Đề tài: Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam - Pdf 19

BÁO CÁO THỰC TẬP
Đề tài:
Giải pháp hạn chế rủi ro tín
dụng tại Ngân hàng Ngoại
thương Việt Nam
MỤC LỤC
B O C O TH C T PÁ Á Ự Ậ 1
ê tai: ̀ ̀Đ 1
Gi i pháp h n ch r i ro tín d ng t i Ngân h ng Ngo iả ạ ế ủ ụ ạ à ạ
th ng Vi t Namươ ệ 1
M C L CỤ Ụ 2
LỜI MỞ ĐẦU
Đất nước ta đang thực hiện công cuộc đổi mới chuyển từ nền kinh tế
tập trung quan liêu bao cấp sang vận động theo cơ chế thị trường có sự quản
lý của Nhà nước. Cơ chế thị trường đã tạo điều kiện phát triển cho mọi cá
nhân, mọi tổ chức kinh tế trong đó có ngành ngân hàng. Cùng với sự phát
triển chung đó của nền kinh tế hoạt động kinh doanh tiền tệ đã và đang đóng
một vai trò ngày càng quan trọng đối với sự phát triển kinh tế. Tuy nhiên
bên cạnh những thuận lợi mà kinh tế thị trường mang lại, hoạt động kinh
doanh ngân hàng cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức, đó là những
rủi ro mà ngân hàng phải gánh chịu trong quá trình hoạt động.
Rủi ro mà ngân hàng gặp phải trong quá trình kinh doanh rất đa dạng
như rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá trong đó rủi ro tín dụng
được coi là đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế thị trường hiện nay. Đây
là loại rủi ro thu hút được sự quan tâm của không chỉ các ngân hàng - tổ
chức kinh doanh tiền tệ mà cả các cơ quan quản lý nhà nước bởi vì nếu
không quản lý được nó thì hậu quả xảy ra là rất lớn. Và trong hoàn cảnh
kinh tế nước ta hiện nay – một nước đang phát triển với tiềm lực kinh tế
chưa cao, nguồn vốn ít thì sử dụng vốn làm sao vừa tránh được nguy cơ mất
vốn, vừa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế đang trở thành vấn đề cấp thiết.
Trong phạm vi đề tài: “Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân

nghiệp phải chấp nhận khi kinh doanh. Kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ –
tín dụng ngân hàng cũng phải chấp nhận điều đó. Và thực tế đã chứng minh
rằng không một ngành kinh doanh nào mà khả năng dẫn đến rủi ro lại lớn
như kinh doanh tiền tệ.
Tóm lại: rủi ro là những bất trắc xảy ra ngoài mong muốn của con
người. Trong kinh doanh rủi ro tồn tại khá phổ biến và rất phức tạp bởi vì
thực tiễn đã chứng minh rằng bất kì hoạt động kinh doanh nào đem lại lợi
nhuận đều có rủi ro, lợi nhuận càng lớn thì rủi ro càng cao.
1.1.2. Các loại rủi ro phổ biến trong hoạt động kinh doanh ngân
hàng
Rủi ro trong hoạt động ngân hàng: Cũng như bất kì ngành kinh doanh
nào khác, ngân hàng có thể gặp rủi ro và có thể bị mất vốn. Hơn nữa, ngân
hàng là một ngành kinh tế nhạy cảm, hoạt động của ngân hàng với bản chất
của nó, chịu ảnh hưởng của rất nhiều loại rủi ro. Bản thân người quản lý
ngân hàng và người lập chính sách cần biết và hiểu những rủi ro này để tìm
mọi cách hạn chế những đổ vỡ dễ gây thiệt hại, trước hết là đến ngân hàng
đó và sau đó là toàn bộ nền kinh tế. Trên thế giới, người ta đã phân ra nhiều
loại rủi ro trong hoạt động ngân hàng.
1.1.2.1. Rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra những tổn thất mà ngân hàng phải
chịu do khách hàng vay không trả đúng hạn, không trả, hoặc không trả đầy
đủ vốn và lãi. Khi thực hiện một hoạt động cho vay cụ thể, ngân hàng không
dự kiến là khoản cho vay đó sẽ bị tổn thất.Tuy nhiên những khoản cho vay
đó luôn hàm chứa rủi ro. Rủi ro tín dụng được xem là rủi ro lớn nhất trong
các loại rủi ro mà ngân hàng gặp phải, nó thường xuyên xảy ra và gây nên
hậu quả nặng nề nhất. Rủi ro tín dụng ngân hàng gắn liền với rủi ro của
khách hàng vay vốn. Tuy vậy thực tế cho thấy rủi ro tín dụng xảy ra còn vì
khách hàng cố ý không trả nợ gốc và lãi cho ngân hàng, có ý đồ chiếm dụng
vốn Rủi ro tín dụng xảy ra có thể làm tê liệt khả năng thanh toán của ngân
hàng, thậm chí đưa ngân hàng đến bờ vực phá sản. Chính vì vậy trong quá

