MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CƠ QUAN ĐIỀU TRA
LÊ TIẾN CHÂU
ThS. Giảng viên Khoa luật Hình sự - Đại học Luật
TP.HCM
Điều tra là khâu đột phá, là giai đoạn đầu giữ vai trò
rất quan trọng trong tiến trình tố tụng hình sự
(TTHS). “Có thể nói những kết quả khả quan cũng
như những sai lầm tư pháp nghiêm trọng nhất như bỏ
lọt tội phạm, làm oan người vô tội thường bắt
nguồn từ giai đoạn điều tra”(1). Vì vậy, vấn đề tổ
chức và thẩm quyền của cơ quan điều tra (CQĐT) là
một trong những vấn đề được đề cập nhiều trong sách
báo pháp lý nước ta với các mức độ khác nhau. Mặc
dù vậy, vấn đề tổ chức và thẩm quyền của CQĐT vẫn
đang là vấn đề rất phức tạp, còn có nhiều ý kiến khác
nhau, thậm chí trái ngược nhau đòi hỏi phải được tiếp
tục bàn luận. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi
tiếp tục đề cập hai vấn đề trên đây.
I. TỔ CHỨC CQĐT
Mô hình tổ chức của CQĐT ở nước ta đã được xây
dựng vào những năm đầu thành lập nước Việt Nam
dân chủ cộng hòa và nó được hoàn thiện dần trong
quá trình đấu tranh phòng chống tội phạm. Đến năm
1989, trên cơ sở quy định của Bộ luật tố tụng hình sự
(BLTTHS), Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự
(PLTCĐTHS) đã xây dựng mô hình tổ chức CQĐT
tương đối hoàn chỉnh và phù hợp.
Theo quy định của BLTTHS và PLTCĐTHS thì hệ
thống CQĐT bao gồm:
- Trong ngành công an:
hoạt động độc lập với nhau, được tổ chức trong lực
lượng cảnh sát, an ninh, trong quân đội và hệ thống
Viện kiểm sát, có nhiều đầu mối quản lý khác nhau.
Bên cạnh các CQĐT mang tính chuyên trách, pháp
luật tố tụng hình sự còn cho phép một số cơ quan
hành chính cũng được quyền tham gia vào một số
hoạt động điều tra: Bộ đội biên phòng, cơ quan Hải
quan, cơ quan Kiểm lâm và các cơ quan khác thuộc
lực lượng cảnh sát nhân dân (Cảnh sát kinh tế, hình
sự, cảnh sát phòng chống ma túy, v…v…); thuộc lực
lượng an ninh nhân dân (chống gián điệp, phản động
….) và các cơ quan khác trong Quân đội nhân dân
Việt Nam…
Sau hơn 10 năm áp dụng, mô hình tổ chức CQĐT đã
thu được những kết quả quan trọng trong cuộc đấu
tranh phòng chống tội phạm. Tuy nhiên, những năm
gần đây do tình hình tội phạm diễn biến phức tạp, với
những phương thức và thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt…
đòi hỏi CQĐT tiếp tục được đổi mới và hoàn thiện để
đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ trong tình hình mới.
Tại Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương
Đảng (khoá 8), Đảng ta đã chỉ rõ là: “Sắp xếp lại
CQĐT theo hướng gọn đầu mối, kết hợp chặt chẽ
giữa trinh sát, điều tra ban đầu với hoạt động của
CQĐT nhằm đảm bảo sự thống nhất trong phòng
ngừa, đấu tranh chống tội phạm, bảo đảm quyền dân
chủ và sự an toàn của công dân”(2).
Khi bàn về mô hình tổ chức của CQĐT đã có nhiều ý
kiến khác nhau. Có ý kiến cho rằng mô hình tổ chức
CQĐT hiện tại vẫn còn phù hợp và phát huy tác dụng
kiểm sát…) và tùy theo chức năng, nhiệm vụ của mỗi
hệ thống mà tổ chức nhiều cấp. Trung bình mỗi tỉnh
có 3 CQĐT cấp tỉnh, cả nước 61 tỉnh, thành thì chỉ
riêng CQĐT cấp tỉnh ở cả nước ta có đến gần 200
CQĐT, chưa kể đến CQĐT cấp huyện và hàng chục
CQĐT trong quân đội. Mối quan hệ giữa các CQĐT
thuộc hệ thống đều có sự độc lập và khép kín về
phương diện, điều hành và lãnh đạo chuyên môn.
Hiện tại, ngoài BLTTHS và PLTCĐTHS chưa có
một văn bản pháp luật của cơ quan có thẩm quyền
hướng dẫn chung cho hoạt động của cả bộ máy điều
tra tố tụng, xác định rõ mối quan hệ giữa các CQĐT
trong cùng ngạch cũng như khác ngạch, chỉ có những
văn bản hướng dẫn riêng của cơ quan hành chính
quản lý ngành đối với CQĐT thuộc ngành mình. Vì
vậy chưa tổng hợp và phát huy được sức mạnh của cả
hệ thống.
