27
CHƯƠNG IV
KỸ NĂNG THUYẾT TRÌNH VÀ ĐIỀU KHIỂN CUỘC HỌP I. ĐẶT VẤN ĐỀ.
Tại sao phải nghiên cứu thuyết trình và điều khiển cuộc họp ?
II. KỸ NĂNG THUYẾT TRÌNH.
1. Các bước chuẩn bò cho việc thuyết trình.
2. Thuyết trình.
III. NHỮNG HÌNH THỨC HỘP HỌP CƠ BẢN.
1. Cung cấp thông tin, họp phổ biến thông tin từ trên xuống.
2. Tiếp nhân thông tin, thu nhân thông tin từ dưới lên.
3. Tìm giải pháp cho một vấn đề.
4. Ra một quyết đònh tiến đến hành động.
5. Hiểu rõ sự quan hệ bên trong nhóm.
IV. CHUẨN BỊ CHO CUỘC HỌP.
1. Chuẩn bò mục tiêu cuộc họp.
2. Chuẩn bò cho cá nhân người chủ trì.
3. Chuẩn bò thành phần tham dự.
4. Chuẩn bò cho các tham dự viên.
5. Chuẩn bò cơ sở vật chấut cho cuộc họp.
V. VAI TRÒ NGƯỜI CHỦ TRÌ.
1. Những chức năng đảm đương của người chủ trì.
2. Kỹ thuật điều hành cuộc họp của người chủ trì.
VI. NHỮNG YẾU TỐ TÂM LÝ CỦA CÁC THÀNH VIÊN TRONG NHIÓM
ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÁCH ĐIỀU HÀNH CUỘC HỌP.
1. Trạng thái tình cảm( nội tâm) của tham dự viên.
2. Các điểm tương đồng của tham dự viên.
3. Sự tương tác của tham dự viên.
4. Sự nắm bắt các thông tin của tham dự viên.
dù có kiến thức cao đến đâu cũng không làm cho người khác hiểu và thuyết
phục được người khác.
- Bạn sẽ là nhà quản lý kinh doanh, nhà điều hành, nhà khoa học hay một
chuyên gia v.v…Bạn phải thường xuyên tham dự các cuộc họp, hội nghò, hội
thảo và bạn phải trình bày báo cáo trước đám đông. Đừng bao giờ bạn lúng
túng khi bò “Đột kích “ bất ngờ .Nếu bạn nói năng tốt bạn sẽ tô đẹp hình ảnh
nâng cao uy tín và vò thế của mình đồng thời cũng giành được niềm tin và sự
kính trọng của mọi người.
- Giống với thuyết trình, để điều khiển cuộc họp thì người tổ chức trước tiên
cũng phải trình bày báo cáo một vấn đề trước tập thể để mọi người nắm bắt
vấn đề.Chính các cuộc họp này là một trong các cách điều hành cơ quan hay
đơn vò trong quá trình hoạt động hiện nay.
- Điều khiển cuộc họp còn đòi hỏi người chủ trì phải luôn theo sát, nắm bắt
sự dóen biến các tình huống, phải có kỹ thuật điều hành, nhạy bén, sáng tạo
và luôn tính trung lập với mọi người.
- Buổi họp phải tạo cho người tham dự nắm bắt được nội dung, nhận biết các
thông tin cần thiết, Người tham dự cần được bàn bạc trao đổi, tham gia
đóng góp ý kiến của mình để tìm giải pháp tạo niềm tin và thuận lợi trong
công tác.
- Việc điều hành các cuộc họp không phải do tuỳ hứng, nếu không chuẩn bò
tốt sẽ tạo cho người tham dự sự thất vọng, gia tăng sự bực bội, ảnh hưởng
đến tâm lý và tình cảm.
Do vậy vai trò của người hướng dẫn và chủ trì buổi họp hết sức quan trọng,
phải làm cho người tham dự hào hứng và thấy hiệu quả trong cuộc họp.
II. KỸ NĂNG THUYẾT TRÌNH.
1. Các bước chuẩn bò thuyết trình.
- Để chuẩn bò thuyết trình, đòi hỏi người thuyết trình phải có và nắm
vững một vốn kiến thức sâu rộng, một lượng thông tin phong phú vì chủ đề
sẽ trình bày.