kì hạn của tài sản và nguồn, qui mô và kì hạn của hợp đồng kì hạn
Quá trình chuyển hoá tài sản là một chức năng đặc biệt cơ bản của
ngân hàng. Quá trình chuyển hoá tài sản bao gồm việc mua các chứng khoán
sơ cấp, tức là sử dụng vốn; và phát hành các chứng khoán sơ cấp, tức là huy
động vốn. Kỳ hạn và độ thanh khoản của các chứng khoán sơ cấp trong
danh mục đầu tư thuộc tài sản có thường không cân xứng với các chứng
khoán thứ cấp thuộc tài sản nợ. Sự không cân xứng về kì hạn giữa tài sản có
và tài sản nợ làm cho ngân hàng phải chịu rủi ro về lãi suất.
Ngoài ra khi lãi suất thị trường thay đổi ngân hàng còn có thể gặp
phải rủi ro giảm giá trị tài sản. Như chúng ta đã biết, giá trị thị trường của tài
sản có hay tài sản nợ là dựa trên khái niệm giá trị hiện tại của tiền tệ. Do đó,
nếu lãi suất thị trường tăng lên thì mức chiết khấu giá trị tài sản cũng tăng
lên, do đó giá trị hiện tại của tài sản có và tài sản nợ giảm xuống và ngược
lại. Do đó, nếu kì hạn của tài sản có và tài sản nợ không cân xứng với nhau,
ví dụ tài sản có có kì hạn dài hơn tài sản nợ, thì khi lãi suất thị trường tăng,
giá trị của tài sản có sẽ giảm nhanh hơn và nhiều hơn so với sự giảm giá trị
của tài sản nợ. Rủi ro giảm giá trị của tài sản khi lãi suất thay đổi thuộc loại
rủi ro về lãi suất và có thể dẫn đến thiệt hại về tài sản của ngân hàng.
Ngân hàng có thể phòng ngừa rủi ro bằng cách làm cho các kỳ hạn
của tài sản có và tài sản nợ cân xứng nhau. Việc làm cho các kì hạn cân
xứng với nhau, một mặt, giảm được rủi ro lãi suất; mặt khác, lại làm giảm
khả năng sinh lời của ngân hàng, bởi lẽ nó làm giảm các cơ hội đầu tư vào
những lĩnh vực có rủi ro song khả năng sinh lời lớn.
1.1.2.4. Rủi ro thanh khoản
Rủi ro thanh khoản là tổn thất xảy ra cho ngân hàng khi nhu cầu thanh
khoản thực tế vượt quá khả năng thanh khoản dự kiến.
Rủi ro thanh khoản phát sinh khi người gửi tiền đồng thời có nhu cầu
rút tiền gửi ở ngân hàng ngay lập tức. Ngân hàng có thể phải đối mặt với rủi
ro thanh khoản, ví dụ như trong tình huống dân chúng mất lòng tin vào ngân
hàng, hoặc nhu cầu rút tiền có tính chất thời vụ mà ngân hàng không dự tính

