báo cáo nghiên cứu khoa học ''''một số nhận xét về nội dung chương trình phân môn tập đọc lớp 2, lớp 3 và phương pháp dạy học phù hợ'''' - Pdf 15

Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007
77
Một số nhận xét về nội dung chơng trình phân môn Tập
đọc lớp 2, lớp 3 và phơng pháp dạy học phù hợp

Nguyễn Đình Tuấn
(a)Tóm tắt. Bài viết này đi sâu tìm hiểu nội dung chơng trình phân môn Tập đọc
(ở sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2 và lớp 3), trong đó có văn bản hội thoại. Vận dụng
lý thuyết hội thoại, chúng tôi nêu lên cách dạy phù hợp: Dạy đọc cho học sinh luôn
gắn với ngữ cảnh; với nhân vật giao tiếp; với nội dung nghĩa của phát ngôn.

1. Đặt vấn đề
Tập đọc là một trong những phân
môn có vị trí quan trọng trong việc dạy
tiếng Việt ở trờng tiểu học, nó thể hiện
tính tích hợp cao trong rèn luyện các kỹ
năng nghe, nói, đọc, viết cho học sinh.
Tập đọc cùng với các phân môn nh:
Học vần, Tập viết là nhóm phân môn
khởi đầu giúp học sinh biết đọc, biết
viết để học tập tiếng Việt cũng nh các
môn học khác, nhằm chiếm lĩnh kho

trong thực hành giao tiếp. Trong cuộc
sống hàng ngày, ngời ta không chỉ đọc
các tác phẩm văn học mà còn phải đọc
nhiều loại văn bản khác, vì vậy sự có
mặt của nhiều loại văn bản đọc trong
phân môn Tập đọc là một yêu cầu cần
thiết. Quan điểm giao tiếp trong dạy
học Tập đọc còn đợc thể hiện ngay
trong từng bài đọc, đó là sự xuất hiện
khá nhiều văn bản đọc có lời thoại.
Trong giờ Tập đọc, học sinh chủ
yếu luyện đọc trơn, đọc hiểu và cả tập
nói, nghe. Việc thực hiện yêu cầu đọc
hiểu còn ở mức độ thấp. Học sinh học
xong bài cần nhớ nội dung vừa đọc và
kể lại, thuật lại nội dung đó. Với một số
bài có yêu cầu các em hiểu đựơc ý nghĩa
hiển ngôn của văn bản.
2.2. Nội dung chơng trình
ở lớp 2, mỗi tuần có 4 tiết Tập đọc.
Sách giáo khoa chia làm 15 đơn vị học,
mỗi đơn vị đợc thực hiện trong 2 tuần,

Nhận bài ngày 03/12/2006. Sửa chữa xong 01/2/2007.

Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007


điểm sau:
a. Thời lợng dành cho việc học
đọc các văn bản là văn xuôi nhiều hơn
thơ. Trong văn bản văn xuôi bài đọc có
lời thoại chiếm tỉ lệ khá lớn, ở lớp 2 cao
hơn lớp 3: ở lớp 2 là 59,1% và ở lớp 3 là
41,38%. Văn bản đọc có lời thoại gồm các
thể loại: truyện, báo chí, tản văn.
Truyện bao gồm những câu
chuyện nguyên bản hoặc những trích
đoạn tác phẩm (có thể điều chỉnh chút
ít cho phù hợp với dung lợng của tiết
học và yêu cầu rèn luyện kỹ năng tiếng
Việt cho học sinh), truyện thờng có cốt
truyện, nhân vật. Truyện bao gồm
truyện cổ dân gian (trong và ngoài
nớc), truyện dân gian do các nhà văn
sáng tác dành riêng cho trẻ em sau này,
trong đó có cả truyện đồng thoại - một
thể loại mang những đặc điểm hình
thức khá giống truyện ngụ ngôn.
Báo chí (còn gọi là văn bản
truyền thông) đợc dùng với mục đích
thông tin, tuyên truyền, phổ biến kiến
thức. Tuy nhiên, ở lớp 2, lớp 3, văn bản
báo đợc sử dụng chủ yếu với mục đích
phổ biến kiến thức. Văn bản báo chí có
lời thoại nh Một trờng Tiểu học vùng
cao; Ngời con của Tây Nguyên.
Tản văn (đợc phân biệt với
79
ràng, rành mạch, thể hiện đúng tình
cảm, thái độ của nhân vật, các tình tiết,
hình ảnh trong tất cả bài đọc. Tất
nhiên, trong các bài đọc có lời thoại, yêu
cầu này đợc thể hiện rõ nét hơn. Đồng
thời trong các bài đọc có lời thoại, tính
tích hợp liên phân môn trong rèn luyện
các kỹ năng cho học sinh cũng đợc bộc
lộ nhiều hơn. Và cũng qua các bài đọc có
lời thoại, các em đợc rèn luyện kỹ năng
đọc diễn cảm tốt hơn, đọc phân vai tốt
hơn.
d. Các câu hỏi tìm hiểu bài trong
SGK cũng đã định hớng và giúp các
em tìm hiểu nhân vật, cốt truyện của
bài. Đặc biệt, việc tìm hiểu các truyện
vui giúp các em rèn luyện óc tởng
tợng, khiếu hài hớc. ở lớp 2 hầu hết
các chủ điểm đều có truyện vui.
e. Các bài đọc có lời thoại trong
phân môn Tập đọc lớp 2, lớp 3 thể hiện
tính uyển chuyển, linh hoạt thích hợp
với nhu cầu và tâm lí lứa tuổi tiểu học.
Bên cạnh kênh chữ, SGK môn tiếng
Việt nói chung và phân môn Tập đọc
nói riêng rất quan tâm đến vai trò của
kênh hình. Để tăng tính hấp dẫn, kênh

thật, hay đợc h cấu, hoặc là những
loài vật đợc nhân hoá.
Về nhân vật thật, nhân vật xuất
hiện nhiều nhất là các em thiếu nhi,
học sinh, ông, bà, bố, mẹ. Tiếp đó, ta bắt
gặp nhân vật là thờng dân, viên quan,
ông vua, ngời làm đồ chơi, bác bán
kính, nhà bác học, bác sĩ. Tiếp theo,
hình ảnh Bác Hồ, anh bộ đội cũng là các
nhân vật có trong các văn bản đọc.
Về thế giới nhân vật thần linh,
ta bắt gặp các vị thần: Thần Chết, Thần
Đêm tối, Thần Gió, Thợng đế
Về thế giới các loài vật đợc
nhân hoá, ta bắt gặp: Hoa Giấy, Mít,
Chồn, Gà Rừng, Cò, Cuốc, Sói, Ngựa,
Lừa, Khỉ, Tôm, Cá, Cây cối,
Về nhân vật là các sự vật, hiện
tợng đợc nhân hoá ta bắt gặp: Đất,
Hồ Nớc, mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông,
Sự đa dạng của thế giới nhân vật
đã đa các em vào một thế giới muôn
màu, muôn vẻ, sống động và lí thú.
Điều này tạo cho học sinh hứng thú học
tập cao.
Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007