2. Thuyết trình.
Đứng trước diễn đàn đòi hỏi người thuyết trình phải bình tónh, tự tin, chủ
động và sáng tạo trong ứng xử. Khi thuyết trình cần chú ý một số vấn đề.
a) Ngôn ngữ – ngọai hình.
Với diên mạo và vóc dáng của người thuyết trình là yếu tố đầu tiên tạo
ấn tượng sâu sắc cho thính giả , trang phục gọn gàng , lòch sự , nét mặt tươi
vui và hơi mỉm cười cùng với tư thế và cử chỉ mạnh dạn sẽ tạo mối thiện
cảm và quan hệ thân tình với mọi người. Nếu ăn mặc chểnh mảng, tóc tai
không gọn gàng …thì chỉ làm cho mọi người khó chòu, người nghe sẽ cho
là bạn coi thường họ.
Khi bạn đã thu hút được sự chú ý và gây được thiện cảm của thính giả thì
sự thành công đã nằm trong tầm tay của bạn.
- Tư thế.
+ Khi được mời lên thuyết trình, bạn nên bước ra chững chạc, không
quá nhanh hoặc quá chậm và đứng trước bục thuyết trình một cách
thỏai mái, Đừng nhìn xuống sàn và cũng không ngó lên trần mà nên
đưa mắt quan sát vòng một lượt qua thính giả tạo ra sự giao lưu tình
cảm đầu tiên đối với họ.
+ Đặt bài chẩn bò thuyết trình lên bàn, hai tay buông xuôi thanh thản
tự nhiên, Không bồn chồn. hồi hộp hãy cố gắng thở đều đặn, thở sâu
nhưng nhẹ nhàng.
+ Điều chỉnh khỏang cách MICRÔ không gần hoặc không quá xa
(khỏang 20 – 25 mm) để bảo đảm âm phát ra vừa đủ. Bạn có thể hồi
30
hộp thậm chí tim đập mạnh nhưng không sao, đó là chuyên bình
thường.
+ Khi thuyết trình ( khi nói ) thỉnh thỏang dùng tay làm các cử chỉ
nhằm minh họa diễn đạt các ý của mình nhưng lưu ý không vung mạnh
hoặc múa may thái quá khiến mình trở thành “ Anh hề vụng dại “.
Sau vài phút thuyết trình bạn sẽ thấy tự tin, hòa nhập được với khung
+ Không nói quá nhanh hoặc quá chậm, tốc độ trung bình từ 125 – 140
từ/phút.
+ Thay đổi âm lượng, nhòp độ, âm điệu của giọng nói cho phù hợp với
bối cảnh đây là điều cần thiết để truyền tải thông điệp của bạn đến thính
giả. Nói đều đều dễ làm cho thính giả buồn chán và dễ ngủ gật.
+ Tránh nói giọng ồm ồm, ề à, nên lấy hơi trong cổ họng để có giọng
nói trầm mà vang xa.
+ Cố gắng không dùng những từ đệm ,những mẫu từ vô nghóa như :”
cái “; “ ấy thế là “; “ đâm ra là “; “hóa ra là “; “ coi như là “; “ nói thật
chứ “ v.v…Đây là một cố tật khó chữa cần rèn luyện và vứt bỏ chúng.
c) Sự đồng cảm của thính giả.
31
- Người thuyết trình cần nhìn khắp hội trường quan sát để ước lượng tuổi
tác, giới tính cách trang phục và mối quan tâm của thính giả, xem dây có
phải là một tập thể hăng say chờ đợi nghe và tiếp thu bài nói hay chỉ là
tốp người không mấy thân thiện, rầu ró . ủ dột vì phải cưỡng bách đến ngồi
đây. Ta cần phải phá vỡ hàng rào ngăn cách.
- Trực giác nhạy bén, lương tri sáng suốt là hai điều cần thiết để trở thành
diễn giả thông minh, bạn cần vận dụng để chọn cách tiếp cận thích hợp
với cử tọa. Cần truyền đạt những điều mà cử tọa quan tâm , đôi lúc cần
thức tỉnh họ bằng những chuyện vui , chuyên vui này có liên quan đến nội
dung bạn đang đề cập là tuyệt vời nhất vì nó giúp cho cử tọa mau chóng
đồng tình với bạn khi họ đã từng được nghe kể chuyện đó.
- Một điều cũng không kém phần quan trọng là người thuyết trình phải
có niềm say mê với bài nói của mình, từ đó họ có khả năng sáng tạo,
cảm hóa và quyến rũ người nghe.