một số hoạt động ngoại bảng được sử dụng tích cực vào việc phòng ngừa rủi
ro lãi suất, rủi ro ngoại hối và rủi ro tín dụng thì nếu việc quản trị điều
hành không hiệu quả hoặc không đánh giá đúng được tác dụng của các
nghiệp vụ ngoại bảng có thể dẫn đến những tổn thất to lớn.
1.1.2.6. Rủi ro công nghệ
Rủi ro công nghệ phát sinh khi những khoản đầu tư cho phát triển
công nghệ không tạo ra được khoản tiết kiệm trong chi phí như đã dự tính
khi mở rộng qui mô hoạt động. Tính không hiệu quả trong đầu tư công nghệ
của ngân hàng phát sinh trong trường hợp, ví dụ, dung lượng đầu tư quá lớn
dẫn đến công nghệ không sử dụng đến và hậu quả là tổ chức bộ máy trở nên
quan liêu kém hiệu quả; hoặc là qui mô hoạt động không được mở rộng,
mặc dù đã đầu tư công nghệ mới. Rủi ro về công nghệ có thể gây nên hậu
quả là khả năng cạnh tranh của ngân hàng giảm xuống đáng kể và nguyên
nhân tiềm ẩn của sự phá sản ngân hàng trong tương lai. Ngược lại, lợi ích từ
việc đầu tư công nghệ là tạo cho ngân hàng một sức bật quan trọng trong
cuộc cạnh tranh dữ dội trên thương trường và đồng thời cho phép ngân hàng
phát triển các sản phẩm mới, tiên tiến, hiện đại giúp cho ngân hàng tồn tại
và phát triển bền vững.
1.1.2.7. Rủi ro quốc gia và rủi ro khác
Những rủi ro khác bao gồm: thay đổi thuế đột ngột, ảnh hưởng của
chiến tranh làm cho các điều kiện trên thị trường tài chính thay đổi đột biến
không dự tính trước, sự sụp đổ đột ngột của thị trường chứng khoán, rủi ro
chộm cắp, lừa đảo
Cuối cùng phải kể đến các rủi ro bắt nguồn từ yếu tố kinh tế vĩ mô
như lạm phát gia tăng, sự biến động vô lối của giá cả hàng hoá, thất nghiệp
đều có ảnh hưởng đến sự biến động lãi suất, bộc lộ rủi ro tín dụng và rủi ro
thanh khoản.
1.1.3. Ảnh hưởng của rủi ro đối với hoạt động ngân hàng
Rủi ro gắn liền với hoạt động của ngân hàng thương mại, phản ánh
các tình huống bất thường xảy ra, có thể gây tổn thất cho ngân hàng. Khi tổn

dưới hình thức hiện vật hay tiền tệ, từ người sở hữu sang người sử dụng sau
đó hoàn trả với một lượng giá trị lớn hơn.
Khái niệm tín dụng trên đây thể hiện 3 mặt cơ bản:
+ Có sự chuyển giao quyền sử dụng một lượng giá trị từ người này
sang người khác.
+ Sự chuyển giao này mang tính chất tạm thời.
+ Khi hoàn lại lượng giá trị đã chuyển giao cho người sở hữu phải
kèm theo một lượng giá trị dôi thêm gọi là lợi tức.
* Với mục đích xem xét tín dụng như là một chức năng cơ bản của
ngân hàng thì tín dụng được hiểu như sau:
Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên
cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân,
doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản
cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận, bên đi
vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên vay khi đến
hạn thanh toán.
Bản chất của tín dụng ngân hàng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở
hoàn trả và có đặc trưng sau:
+ Tài sản giao dịch trong quan hệ tín dụng ngân hàng bao gồm hai
hình thức là cho vay (bằng tiền) và cho thuê (bất động sản và động sản).
+ Xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả, vì vậy người cho vay khi chuyển
giao tài sản cho người đi vay sử dụng phải có cơ sở để tin rằng người đi vay
sẽ trả đúng hạn. Đây là yếu tố rất cơ bản trong quản trị tín dụng.
+ Giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, hay
nói cách khác là người đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài vốn gốc.
+ Trong quan hệ tín dụng ngân hàng tiền vay được cấp trên cơ sở cam
kết hoàn trả vô điều kiện. Về khía cạnh pháp lý, những văn bản xác định
quan hệ tín dụng như hợp đồng tín dụng, khế ước thực chất là lệnh phiếu
(promissory note), trong đó bên đi vay cam kết hoàn trả vô điều kiện cho
bên cho vay khi đến hạn thanh toán.