xung quanh cuộc sống, hoạt động lứa
tuổi của các em. Thông qua các bài đọc,
các nhân vật trong sách giáo khoa tiếng
Việt lớp 2, lớp 3 nói chung và trong văn
bản đọc có lời thoại nói riêng nhằm giáo
dục tình cảm gia đình gắn bó, giáo dục
tình yêu quê hơng đất nớc, mở rộng
hiểu biết cho các em về thế giới xung
quanh
Tóm lại, chơng trình tiếng Việt
lớp 2, lớp 3 nhằm đáp ứng mục tiêu rèn
luyện các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết
cho học sinh tiểu học. Mục tiêu rèn
luyện kỹ năng đọc đã đợc tập trung
dạy với nhiều loại văn bản đọc đa dạng,
phong phú về nội dung và thể loại, tạo
đợc nhu cầu và hứng thú học tập cho
học sinh. Chơng trình này cũng coi
trọng vai trò của viêc thực hành giao
tiếp trong dạy học Tập đọc. Đây chính
là cơ sở để phát triển năng lực sử dụng
tiếng Việt nói chung và phát triển kỹ
năng đọc cho học sinh tiểu học nói
riêng. Trên cơ sở thực tiễn đã khảo sát,
phân tích chơng trình và yêu cầu dạy
học của phân môn Tập đọc, chúng tôi đề
xuất phơng pháp dạy học đối với các
văn bản có lời thoại .
3. Vận dụng lý thuyết hội thoại
để dạy Tập đọc cho học sinh lớp 2,
81
đợc thể hiện mình. Để thoả mãn nhu
cầu ấy phải thông qua giao tiếp. Thông
qua các cuộc thoại với bạn bè, với thầy
cô, với ngời lớn mà dần các em khám
phá ra thế giới của mình. Bởi vậy, ngay
từ giai đoạn đầu các em phải đợc cung
cấp các nghi thức lời nói để các em
tham gia vào môi trờng giao tiếp theo
lứa tuổi. Câu là đơn vị tối thiểu để tham
gia giao tiếp. Do đặc điểm tâm sinh lí
mà việc dạy câu hội thoại chỉ nên dừng
ở những kiểu câu đơn giản (có trọng
điểm hỏi, yêu cầu, đề nghị rõ ràng,
ngắn gọn), gắn với những tình huống,
ngữ cảnh, nhân vật cụ thể. Đồng thời
các em phải đợc thực hành nhiều.
- Giai đoạn thứ hai là trẻ ở lứa tuổi
từ 10 đến 11 hoặc 12 tuổi, tơng ứng với
trẻ ở các lớp 4, 5. Trẻ ở giai đoạn này đã
biết tìm các dấu hiệu đặc trng cho sự
vật, biết phân biệt các sắc thái của chi
tiết để đi đến so sánh, tổng hợp. Trẻ đã
có khả năng tri giác sự vật nh một
chỉnh thể, có tính mục đích và phơng
hớng rõ ràng. Khi khái quát các em đã
bắt đầu biết dựa vào dấu hiệu bản chất
bên trong, những dấu hiệu chung để

khi đợc vào học ở trờng tiểu học trẻ
mới đợc học tiếng Việt một cách chính
qui.
Nh vậy, khi lên đến lớp 2, lớp 3
thì trẻ đã có một trình độ ngôn ngữ
nhất định, trình độ hiểu biết về câu của
học sinh đã phong phú hơn. Mặc dù
vậy, trẻ cũng mới chỉ biết dùng các câu
đơn giản nh câu có trạng ngữ chỉ địa
điểm (trên, dới, trong, ngoài) hay
câu có trạng ngữ chỉ thời gian (sáng,
tra, chiều, tối, hôm nay, ngày mai,
hôm qua) mà ít dùng câu có trạng
ngữ chỉ mục đích (vì, để,), chỉ điều
kiện (nếu, giá, giá mà,), chỉ nguyên
nhân (do, vì, bởi). Nhng một điều
khá thú vị là về mặt ngữ pháp, trẻ ở lứa
tuổi 7 - 8 tuổi có thể liên kết đợc nhiều
câu và đã biết sử dụng cả câu tỉnh lợc.
Qua những phân tích trên, ta thấy
trình độ ngôn ngữ của học sinh lớp 2,
lớp 3 đã phát triển và các em có đủ khả
năng để lĩnh hội tri thức về tiếng Việt
mà nhà trờng cung cấp, trong đó có cả
vấn đề về hội thoại. Điều đó cho phép
Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007