Một quy luật của đạo lý thuyết phục nêu lên rằng:”
Con đường tiến
vào trí não một người đi qua trái tim họ “.
d) Kế họach trình bày.
- Họp chức năng: trong trường hợp cuộc họp dự đònh xảy ra bình thường
và thường xuyên của một cơ quan. Ví dụ: họp Quốc hội, Hội đồng quản
trò, họp giao ban của Ban giám đốc v.v…
Ta có các hình thức họp sau:
1. Cung cấp thông tin.
Họp để phổ biến thông tin từ trên xuống: Một người truyền đạt các
thông tin cho một nhóm người. a) Không phản hồi.
Không có sự đối thoại, những người tham dự không phát biểu ý kiến,
không trình bày tình cảm của mình.
Ví dụ:
họp truyền các mệnh lệnh, các quân lệnh…
b) Có phản hồi.
Sau khi diễn giả trình bày các thông tin, những người tham dự được đặt
câu hỏi, cho ý kiến thảo luận.
Từ giai đoạn trình bày đến giai đoạn đối chất là cả thời gian gay cấn,
người thuyết trình khi đó trở thành người hướng dẫn.
2. Họp thu nhận thông tin.
Tập hợp thông tin từ dưới lên.
Người điều hành sẽ tiếp nhận thông tin đối với những người đã tiếp xúc
thực tế. Do vậy họ có thể nắm bắt những gì xảy ra trên hiện trường trước khi
đi đến một quyết đònh.
3. Họp tìm kiếm giải pháp cho một vấn đề.
Những cuộc họp loại này rất đa dạng. Ta có thể kể ra các trường hợp hay
gặp nhất trong các tổ chức.
a) Họp – bàn luận (hội họp bàn luận).
Tập thể tranh luận về một đề tài đặc biệt, nhằm đưa ra một hay nhiều
giải pháp.
chia thành các nhóm nhỏ (6 người). Mỗi tiểu nhóm này sẽ bàn bạc với
nhau dưới sự hướng dẫn của một người chủ trì (trong vòng 6 phút hay
nhiều hơn )và chỉ đònh một báo cáo viên trình bày những giải pháp mà
tiểu nhóm đã tìm ra trước tập thể hội nghò.
4. Họp ra quyết đònh tiến đến hành động.
a) Họp để lấy quyết đònh.
Việc này tiến hành qua bốn giai đoạn.
- Đưa ra các sự kiện (giai đoạn cung cấp thông tin).
- Thu thập các ý kiến dựa trên các sự kiện (giai đoạn bàn bạc).
- Tìm kiếm các giải pháp (giai đoạn sáng tạo).
- Ra quyết đònh (giai đoạn lựa chọn).
b) Họp có tính chất chiến lược.
Đây là loại họp trong đó các nhóm có quyền lợi và ý tưởng trái ngược
nhau .Mỗi nhóm tìm cách chiếm được ưu thế tối đa đối với các nhóm
khác. Mỗi nhóm do một người lãnh đạo có nhiệm vụ bảo tồn, duy trì
được sự nhất quán của nhóm mình và tìm cách chia rẽ nội bộ phía đối
thủ.
5. Họp để hiểu rõ sự quan hệ bên trong nhóm.
Các nhà tâm lý và xã hội hay những người có kinh nghiệm khuyến khích
họp các nhóm gặp cùng vấn đề để thông cảm và giúp đỡ nhau.Muốn vậy
ngay trong nhóm cần có.
a) Động lực của nhóm.
Mục đích là làm cho tham dự viên nhạy cảm với hoạt động của tập thể
và tìm các biện pháp để giải quyết các vấn đề được đặt ra cho tập thể.
Mỗi người cần phải biết mình làm thế nào để mọi người hiểu mình và
mình hiểu người khác. Buổi họp có thể kéo dài nhiều ngày, mà nội dung
là hoàn toàn tự do với mục đích là làm rõ những hiện tượng, những vấn
đề của nhóm.
b) Phân tích cơ chế.
34
đoạn).
- Chuẩn bò một chương trình tranh luận, trao đổi, bàn bạc và đònh thời gian
cho từng mục.
- Dự đoán những phản ứng của tham dự viên, những ý kiến tán thành và
ngược lại.
- Biết tạo hào hứng cho tập thể.