Thứ hai: Cách thức tổ chức CQĐT như hiện nay vừa
tạo ra sự phức tạp trong quản lý hành chính, vừa làm
nảy sinh hậu quả có sự tranh chấp về thẩm quyền
điều tra và có khi lại xảy ra tình trạng đùn đẩy trách
nhiệm cho nhau, mà chưa có cơ chế khắc phục, hoặc
đã có nhưng chưa rõ ràng là quan hệ hành chính hay
tố tụng.
Chẳng hạn, việc giải quyết tranh chấp về thẩm quyền
điều tra giữa CQĐT trong cùng hệ thống do thủ
trưởng CQĐT cấp trên trực tiếp giải quyết. Trong khi
thủ trưởng CQĐT không phải là người tiến hành tố
tụng (trừ trường hợp đặc biệt). Vì vậy không thể giao
cho họ giải quyết những vấn đề liên quan đến tố tụng
hưởng trực tiếp đến chức năng nhiệm vụ và cơ cấu tổ
chức của một số cơ quan khác, ảnh hưởng trực tiếp
đến vấn đề cán bộ và nhiều vấn đề quan trọng khác
của tình hình kinh tế, chính trị, xã hội. Cho nên việc
đổi mới CQĐT cần phải nghiên cứu một cách cơ bản,
toàn diện, có tổng kết và đánh giá thực tiễn để đưa ra
mô hình tổ chức CQĐT phù hợp, trình cơ quan có
thẩm quyền xem xét. Vì vậy, theo chúng tôi việc đổi
mới tổ chức CQĐT phải quán triệt các quan điểm sau
đây:
- Phải đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng trong quá trình
đổi mới, quán triệt chủ trương của Đảng là: “Sắp xếp
lại CQĐT theo hướng gọn đầu mối, kết hợp chặt chẽ
giữa trinh sát, điều tra ban đầu với hoạt động của
CQĐT nhằm đảm bảo sự thống nhất trong phòng
ngừa, đấu tranh chống tội phạm, đảm bảo quyền dân
chủ và sự an toàn của công dân. Hoàn thiện tổ chức
phải đặt trong quá trình cải cách các cơ quan tư pháp
mà trọng tâm là đổi mới tổ chức và hoạt động của
Tòa án, phải đảm bảo tổng thể và đồng bộ …”(3).
- Đổi mới phải tích cực, khẩn trương, nhưng cần phải
có bước đi thích hợp, đảm bảo an ninh chính trị, phù
hợp với tình hình, có tính đến khả năng phẩm chất và
trình độ của đội ngũ cán bộ hiện có và sẽ có, đảm bảo
tính kế thừa, chỉ sửa đổi bổ sung những vấn đề nào
thật sự cần thiết và cấp bách, những quy định đang
còn phù hợp và phát huy tác dụng thì không cần sửa
đổi.
- Đổi mới phải đảm bảo phù hợp, đáp ứng được yêu
cầu thực tế của công tác điều tra tội phạm đang đòi
hoạt động chủ động đấu tranh phòng chống tội phạm.
Có ý kiến cho rằng việc xây dựng mô hình tổ chức
CQĐT thống nhất từ trung ương đến địa phương, trên
cơ sở sáp nhập các hệ thống CQĐT hiện tại để đảm
bảo tính hệ thống, đồng bộ và đôc lập trong quá trình
điều tra. Tuy nhiên theo chúng tôi phương án này khó
thuyết phục, bởi lẽ nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến
nhiều vấn đề lớn và phức tạp mà trong thời điểm hiện
tại chưa thể giải quyết được và đã có ý kiến cho rằng
phương án này thực chất là phình thêm đầu mối chứ
không phải là tinh gọn đầu mối. Vì vậy, chúng tôi đề
nghị tiếp tục giữ nguyên mô hình tổ chức CQĐT
trong công an và quân đội.
* Không tổ chức CQĐT trong Viện kiểm sát
Đề nghị trên xuất phát từ những lý do sau đây:
Thứ nhất: Về lý luận, việc tổ chức CQĐT ở Viện
kiểm sát là không phù hợp với quan điểm đổi mới
của Đảng ta về việc thu gọn đầu mối CQĐT. Mặt
khác, việc tổ chức CQĐT ở Viện kiểm sát thành một
hệ thống thì không thể: “Kết hợp chặt chẽ giữa trinh
sát với hoạt động của CQĐT” và như vậy khó có thể
phát huy được hiệu quả trong hoạt động điều tra. Hơn
nữa, theo Hiến pháp 1992 và Luật tổ chức Viện kiểm
sát 1992 (sửa đổi năm 1993) thì kiểm tra, giám sát
việc tuân theo Pháp luật và thực hành quyền công tố
là chức năng cơ bản của Viện kiểm sát. Vì vậy nên
tạo điều kiện thuận lợi cho Viện kiểm sát tập trung
sức để thực hiện tốt hai chức năng cơ bản này.
Việc tổ chức CQĐT của Viện kiểm sát đã phá vỡ
quan hệ tố tụng và không đảm bảo tính khách quan
điều tra.