dụng có thể được phân chia thành các loại sau:
 Cho vay chỉ có một kì hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay trả nợ một
lần khi đáo hạn.
 Cho vay có nhiều kì hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay trả góp.
 Cho vay trả nợ nhiều lần nhưng không có kỳ hạn nợ cụ thể mà tuỳ
khả năng tài chính của mình người đi vay có thể trả nợ bất cứ lúc nào.
e. Dựa vào phương thức cho vay – theo tiêu thức này, tín dụng có
thể chia thành các loại sau:
 Cho vay từng lần theo món: Đặc điểm của loại cho vay này là khách
hàng xin vay món nào thì phải làm hồ sơ xin vay món đó. Như vậy nếu
trong một quý khách hàng có bao nhiêu món vay, thì khách hàng phải làm
bấy nhiêu hồ sơ xin vay. Bộ phận tín dụng tiến hành phân tích hồ sơ xin vay
và xem xét cho vay đối với từng hồ sơ cụ thể.
Phạm vi áp dụng:
+ Khách hàng vay không thường xuyên.
+ Khách hàng vay thường xuyên nhưng chưa được ngân hàng tín
nhiệm cho áp dụng hạn mức tín dụng.
+ Thường áp dụng cho khoản vay dài hạn hoặc cho vay các dự án.
+ Thường yêu cầu khách hàng phải có đảm bảo.
 Cho vay theo hạn mức tín dụng: Đặc điểm cơ bản của loại cho vay
này là một hồ sơ xin vay dùng để xin vay cho nhiều món vay. Cụ thể khách
hàng nộp hồ sơ vay vốn một lần vào đầu quý, dù trong quý khách hàng có
nhiều món vay cũng chỉ cần làm một hồ sơ duy nhất. Ngân hàng tiến hành
phân tích tín dụng và nếu đồng ý cho vay, hai bên tiến hành kí kết hợp đồng
tín dụng, trong hợp đồng tín dụng ngân hàng sẽ xác định hạn mức tín dụng
cho khách hàng.
Phạm vi áp dụng: áp dụng cho khách hàng có nhu cầu vay vốn thường
xuyên và được ngân hàng tín nhiệm. Thường khi cho vay loại này ngân
hàng không yêu cầu bảo đảm tín dụng.
f. Dựa vào rủi ro tín dụng – theo tiêu thức này tín dụng có thể

tín dụng
- Khách hàng đi
vay cung cấp thông
tin
- Tiếp xúc, phổ biến
và hướng dẫn khách
hàng lập hồ sơ vay
vốn
- Hoàn thành bộ hồ
sơ để chuyển sang
giai đoạn sau.
Phân tích
tín dụng
- Hồ sơ đề nghị
vay từ giai đoạn
trước chuyển sang
- Các thông tin bổ
sung từ phỏng
vấn, hồ sơ lưu
trữ
- Tổ chức thẩm định
về các mặt tài chính
và phi tài chính do
các cá nhân hoặc bộ
phận thẩm định
thực hiện.
- Báo cáo kết quả
thẩm định để chuyển
sang bộ phận có
thẩm quyền để quyết