tr.33; Nắng phơng Nam, TV3, T1,
tr.94;) có thể là một khoảng nhỏ
hẹp nh: bến xe (Nhà bác học và bà cụ,
TV3, T2, tr.31); trờng, lớp học (Chiếc
bút mực, TV2, T1; Bím tóc đuôi Sam,
TV2, T1; Mẫu giấy vụn, TV2, T1);
nhà riêng (Câu chuyện bó đũa, TV2, T1;
Bán chó, TV2, T1) Chính cái không
gian này chi phối nhân vật sử dụng vốn
từ ngữ, cách vào đề, cách nói chuyện,
nội dung, cách giải quyết,
(1) Trong bài Ngời liên lạc nhỏ
(TV3, T1)
Nghe đằng trớc có tiếng hỏi:
- Bé con đi đâu thế?
Kim Đồng nói:
- Đón thầy mo về cúng cho mẹ
ốm.
Từ thầy mo cho ta thấy không
gian hội thoại ở đây là vùng miến núi
phía Bắc. Vì dân tộc Tày có thầy mo
chữa bệnh bằng cách cúng bái. Câu hỏi
với thái độ trịch thợng, nên ngời hỏi
nhận đợc câu đáp trống không. Câu
trao đọc với giọng trịch thợng, hống
hách. Câu đáp lại đọc sẵng giọng, láu
lỉnh.
(2) Trong bài Cậu bé thông minh
(TV3, T1)
Vua cho gọi vào, hỏi:

83
- à, Khánh. Thầy nhớ ra rồi.
Nhng hình nh hôm ấy thầy có phạt
em đâu!
Ngời học trò đã gợi cho thầy giáo
về một quãng thời gian trong quá khứ,
nó đợc thể hiện qua từ hôm ấy.
Giọng câu trao kể lể, hồi tởng. Giọng
câu đáp ngập ngừng, thắc mắc.
Thời gian đồng hiện là thời gian mà
lời nhân vật đợc hiện thực hoá trong
đó, hay nói cách khác, thời gian đồng
hiện là những khoảng thời gian cụ thể
để các hành động ngôn ngữ diễn ra
trong đó, cho phép câu nói đó có tính
hiện thực hay không hiện thực, đúng
hay sai. Nh vậy bất kì câu thoại nào
cũng đều có thời gian đồng hiện của nó.
Tơng ứng với mỗi không gian thì
có những cách đọc khác nhau: Không
gian là nhà riêng thì giọng đọc trầm
ấm, thân mật; không gian là lớp học, với
bạn bè thì giọng đọc suồng sã, thân
thiết, với thầy cô thì giọng đọc nghiêm
nghị, kính trọng; không gian là quán
ăn, bến xe thì giọng đọc bình dân, mộc
mạc.
Nh vậy, khi dạy câu hội thoại cho
học sinh giáo viên cần tính đến ngữ
cảnh của câu thoại, từ đó mới xác định

nh thế thôi.
Một lúc lâu, bỗng em nghe tiếng
anh Tuấn thì thào với mẹ:
- Mẹ ơi, mẹ dành hết tiền mua cái
áo ấy cho em Lan đi. Con không cần
thêm áo đâu.
Giọng mẹ trầm xuống:
- Năm nay trời lạnh lắm. Không có
áo ấm con sẽ ốm mất.
(Chiếc áo len, TV3, T1, tr. 20)
Trong các cặp thoại trên có ba vai
tham gia hội thoại: mẹ, con trai và con
gái. Khi tổ chức cho học sinh đọc giáo
viên phân vai nam thì bạn nam đọc, vai
nữ thì bạn nữ đọc. Còn nếu một em đọc
cho tất cả các vai thì giọng mẹ trầm, bối
rối, nghẹn ngào. Chuyển sang giọng con
gái thì nhõng nhẽo, vô t. Giọng con
trai thì đọc với giọng thủ thỉ, thân mật.
(5) Một em giơ tay xin nói:
- Tha Bác, ai ngoan thì đợc ăn kẹo,
ai không ngoan thì không đợc ạ!
Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007
84