- Ghi chú những quan điểm quan trọng nhất, cần tập trung nhấn mạnh và
suy nghó về những câu hỏi mà các thành viên có thể nêu lên cũng như
những dự kiến giải pháp đưa ra.Trường hợp cần thiết nên có một số tài
liệu tham khảo và phải chuẩn bò sẵn sàng cho từng tham dự viên.
3. Thành phần tham dự.
Người chủ trì cần loại trừ tất cả các rủi ro về một cuộc họp vô bổ, nhất là
thiếu sự tham gia của các thành viên, người hướng dẫn cần xem xét những
người tham dự có đáp ứng các câu hỏi sau không:
- Họ có thành thạo đối với đề tài này không?
35
- Họ có quan tâm gì đến vấn đề không?
- Họ có sẵn sàng can dự vào vấn đề không?
- Họ có khả năng làm việc tập thể không? (khả năng lắng nghe và giao
tiếp).
4. Sự chuẩn bò của người tham dự.
a) Mục đích của sự chuẩn bò sẽ cho phép.
- Tránh những hiểu lầm lúc khởi đầu buổi họp.
- Mỗi người tham dự có thể suy nghó trườc về vấn đề được đặt ra.
b) Người chủ trì phải gưi đến mỗi người tham dự:
- Một thư mời ghi rõ thời gian, giờ, ngày, tháng và đòa điểm nơi xảy ra
cuộc họp.
- Chương trình nghò sự phải rõ ràng và chi tiết cùng với những đề nghò
tham gia của tham dự viên.
Chức năng tạo điều kiện thuận lợi gắn liền chủ yếu với kế hoạch,
với các phương tiện và các phương pháp làm việc.
36
Người chủ trì chuẩn bò và giới thiệu trước buổi họp những mục tiêu,
kế hoạch chương trình thảo luận, tiến độ của buổi họp, các quy đònh
cần tuân thủ phải tuân thủ … hướng dẫn cả nhóm đi đúng hướng
tránh những nhầm lẫn đi lạc đề, tạo thuận lợi cho các tham dự viên
nêu cảm nghó của mình, tập trung vào vấn đề, đừng nói chuyện
phiếm, bảo đảm những điều được bàn bạc là của mọi người. Phải làm
sao cho mọi nguồn lực của tham dự viên được khai thác tối đa.
c) Chức năng điều hòa.
Người chủ trì làm sáng tỏ vấn đề - tạo mối liên kết giữa các tham
dự viên:
Người chủ trì phải tính đến trạng thái tâm lý và tính dễ xúc cảm
của tham dự viên cũng như những liên hệ riêng tư giữa họ với nhau.
Các yếu tố khác nhau này có thể là nguồn gốc của các sự bế tắc.
Chức năng điều hoà sẽ làm liên kết vai trò cá nhân, tạo sự hiểu
biết giữa các tham dự viên và loại bỏ các sự đối nghòch nhau tạm thời
nếu có.
Đối với người chủ trì, điều hoà hoạt động tập thể là giúp đỡ tập
thể vượt qua những trở ngại tâm lý mà tập thể đối đầu: sự căng thẳng,
gay cấn. Anh ta cần tìm hiểu những nguyên nhân của những căng
thẳng, bế tắc này. Khi chức năng điều hoà được bảo đảm thì tập thể
sẽ làm việc và tiến triển trong bầu không khí hoà hợp và tôn trọng
lẫn nhau.
2. Các kỹ thuật áp dụng của người chủ trì.
a) Trình bày lại.
d) Các kiểu tạo sinh khí buổi họp.
Trong việc điều hành hội họp, người ta cũng tìm thấy các đường nét
chính, các kiểu tạo sinh khí cho buổi họp mà chúng ta thường gặp nơi
những người hướng dẫn các buổi đối thoại.
Họ có thể can thiệp vào buổi họp về nội dung cũng như hình thức để
làm cho buổi họp trở nên sinh động và thuận lợi. Người ta thấy rằng chức
năng chính của người chủ trì buổi họp là chức năng tạo điều kiện thuận
lợi cho các tham dự viên (làm cho các tham dự viên phát biểu)
e) Những thái độ có thể có của người chủ trì.
Trong các buổi họp mang tính chất đối thoại, thường cá nhân người
chủ trì có thể biểu hiện nhiều thái độ, các chuyên gia tâm lý phân biệt
khoảng 30 thái độ khác nhau, các thái độ thường gặp là
:
- p đặt.