- Thẩm định các
chứng từ theo các
điều kiện của hợp
đồng tín dụng trước
khi phát tiền vay.
- Chuyển tiền vào
tài khoản tiền gửi
của khách hàng
hoặc chuyển trả
cho nhà cung cấp
theo yêu cầu của
khách hàng.
Giám sát
và thanh lý
tín dụng
- Các thông tin từ
nội bộ ngân hàng
- Các báo cáo tài
chính theo định kì
của khách hàng
- Các thông tin
khác.
- Phân tích hoạt
động tài khoản, báo
cáo tài chính, kiểm
tra mục đích sử
dụng vốn vay.
- Tái xét và xếp
hạng tín dụng.
- Thanh lý hợp đồng

thiệt hại có thể xảy ra. Mặt khác phân tích tín dụng còn quan tâm đến việc
kiểm tra tính chân thực của hồ sơ vay vốn mà khách hàng cung cấp, từ đó
nhận định về thái độ của khách hàng làm cơ sở quyết định cho vay.
c. Quyết định và ký hợp đồng tín dụng
Quyết định tín dụng là quyết định cho vay hoặc từ chối đối với một
hồ sơ vay vốn của khách hàng. Có hai loại sai lầm cơ bản thường gặp trong
khâu này:
+ Quyết định chấp thuận cho vay đối với một khách hàng không tốt.
+ Từ chối cho vay đối với một khách hàng tốt.
Cả hai loại sai lầm này đều dẫn đến thiệt hại đáng kể cho ngân hàng.
Loại sai lầm thứ nhất dễ dẫn đến thiệt hại do nợ quá hạn hoặc nợ không thể
thu hồi, tức là thiệt hại về tài chính. Loại sai lầm thứ hai dễ dẫn đến thiệt hại
về uy tín và mất cơ hội cho vay.
Nhằm hạn chế sai lầm, ngân hàng thường chú trọng: (1) thu thập và
xử lý thông tin một cách đầy đủ và chính xác làm cơ sở để ra quyết định, (2)
trao quyền quyết định cho một hội đồng tín dụng hoặc những người có năng
lực phân tích và phán quyết.
Cơ sở để ra quyết định tín dụng: trước hết dựa vào thông tin thu thập
và xử lý từ hồ sơ tín dụng, do giai đoạn trước chuyển sang. Kế đến, dựa vào
những thông tin khác hoặc thông tin cập nhật hoá có liên quan.
Quyền phán quyết tín dụng:Tuỳ theo qui mô vay lớn hay nhỏ mà
quyền phán quyết thường được trao cho một hội đồng tín dụng hay một cá
nhân phụ trách.
Sau khi ra quyết định tín dụng, kết quả có thể là chấp nhận hoặc từ
chối cho vay. Nếu chấp thuận cho vay, cán bộ tín dụng sẽ hướng dẫn khách
hàng ký kết hợp đồng tín dụng và làm các bước tiếp theo. Nếu từ chối cho
vay, ngân hàng sẽ có văn bản trả lời và giải thích lý do cho khách hàng được
rõ.
d. Giải ngân
Giải ngân là khâu tiếp theo sau khi hợp đồng tín dụng đã được ký kết.

trong những hình thức thu nợ sau:
+ Thu nợ gốc và lãi một lần khi đáo hạn.
+ Thu nợ gốc một lần khi đáo hạn và thu lãi theo định kỳ.
+ Thu nợ gốc và lãi theo nhiều kì hạn.
Nếu đến hạn trả nợ mà khách hàng không có khả năng trả nợ thì ngân
hàng có thể xem xét cho gia hạn nợ hoặc chuyển sang nợ quá hạn để sau này
có biện pháp xử lý thích hợp nhằm đảm bảo thu hồi nợ.
 Tái xét hợp đồng tín dụng
Thực chất là tiến hành phân tích tín dụng trong điều khoản tín dụng
đã được cấp nhằm mục tiêu đánh giá chất lượng tín dụng, phát hiện rủi ro để
có hướng xử lý kịp thời.
 Thanh lý hợp đồng tín dụng
Nếu hết thời hạn của hợp đồng tín dụng và khách hàng đã hoàn tất
nghĩa vụ trả nợ cả gốc và lãi thì ngân hàng và khách hàng làm thủ tục thanh
lý hợp đồng tín dụng, giải chấp tài sản nếu có và lưu hồ sơ vay vốn của
khách hàng vào kho lưu trữ.
1.2.2. Rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại
Rủi ro trong hoạt động tín dụng là đặc trưng nhất và dễ xảy ra nhất.
Hoạt động tín dụng là hoạt động tiêu biểu của hầu hết các ngân hàng, hoạt
động này đòi hỏi ngân hàng phải tìm mọi cách để kiểm soát được khả năng
trả nợ của khách hàng, ít nhất cũng là dự tính, phán đoán khả năng này.
Không phải bao giờ dự tính này cũng chính xác tuyệt đối và thời gian qua đi
thì khả năng phán đoán lại càng trở nên khó hơn. Người ta cho rằng rủi ro
chính mà ngân hàng phải đối mặt là rủi ro trong hoạt động tín dụng.
1.2.2.1. Thế nào là rủi ro tín dụng?
Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là khả năng xảy ra tổn thất
trong hoạt động tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả
năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết.
Rủi ro tín dụng được định nghĩa là khoản lỗ tiềm tàng vốn có được
tạo ra khi cấp tín dụng cho một khách hàng. Có nghĩa là khả năng khách