ra nội dung đề nghị ở lời trao, nhân vật
bác đa ra nội dung phủ định lời đề
nghị ở lời đáp. Giọng của ngời trao là
của em thiếu nhi nên đọc cao giọng,
giọng thể hiện đợc sự khẩn khoản bày
tỏ lời đề nghị. Giọng của ngời đáp là
một ngời đứng tuổi giọng trầm, hơi
thấp có thoáng chút buồn trong nội
dung phủ định của mình.
b. Chọn từ xng hô phù hợp, đặt
mình trong mối quan hệ trao đáp qua
lại, tự định vị vị thế phát ngôn của
mình với nhân vật hội thoại.
(7) Em nhấc ống nghe lên, áp một
đầu vào tai:
- Alô! Cháu là Tờng, con mẹ Bình
nghe đây ạ.
Trong ống nghe vang lên một nụ
cời quen thuộc:
- Chào con. Bố đây mà. Hai mẹ con
có khoẻ không?
Tờng mừng quýnh lên
- Con chào bố. Con khoẻ lắm. Mẹ
cũng Bố thế nào ạ? Bao giờ bố về?
(Điện thoại, TV2, T1, tr. 98)
Lúc đầu do cha biết đợc vị thế
của mình nên nhân vật Tờng đã xng
là cháu, còn nhân vật bố đã biết vị thế
của mình nên xng là bố ngay. Và khi
biết đợc vị thế của mình nhân vật

Khỉ nghe vậy hết sức hoảng sợ.
Nhng rồi trấn tĩnh lại, nó bảo:
- Chuyện quan trọng vậy mà bạn
chẳng bảo trớc. Quả tim tôi để ở nhà.
Mau đa tôi về, tôi sẽ lấy tim dâng lên
vua của bạn.
Tới nơi, Khỉ đu vút lên cành cây,
mắng:
- Con vật bội bạc kia! Đi đi! Chẳng
ai thèm kết bạn với những kẻ giả dối
nh mi đâu.
(Quả tim khỉ, TV2, T2, tr.50)
Ban đầu vì muốn kết bạn (tạo lập
quan hệ) nên cả Khỉ và Cá Sấu đều
chọn từ xng hô là bạn/ tôi. Trong cặp
thoại này đọc giọng của Khỉ chân
thành, ôn tồn, đọc giọng của Cá Sấu
phụng phịu giả vờ. Sau đó Khỉ biết đợc
âm mu của Cá Sấu, nhng đang ở thế
nguy hiểm nên Khỉ phải chọn chiến lợc
giao tiếp mềm mỏng và giả vờ tin Cá Sấu
để nhằm thoát hiểm. Trong cặp thoại này
đọc giọng của Cá Sấu trơ tráo, cao giọng,
đọc giọng của Khỉ vẫn ân cần, thân thiết,
tự tin. Khi đã thoát hiểm, Khỉ không còn
xng hô bạn/ tôi nữa và lúc này Khỉ
đang ở trạng thái tâm lí tức giận nên đã
chửi mắng Cá Sấu và gọi nhân vật giao
tiếp với mình là con vật và mi để thể
hiện sự khinh bỉ, câu thoại này đọc với

vật có thái độ đay nghiến thì phải đọc
kéo dài, đay đả. Nếu nhân vật có thái
độ chê bài thì cần phải đọc kéo dài
giọng, nhấn giọng. Nếu nhân vật có thái
độ buồn rầu thì cần phải đọc kéo dài
giọng, hơ chậm với vẻ mặt buồn phù
hợp với giọng nói.
(9) Sói đến gần Ngựa, giả giọng
hiền lành, bảo:
- Bên xóm mời ta sang khám bệnh.
Ta đi ngang qua đây, nếu cậu có bệnh,
ta chữa giúp cho.
Ngựa lễ phép:
- Cảm ơn bác sĩ. Cháu đau chân
quá. Ông làm ơn chữa giúp cho. Hết bao
nhiêu tiền, cháu xin chịu.
(Bác sĩ Sói, TV2, T2, tr.41)
Đọc giọng của Sói hơi thấp, hơi kéo
dài và nhấn ở đại từ ta để thể hiện
đợc sự giả nhân, giả nghĩa. Giọng của
Ngựa thấp và chậm rãi thể hiện sự lễ
phép giả vờ, sự bình tĩnh.
Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007
86