Thái độ có tính chất giáo huấn nhằm nói với tập thể những gì phải
làm.Thái độ này làm tăng sự lệ thuộc của tập thể với người chủ trì. Tuy
nhiên nó có thể dẫn đến sự chống đối của tập thể. Thái độ này thường
biểu hiện ở: “Người lãnh đạo”, “Chuyên gia”, “Người truyền giáo”,
“Huấn luyện viên”, “Kẻ thống trò”
- Điều tra:
Thái độ này có mục đích làm sáng tỏ cuộc tranh luận bằng cách đưa ra
những câu hỏi, nhất là những câu hỏi mở. Thái độ này thường biểu hiện
ở: “Người điều tra làm rõ”
- Đánh giá.
Người chủ trì luôn nhận xét, phê phán những gì tổ, nhóm đã nói và
làm. Thái độ này cản trở sức sáng tạo của tập thể bởi vì nó gia tăng sự lệ
thuộc của tổ, nhóm với người chủ trì, vì sợ bò phê bình. Các thành viên
của tổ, nhóm sẽ đáp ứng lại thái độ này theo hai cách: hoặc rút lui hoặc
kháng cự lại.
- Nâng đỡ (ủng hộ).
và thể hiện một tình cảm tích cực đối với nhóm và các buổi họp.
- Họ cũng sợ những người khác đe dọa sự tự do của mình và họ tìm mọi
cách thoát khỏi sự lo sợ này và cả nhóm cũng vậy.Tình trạng này làm
xấu đi sự hợp tác và làm cản trở việc giải quyết thẳng thắn các vấn đề.
Điều này thường dẫn đến trong các nhóm sự lưỡng lự giữa hai thái độ
đối với người chủ trì, có thể gây ra:
+ Hoặc là họ giao cho người chủ trì quyết đònh những gì phải thực hiện
(sự lệ thuộc)
+ Hoặc là ép buộc người chủ trì nhận lấy trách nhiệm đối với mọi khó
khăn (tìm vật tế thần → đổ trách nhiệm cho người khác).
2. Các điểm tương đồng.
Nó xuất hiện hay tái hiện một cách nhanh chóng trong buổi họp. Nó được
hình thành dựa trên sự thiện cảm và có thể làm phát sinh sự phức tạp cùng
với các ưu nhược điểm (do các thành viên thường trao đổi riêng). Sự thân
ái này hình thành dựa trên sự giống nhau về cá tính, về quyền lợi của các
bên liên quan.
3. Sự tương tác.
Sự tương tác xảy ra khi: hành động của một thành viên tác động như là
một tác nhân kích thích hoặc gây ra phản ứng của một thành viên khác.
39
Xuất phát từ sự không nhất trí về quan điểm hoặc quan hệ giữa các tham
dự viên.
4. Thông tin.
Sự sai lệch thông tin có thể bắt nguồn từ hai nguyên nhân:
- Sự thiếu thông tin: thông tin không thu nhận được.
+ Nó có thể do người phát tin: anh ta không thể trình bày trước tập thể
những gì anh ta cảm nhận hay biết được vì những lý do trí tuệ, tình
cảm, quan hệ giao tiếp (có sự hiện diện của sếp chăûng hạn).
+ Nó có thể do người tiếp nhận tin: họ không thể hiểu được thông tin
hay họ không chú ý quan tâm chúng (người ta chỉ nghe những gì người
họp và kéo dài trong một thời gian hạn đònh, có thể tiến hành qua các
giai đoạn sau:
a) Trình bày vấn đề.
b) Giải thích các sự kiện.
c) Duy trì sự bàn luận về đề tài
40
d) Tổng hợp và lựa chọn
e) Bàn bạc về các hậu quả của sự lựa chọn
f) Chọn quyết đònh sau cùng
2. Họp bàn dự án.
Sự tìm kiếm các ý tưởng mới trong một tổ chức ,căn cứ trên sự kêu gọi
óc sáng tạo và đổi mới của mọi thành viên đưa ra các phương án, để cuối
cùng đi đến quyết đònh thực hiện dự án nào trong số các dự án đã nêu ra.
Các tiêu chuẩn đánh giá phải được xác đònh bởi chính tập thể đó, nó
tùy vào mục tiêu muốn đạt. Xét trường hợp của 5 dự án A, B, C, D, E
được đánh giá theo các tiêu chuẩn sau: tính khả thi, tính hiện thực, tính
đặc trưng, tính kinh tế, ý thích chung …
Ta thành lập bảng sau:
Các dự án
Tiêu
chuẩn
A B C D E
Khả thi
Thực tế
bằng một thấy”.
