Báo cáo nghiên cứu khoa học: "TRIẾT LÝ THIỀN TÔNG - MỘT NỘI DUNG QUAN TRỌNG ĐƯỢC CHUYỂN TẢI TRONG THƠ THIỀN THỜI ĐƯỜNG TỐNG TRUNG QUỐC VÀ THƠ THIỀN VIỆT NAM THỜI LÝ TRẦN" - Pdf 19

TAP CHấ KHOA HOĩC, aỷi hoỹc Huóỳ, Sọỳ 47, 2008
TRIT Lí THIN TễNG - MT NI DUNG QUAN TRNG C
CHUYN TI TRONG TH THIN THI NG TNG TRUNG QUC
V TH THIN VIT NAM THI Lí TRN
Trn Th Thanh
Trng i hc Khoa hc, i hc Hu
TểM TT
Trit lý Thin Tụng l mt ni dung ht sc quan trng c th hin trong th Thin
thi ng Tng Trung Quc v th Thin Vit Nam thi Lý Trn. bi vit ny chỳng tụi trỡnh
by hai vn c bn:
1. Nhng vn c bn ca trit lý Thin Tụng
2. Cỏch chuyn ti trit lý Thin Tụng trong th Thin thi ng Tng Trung Quc v th
Thin Vit Nam thi Lý Trn.
nhm lm rừ cỏch th hin nhng trit lý Thin Tụng trong th Thin hai nc ó cú mt thi
k ng vn v cú s nh hng v vn húa qua li ln nhau.

Chuyn ti trit lý Thin Tụng l mt ni dung ht sc quan trng ca th Thin.
õy l cỏch truyn bỏ h thng giỏo ngha. Pht giỏo ly Pht, Phỏp, Tng lm thnh h
thng truyn phỏp, xõy dng o trng, hỡnh thnh hon cnh tu tp v em lý nhp cựng
hnh nhp lm phng phỏp tu tp. Pht giỏo chỳ ý n kinh in gii ngha, vic ngi
yờn nim Pht v nghiờn cu ch quỏn c coi trng. Cũn Thin Tụng ph nhn lý nhp
v hnh nhp, m ra muụn vn phng tin, ly vic ch thng nhõn tõm, bn thõn khụng
vng vo ụ nhim lm nn tng. Cho nờn, vic t ng, t chng chớnh l phng phỏp
ca Thin Tụng. Nhng ngi tu hnh theo phỏi Thin Tụng nhiu khi i qua sui nghe
ting nc chy, ting hũn si chm vo gc cõy u cú th khai ng; thy hoa o bng
n khi mựa xuõn n sau nhng ngy giỏ rột, thy mt tri nhụ lờn dóy nỳi m xa, u cú
th minh tõm; cng cú th nghe ting hột, nhỡn thy cỏi nhng my chp mt, gi pht
t, a tay v vũng trũn, tham cụng ỏn cng ng o. Vỡ vy, cỏc bi th Thin thi

tại.
4. Danh sắc: là lúc giai đoạn bào thai dần dần có danh tướng.
5. Lục xứ: là sáu căn. Đây là giai đoạn sáu căn đầy đủ sắp xuất thai.
6. Xúc: là giai đoạn khoảng hai ba tuổi đối với sự vật chưa biết thế nào là sướng,
thế nào là khổ, chỉ muốn tiếp xúc với vật.
7. Thụ: là thời kỳ khoảng 6, 7 tuổi trở đi, dần dần đối với sự vật đã biết phân biệt
sướng khổ mà cảm thụ nó.
8. Ái: là giai đoạn lúc 14, 15 tuổi trở đi, lúc này nảy sinh đủ thứ ái dục rất mạnh
mẽ.
9. Thủ: là giai đoạn lúc trưởng thành về sau. Ái dục thịnh sẽ đuổi theo cái cảnh để
cầu lấy cái sở dục.
10. Hữu: Đó là giai đoạn nương theo phiền não. Ái thủ mà gây ra biết bao nghiệp,
quyết định cái quả tương lai.
11. Sinh: là địa vị nương vào cái nghiệp hiện tại mà thị sinh ở đời vị lai.
12. Lão tử: là đại vị lão tử ở đời sau này.
“Bát chính đạo” tức là đạo của bậc thánh giả gồm: 1. chính kiến; 2. chính tư duy;
3. chính ngữ; 4. chính nghiệp; 5. chính mệnh; 6. chính tinh tiến; 7. chính niệm; 8. chính
định. Đây chính là những con đường dẫn nhà tu hành đến sự đắc đạo.
2. Cách chuyển tải triết lý Thiền Tông trong thơ Thiền thời Đường Tống
Trung Quốc và thơ Thiền Việt Nam thời Lý Trần.
Từ những giáo lý cơ bản của triết lý Thiền Tông, các Thiền thi ở thời Đường
Tống Trung Quốc và thời Lý Trần ở Việt Nam đã đưa những khái niệm của Phật giáo
như: Pháp, Niết Bàn, chân như, sinh, lão, bệnh, tử, nghiệp, mê vọng, sắc, không, hữu, vô,
phiền não, bồ đề, thân, tâm vào trong thơ rất linh hoạt. Trong số những tác phẩm thi ca
hay và đẹp của vườn Thiền, “Chứng đạo ca” là tác phẩm dài, chứa đựng sâu xa Thiền lý
và nổi bật về giá trị văn chương. Tác giả của “Chứng đạo ca” (dài trên 1.800 chữ, làm
theo thể Nhạc phủ) là Đại sư Huyền Giác - người Vĩnh Gia, Chiết Giang, Trung Quốc.
Ông xuất gia từ thuở bé, đọc rộng Tam Tạng kinh điển, tinh thông pháp môn chỉ quán
của tông Thiên Thai. “Chứng đạo ca” là một tác phẩm ở thời Đường có nội dung rất rộng,
chuyển tải được giáo lý của đạo Phật, có kiến giải của Thiền, có yếu quyết cầu đạo, có