hàng. Trên thực tế, đôi khi các nghiệp vụ này thường không diễn ra như
mong muốn bởi vì xảy ra các rủi ro như:
- Rủi ro ứ đọng vốn: xảy ra khi vốn bị tồn đọng lớn không cho vay
hoặc đầu tư làm cho thu nhập của ngân hàng giảm sút.
Khi huy động vốn ngân hàng phải mất chi phí huy động do vậy nếu
khi xảy ra tình trạng mất cân đối giữa việc huy động và sử dụng vốn (lượng
vốn huy động lớn hơn sử dụng), điều này sẽ làm giảm lợi nhuận của ngân
hàng do lợi nhuận đem lại từ việc cho vay có thể không đủ bù đắp chi phí
hoạt động và lãi suất huy động vốn.
- Rủi ro thiếu vốn: xảy ra khi ngân hàng sử dụng vốn vượt quá mức
huy động được. Để bù đắp mức thiếu hụt này, ngân hàng phải đi vay vốn
của các ngân hàng khác hoặc ngân hàng trung ương với mức lãi suất cao
hơn bình thường, điều này làm giảm thu nhập của ngân hàng.
b. Rủi ro nợ quá hạn
Xảy ra khi đến hạn thanh toán mà người đi vay vẫn chưa trả nợ đầy
đủ thì khoản cho vay đó chuyển sang nợ quá hạn.
Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi
đã quá hạn. Nợ quá hạn trong kinh doanh ngân hàng là hiện tượng khách
hàng không có khả năng trả nợ đúng hạn như đã cam kết trong hợp đồng tín
dụng.
Tuỳ theo những tiêu thức khác nhau, người ta phân nợ quá hạn thành:
 Căn cứ vào thời gian quá hạn
- Nợ quá hạn dưới 90 ngày.
- Nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày.
- Nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày.
- Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày.
 Căn cứ vào khả năng thu hồi
- Nợ quá hạn thông thường đòi đủ 100%.
- Nợ quá hạn khó đòi.
- Nợ quá hạn không có khả năng thu hồi.

