiên c
ứu, nước dưới đất tồn tại trong phạm vi cấu trúc nền thuộc tầng chứa nước Holocen
và Pleistocen có m
ức độ chứa nước trung bình và tầng chứa nước khe nứt nghèo nước hoặc
không ch
ứa nước. Trong các tầng chứa nước Holocen và Pleistocen, mực nước ngầm phân
b
ố nông (thường bắt gặp ở độ sâu 2 m), do đó, cần lưu ý các hiện tượng đối với công trình
nh
ư nước chảy vào hố móng, bục nền, cát chảy, Nước có lưu lượng thay đổi trong khoảng
Q = 2,01 – 2,8 l/s, h

ền, nó giúp xác định quy mô cũng như sự phân bố của công trình. Ở khu vực thành phố
Hu
ế hầu hết các khu nhà cao tầng đều được thiết kế trên hệ thống móng cọc khoan nhồi
v
ới chiều sâu lớn (thường là tựa vào các lớp đá gốc hệ tầng Tân Lâm). Còn lại tất cả các
lo
ại nhà khác (từ 1 đến 6 tầng) hầu như đều được thiết kế trên móng nông, đặt trên nền
t
ự nhiên hoặc san lấp. Tuy nhiên, với đặc điểm cấu trúc địa chất phức tạp (Bảng 1), và
t
ải trọng tác động (số tầng) nhiều khu vực với khả năng chịu tải của nền rất thấp thì khả
n
ăng lún nền và mặt đất xung quanh công trình là không tránh khỏi. Việc thi công cọc
khoan nh
ồi đại trà có thể gây chấn động xáo trộn các lớp đất đá, ảnh hưởng trực tiếp đến
c
ấu trúc nền công trình. Ảnh 1: Vết nứt ngang ở tường nhà do lún công trình trên nền đất yếu.
Trung tâm Da Liễu - Chi Lăng, 1999Ảnh 2.1: Vết nứt ngang
kích thước 1-5cm trên
tường nhà do hiện tượng
lún công trình.
Ảnh 2: Ngôi nhà 2 tầng số 89
Hùng Vương bị lún nứt mạnh do
ảnh hưởng của môi trường địa

ưởng của MTĐC đến ổn định cấu trúc nền công trình, các mối quan hệ theo chiều
ng
ược lại, tức là ảnh hưởng của các hoạt động công trình đến biến đổi MTĐC chưa
được quan tâm nhiều, còn ảnh hưởng của MTĐC đến sinh vật và con người thì hầu như
ch
ưa được tính đến [3]. Với tốc độ phát triển và hoạt động rầm rộ của hệ thống kỹ thuật
đô thị khu vực thành phố Huế và phụ cận như hiện nay thì các chức năng sinh thái của
MT
ĐC bị biến đổi sâu sắc. Ô nhiễm môi trường trong đó có MTĐC mà đặc biệt là nước
m
ặt và nước ngầm đã trở thành vấn đề hết sức búc xúc của đô thị. Bên cạnh đó, các hoạt
động khác: xây dựng các khu công nghiệp, nông nghiệp, giao thông, khai thác nước
ng
ầm, vật liệu xây dựng, chôn lấp chất thải sinh hoạt, hiện tượng ngập lụt xảy ra thường
xuyên sau m
ỗi trận mưa, dịch bệnh, các bãi rác cũ trong phạm vi thành phố chôn lấp
không qua x
ử lý môi trường… cũng góp phần không nhỏ làm ô nhiễm trực tiếp môi
tr
ường và phát sinh các quá trình địa chất nhân sinh, gây hư hại công trình ảnh hưởng
tr
ực tiếp đến tài nguyên đất xây dựng.
IV. Kết luận
-
Đánh giá tài nguyên đất xây dựng thông qua đánh giá cấu trúc nền, phải dựa
trên c
ơ sở dự báo các quá trình địa chất công trình khi thực hiện các hoạt động kinh tế -
công trình khác nhau.
- Các y
ếu tố địa kỹ thuật - môi trường ảnh hưởng trực tiếp đến tài nguyên đất

nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, Hà Nội, 1997.
5. Nguyễn Thanh, Về việc phân loại và thành lập bản đồ cấu trúc nền các công trình xây
dựng ở Việt Nam, Tuyển tập báo cáo tại hội nghị khoa học Địa kỹ thuật toàn quốc lần
thứ 11, Hà Nội, 1984.
6. Schellnhuber H.J. and Wenzel V, Earth system analysis - integrating science for
sustainability, Springer - Verlag Berlin Heidelberg, 1998.

BASIS THEORIES OF ASSESSING SOIL RESOURCES FOR
CONSTRUCTION IN HUE CITY, ACCORDING TO STABLY
DEVELOPMENTAL VIEWPOINTS
Nguyen Thi Thanh Nhan
College of Sciences, Hue University
SUMMARY
Assessing resources of construction soil must be due to Geo-engineering and Geo-
environment theories. On the point of permanent development in soil resources in Hue city, in
order to have appropriate utilization and to regenerate natural resources in combination with
environmental protection in general and geological environment in particular, every natural -
technical activity that influences the base of a certain construction should always be relevant to
natural processes. Based on the above opinions, this paper proposes theories that can be
necessary for assessing the soil resources in Hue city and that is probably indispensable to
prevent environmental damage as well as to ensure stable economic-social conditions in the
studying area.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status