Một nghịch lý khác từ thực tiễn là: tình hình tội phạm
những năm gần đây có xu hướng gia tăng, trong đó
có những tội thuộc thẩm quyền điều tra của CQĐT
của Viện kiểm sát nhưng kết quả hoạt động điều tra
của cơ quan này lại có xu hướng giảm. Mặt khác, từ
khi PLTCĐTHS được ban hành và xác định mô hình
CQĐT của Viện kiểm sát cho đến năm 1998 đã hơn
10 năm nhưng chúng ta chỉ mới thành lập được
khoảng 42(6) CQĐT của Viện kiểm sát cấp tỉnh.
Thực tế này có nhiều nguyên nhân, trong đó có một
nguyên nhân là không có nhu cầu về bộ máy của
CQĐT này.
Tuy nhiên, ở đây cần chú ý là một trong hai chức
năng cơ bản của Viện kiểm sát là thực hành quyền
công tố. Để thực hiện tốt chức năng cơ bản này, Viện
kiểm sát phải có quyền chỉ đạo, giám sát và hỗ trợ
các hoạt động điều tra. Bởi lẽ, quá trình điều tra
không hiệu quả, có nhiều vi phạm thì Viện kiểm sát
không đủ cơ sở và điều kiện để công tố được, vì vậy
nội dung các quy định tại các Điều 141, 142, 143,
144, BLTTHS cần quy định theo hướng khẳng định
Viện kiểm sát có quyền giám sát và chỉ đạo các hoạt
động điều tra, mà không chỉ dừng lại ở việc giám sát
các hoạt động điều tra như hiện nay.
II. THẨM QUYỀN CỦA CQĐT
Theo nội dung Điều 92 BLTTHS thì việc phân định
thẩm quyền điều tra của CQĐT dựa vào hai căn cứ:
- Thứ nhất là, thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân
dân hoặc toà án quân sự.
người thực hiện là cán bộ chiến sĩ an ninh nhân dân.
- CQĐT an ninh quân đội điều tra các tội phạm quy
định tại Chương XI, Chương XXIV và các tội quy
định tại Điều 322, 323, 327,328,334 BLHS.
- CQĐT thuộc Lực lượng Cảnh sát nhân dân điều tra
tất cả các tội phạm quy định tại các Chương từ
Chương XII đến Chương XXII BLHS, trừ các tội
thuộc thẩm quyền của CQĐT khác (như CQĐT an
ninh, CQĐT Viện kiểm sát …)
- CQĐT hình sự quân đội điều tra các tội quy định tại
các Chương từ chương XII đến Chương XXIII BLHS
trừ những trường hợp do CQĐT của Viện kiểm sát
quân sự điều tra.
- Đối với các tội phạm quy định tại các Điều 94 đến
97 BLHS (1985) thì việc phân công trách nhiệm điều
tra giữa CQĐT của Lực lượng Cảnh sát nhân dân và
Lực lượng An ninh nhân dân do Bộ trưởng Bộ Nội vụ
(nay là Bộ công an) quyết định. Còn trong quân đội
các tội phạm này do CQĐT an ninh quân đội điều tra.
Từ những nội dung quy định trên chúng tôi có một số
nhận xét sau đây:
Thứ nhất: Việc xác định thẩm quyền điều tra như
hiện nay là chưa rõ ràng, nhiều nội dung chưa được
quy định cụ thể, trong một số trường hợp chưa phù
hợp với thực tiễn điều tra. Chẳng hạn:
- Việc phân định thẩm quyền điều tra giữa các cấp
với nhau trong cùng hệ thống chỉ căn cứ vào thẩm
quyền xét xử của Tòa án. Tại Điều 9 đến Điều 12
PLTCĐTHS quy định: Cục điều tra của Lực lượng
Cảnh sát nhân dân và cục điều tra của Lực lượng An
nên việc tranh chấp về thẩm quyền điều tra là việc có
khả năng xảy ra. Trong khi đó BLTTHS cũng như
PLTCĐTHS lại chưa quy định hoặc có quy định
nhưng chưa thật cụ thể hoặc không phù hợp.
Thực tế điều tra cho thấy có những vụ án vừa thuộc
thẩm quyền điều tra của CQĐT thuộc Viện kiểm sát,
vừa thuộc thẩm quyền điều tra của CQĐT khác. Hoặc
có vụ án có nhiều bị can, có bị can thuộc thẩm quyền
điều tra của CQĐT trong quân đội, có bị can thuộc
thẩm quyền điều tra của CQĐT thuộc Lực lượng
Cảnh sát hay Lực lượng An ninh nhân dân. Về
nguyên tắc, nếu bị can thuộc thẩm quyền điều tra của
CQĐT trong quân đội thì phải chuyển nhưng khi
chuyển thì vụ án lại rất khó khăn cho công tác điều
tra và xử lý. Còn nếu chuyển toàn bộ vụ án thì lại
không thuộc thẩm quyền điều tra của CQĐT trong
quân đội… Ngay cả trong Lực lượng Cảnh sát nhân
dân, việc phân công giữa CQĐT và các cơ quan khác
cũng chưa cụ thể, có nhiều cơ quan khác của lực
lượng cảnh sát nhân dân “lấn sân” của CQĐT.