có khả năng trả nợ cho ngân hàng đúng hạn, đủ gốc và lãi. Tuy nhiên, khi
tác động của những nguyên nhân bất khả kháng đối với người vay là nặng
nề, khả năng trả nợ của họ bị suy giảm.
b. Nguyên nhân từ phía khách hàng
 Khách hàng sử dụng vốn sai mục đích
Khách hàng sử dụng vốn vay ngân hàng không đúng với mục đích đã
đưa ra trong đơn xin vay vốn. Khách hàng có thể sử dụng vốn vào kinh
doanh không đúng đối tượng, sử dụng vốn ngắn hạn để đầu tư trung và dài
hạn, vào tài sản cố định, hay sử dụng tiền vào hoạt động kinh doanh khác và
gặp phải rủi ro.
 Khả năng quản lý kinh doanh của khách hàng kém
Do trình độ tổ chức, quản lý của giám đốc còn yếu kém, thiếu kinh
nghiệm kinh doanh nên có những tính toán không hợp lý khi lập dự án.
Trình độ của người quản lý có hạn nên không nhanh nhạy trước những biến
động và xu hướng phát triển của thị trường do đó không nắm bắt được thời
cơ và luôn bị rơi vào thế bị động. Kết quả là doanh nghiệp không phát triển
được, dự án thất bại và mất khả năng thanh toán cho ngân hàng.
 Khả năng kém thích nghi với môi trường cạnh tranh
Để tồn tại trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải không
ngừng cạnh tranh. Nếu doanh nghiệp nào thắng trong cạnh tranh thì tồn tại,
còn không doanh nghiệp sẽ bị thua lỗ và phá sản. Nếu doanh nghiệp không
có khả năng thích nghi với sự thường xuyên thay đổi của môi trường thì sẽ
bị đào thải ra khỏi cuộc cạnh tranh và khi đó khả năng trả đầy đủ vốn vay
cho ngân hàng của doanh nghiệp là rất thấp.
 Khách hàng cố tình lừa đảo tiền của ngân hàng
Khách hàng cung cấp những thông tin sai lệch cho ngân hàng, lừa đảo
để được vay vốn. Sau khi được vay vốn thì sử dụng sai mục đích dẫn đến
thua lỗ không có khả năng hoàn trả ngân hàng.
Ngoài ra, một số khách hàng vay vốn của ngân hàng khi đến hạn mặc
dù có khả năng thanh toán nhưng lại không muốn và không chịu trả nợ cho

thống đo lường, phân tán rủi ro theo từng loại khách hàng. Hệ thống kiểm
soát chưa phát huy hết tác dụng, chưa có sự giám sát chặt chẽ đối với các
khoản đã cho vay, không kịp thời chấn chỉnh những sai sót trong hoạt động
cấp tín dụng.
d. Các nguyên nhân khác
 Thông tin không cân xứng
Trên thị trường tài chính, khi có một giao dịch mà trong đó một bên
không biết rõ đầy đủ những thông tin mà họ cần biết về bên kia thì được gọi
là thông tin không cân xứng. Việc thiếu thông tin cũng là nguyên nhân gây
ra sự lựa chọn đối nghịch trước khi cuộc giao dịch diễn ra và rủi ro đạo đức
sau cuộc giao dịch đó.
+ Chọn lựa đối nghịch xảy ra khi người đi vay có khả năng không trả
được nợ, gây rủi ro cho ngân hàng lại là người tích cực tìm vay nhất bằng
mọi cách nên có nhiều khả năng được chọn nhất. Điều này dẫn đến khoản
vay sẽ được cấp cho trường hợp có rủi ro.
+ Rủi ro do các thông tin không cân xứng tạo ra sau khi diễn ra các
giao dịch là loại rủi ro người cho vay phải gánh chịu khi người đi vay không
muốn trả nợ. Rủi ro này được gọi là rủi ro đạo đức.
 Môi trường kinh tế – các chính sách kinh tế vĩ mô của chính phủ.
- Hệ thống hành lang pháp lý của Nhà nước chưa đầy đủ, thiếu đồng
bộ, không rõ ràng sẽ tạo kẽ hở để người vay lợi dụng chiếm vốn và gây thiệt
hại tới ngân hàng.
- Hoạt động của doanh nghiệp và ngân hàng đều chịu ảnh hưởng của
chính sách kinh tế vĩ mô của Chính phủ. Vì vậy, bất kì một sự thay đổi nhỏ
nào trong chính sách (ví dụ như: chính sách tài chính- tiền tệ, chính sách
thuế ) đều có thể gây ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực tới việc kinh doanh
của ngân hàng.
1.2.2.4. Các chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng
Tuy rủi ro tín dụng là khách quan, song ngân hàng phải quản lý rủi ro
tín dụng nhằm hạn chế đến mức thấp nhất các tổn thất có thể xảy ra. Từ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status