2. Sự tiếp nhận và đọc hình ảnh.
- Sự tiếp nhận và đọc hình ảnh phụ thuộc rất nhiều yếu tố.
Kích thước, vò trí đặt vật, màu sắc, khoảng cách, sự vận động v.v…
của hình ảnh sẽ gây khó khăn hoặc trực tiếp giúp ích cho mọi người dễ
tiếp nhận và đọc hình ảnh.
- Thời điểm trong ngày, giới tính, tuổi tác, trình độ văn hoá, trình độ
nhận thức v.v…ảnh hưởng rất lớn đến sự tiếp nhận và đọc các hình
ảnh.
- Có thể thay đổi những khả năng cảm nhận hình ảnh thông qua một
số kỹ thuật như: tạo nên các lời chú giải, các lời bình và âm nhạc kèm
theo hình ảnh, đọc hình ảnh cũng trải qua nhiều giai đoạn.
Nhận biết – Phân tích – Lựa chọn và liên kết chúng lại với nhau.
Ngày nay khuynh hướng dùng phương thức nhìn để thâm nhập vào
tất cả các phương thức khác, bởi vì hình ảnh liên quan đến ngôn ngữ để
biểu tượng trong đó hình dáng, màu sắc và những yếu tố khác, sự phối
hợp giữa chúng tạo nên những biểu tượng.
Chính từ mức độ biểu tượng này mà hình ảnh sẽ là tốt nhất và có
khả năng diễn tả mọi loại khái niệm mà nói, viết không làm được
3. Một số phương tiện hỗ trợ nghe nhìn.
a) Bảng giấy.
- Văn tự rõ ràng, không bụi, dễ thấy màu sắc
- Khả năng chuẩn bò trước một số tài liệu để tiết kiệm thời gian
cho trình bày
- Khả năng lưu trữ những gì đã viết trong suốt buổi họp hay thực
tập và sau đó trở thành thông tin.
- Khả năng tham gia của mỗi thành viên cùng một nhiệm vụ
như người hướng dẫn.
- Trao đỗi tìm hiểu làm sáng tỏ vấn đề nêu ra thường dùng cho
các báo cáo thực tập, dự án, công trình…
- Một máy quay phim, một đầu video và một tivi nếu ta muốn thực hiện
được các sản phẩm riêng.
- Máy quay phim cho phép xem trực tiếp trên tivi những gì được quay bởi
người sử dụng.
f) Máy chiếu Projector.
Là thiết bò kết nối và truyền tín hiệu qua máy tính cho chất lượng hình ảnh
và độ sáng cao, kích thước vừa phải , dễ di chuyển, dễ sử dụng.
Có nhiều loại với các kích cỡ và độ sáng khác nhau phù hợp với nhu cầu
của người sử dụng.Có thể dùng trong các cuộc hội thảo cần trao đổi sửa
chữa ngay khi các thành viên tham gia đóng góp ý kiến và ra văn bản cuối
cùng thông qua sự điều chỉnh trên máy tính.
Đây là thiết bò hiện đại và được sử dụng rộng rãi trong các cuộc hội thảo
và hội nghò.
Trong các buổi thuyết trình và hội họp việc sử dụng phương tiện nghe
nhìn thích hợp sẽ mang lại hiệu quả rất lớn cho người tham dự. KẾT LUẬN
Kỹ năng thuyết trình và điều khiển cuộc họp là những vũ khí quan
trọng và lợi hại, một thế mạnh cạnh tranh của con người trong bất kỳ điều
kiện và hoàn cảnh nào, vì vậy cần phải nắm vững các kỹ năng này.
Nhà viết kòch và là thi só nổi tiếng người Anh William Shakepeare
(1564 1616) đã có lời khuyên bất hủ đến nay vẫn còn giá trò và đáng nhớ.
Nói không gọt dũa ít nhiều
Vận may của bạn như diều đứt dây.
43
Nói như vậy có nghóa là muốn trở thành một người thuyết trình giỏi,
người điều khiển cuộc họpø có hiệu quả đòi hỏi bạn phải học hỏi và kiên trì
tự rèn luyện bản thân nhiều hơn.