thái độ của lời thoại nhân vật ảnh
hởng lớn đến việc thể hiện giọng đọc.
Bởi vậy khi dạy các lời thoại nhân vật
giáo viên cần lu ý khai thác.
3.3.3. Dạy câu hội thoại trong văn
bản đọc cần lu ý đến biểu hiện dáng vẻ
bên ngoài của nhân vật.
Dáng vẻ bề ngoài của nhân vật
nh: khoan thai, ung dung, từ tốn, hấp
tấp, vội vàng có ảnh hởng đến câu
thoại nên cách đọc cũng khác nhau.
(12) Biết Tuốt la lên:
- Tớ nhảy qua con cá chuối bao giờ?
- Nói cho vần thôi! - Mít giải thích.
(Mít làm thơ, TV2, T1, tr.36)
Lời của Biết Tuốt phải đọc to,
mạnh mẽ vì đây là câu la. Lời của Mít
thì phải đọc thấp và chậm rãi vì đây là
lời giải thích.
(13) Dọc đờng, Lừa mang nặng,
mệt quá, liền khẩn khoản xin với Ngựa:
- Chị Ngựa ơi! Chúng ta là bạn
đờng. Chị mang đỡ tôi với, dù chỉ chút
ít thôi cũng đợc. Tôi kiệt sức rồi.
Ngựa đáp:
- Thôi, việc ai ngời nấy lo. Tôi
không giúp chị đợc đâu.
(Lừa và Ngựa, TV3, T1 tr.57)
Dáng vẻ của Lừa là mệt mỏi, bởi
vậy không thể đọc với giọng cao và vang

- Sao chữ bố đẹp thế này mà thầy
còn chê?
Bố bảo:
- Đấy là do sau này bố tập viết rất
nhiều, chữ mới đợc nh vậy.
(Quyển sổ liên lạc, TV2, T2, tr.119)
Bày tỏ sự hiểu biết của nhân vật
hội thoại về các vấn đề văn hoá xã hội,
loại nội dung này thờng tồn tại ở kiểu
câu giải thích, câu tờng thuật, câu
thông báo, câu kể.
(15) Thấy con gái nói vậy, mẹ bối
rối:
- Cái áo của Hoà đắt bằng tiền cả
hai cái áo của anh em con đấy.
Lan phụng phịu:
- Nhng con chỉ muốn một chiếc áo
nh thế thôi.
(Chiếc áo len, TV3, T1, tr. 20)
Đa ra những hành vi nhằm xác
lập quan hệ xã hội có tính nghi thức lẫn
không nghi thức nhng đợc các thành
viên trong xã hội mặc nhiên thừa nhận,
loại nội dung này thờng tồn tại ở dạng
câu chào, câu cảm ơn, xin lỗi, chúc tụng,
mời mọc, xin phép, đa đẩy
(16) Thấy Tôm Càng ngó mình trân
trân, con vật nói:
- Chào bạn. Tôi là Cá Con.
- Chào Cá Con. Bạn cũng ở sông

học sinh cảm nhận nội dung cũng nh
đọc bài đợc tốt hơn. Với hành vi chất
vấn thì cần đọc nhấn ở nội dung chất
vấn và lên giọng cuối câu; hành vi giải
thích thì đọc hạ giọng cuối câu; hành vi
đề nghị, yêu cầu thì đọc lên giọng cuối
câu.
4. Kết luận
Tóm lại, khi dạy câu hội thoại
trong phân môn Tập đọc cho học sinh
lớp 2, lớp 3 cần tính đến đặc điểm nhận
thức của các em, đồng thời câu hội thoại
phải đợc đặt trong ngữ cảnh chung của
bài khi xét yếu tố ngữ nghĩa. Bên cạnh
đó nhân vật hội thoại cũng giữ một vai
trò quan trọng trong câu thoại vì qua
nhân vật ta biết đợc thái độ trao lời,
biết đợc mối quan hệ liên nhân giữa
các nhân vật, biết đợc mục đích trao
đáp của câu thoại.
Qua khảo sát 63 bài đọc có lời
thoại trong tiếng Việt lớp 2, lớp 3,
Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007
88

books for class 2, class 3 and some suggested suitable
teaching methods
The article goes into a deep study on the program content of readings in
Vietnamese books for Class 2 and Class 3, in which there are discourse-
conversations among people. Applying the theory of conversation, we propose some
suitable teaching methods in teaching readings for pupils: teaching reading should
be put in specific circumstances, in close connection with its interactants and
semantic meanings of the utterances. (a)
Cao học 13 Giáo dục Tiểu học, trờng đại học vinh.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status