Chứng được thực tướng, pháp nhân không
Sát - na rũ sạch A - tỳ nghiệp
Bằng đem lời vọng dối chúng sinh
Rút lưỡi tự mình sa trần thế.)
Trong đoạn thơ này, tác giả đã kiến giải những khái niệm “vọng tưởng”, “vô
minh”, “phật tính”, “pháp thân”, “tự tính”. Đó là những điều nằm trong triết lý của Phật
giáo Thiền tông.
Cách đưa triết lý đạo Phật vào thơ Thiền thật cao diệu. Tùy từng cảm hứng, tùy
căn cơ của từng người mà cách chuyển tải triết lý Thiền vào thơ một cách khác nhau. Tô
Đông Pha một nhà thơ Trung Quốc rất hâm mộ đạo Thiền lại tìm thấy lời nói chân thật
của Phật ở tiếng suối reo, pháp thân thanh tịnh của Phật chính là ở sắc núi.
“Khê thanh tiện thị quảng trường thiệt
Sơn sắc khởi phi thanh tịnh thân.”
(Tô Đông Pha - Tặng Đông Lâm Trưởng lão)
(Tiếng suối chính là Phật diệu âm
Màu non hiện thì pháp thân tịnh.)
“Quảng trường thiệt” tướng lưỡi dài rộng - chính là biểu tượng của Phật nên tác
giả viết “khê thanh tiện thị quảng trường thiệt” nghĩa là tiếng suối reo chính là lời nói
chân thật của Phật. Vậy, Phật chẳng ở đâu xa. Ở ngay chính cái gì gần gũi ta nhất và
chính Phật ở trong tâm ta. Lời nói của Phật dạy ta nghe văng vẳng như tiếng suối. Pháp
thân của ngài hiển hiện như sắc núi xanh. Cách chuyển tải này rất là thơ nhưng cũng rất
là Thiền. Thật đúng là “dĩ Thiền nhập thi”. Cũng như vậy, Vương Duy, nhà thi Phật nổi
tiếng đời Đường, đã chuyển tải triết lý Thiền vào thơ thật tài tình. Cái qui luật luân hồi
sinh tử của Phật giáo đã được ông đưa vào thơ.
“Nhật nhật nhân không lão
Niên niên xuân cánh qui.”
(Vương Duy - Tống xuân từ)

(Ngày ngày tuổi già đến

“Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá
Lão tòng đầu thượng lai ”
(Mãn Giác Thiền sư - Cáo tật thị chúng)
(Xuân qua trăm hoa rụng
Xuân đến trăm hoa nở
Việc đời qua trước mắt
Cái già đến trên đầu.)
Đây là qui luật tất yếu, nó mang tính khách quan không ai cưỡng lại nổi. Tuy
nhiên con người đừng có buồn đau trước những điều sinh, lão, bệnh, tử, vì: “Sinh lão
bệnh tử, tự cổ thường nhiên” (Ni sư Diệu Nhân - Sinh lão bệnh tử). Sinh lão bệnh tử là
chuyện thường nhiên từ xưa đến nay. Nó như quy luật của thiên nhiên, xuân đến thì trăm
hoa nở, xuân đi thì trăm hoa rụng. Con người ta có sinh thì tất có tử, có tử thì tất có sinh,
do vậy Thiền sư Vạn Trì đời Lý nói:
“Hữu tử tất hữu sinh
Hữu sinh tất hữu tử.”
(Thiền sư Vạn Trì Bát - Hữu tử tất hữu sinh)
(Có chết tất có sinh
Có sinh tất có chết.)
Quan niệm Phật giáo cho rằng, nghiệp sinh tử trong vũ trụ là vô thường, mau lẹ,
giống như hạt sương trên đầu ngọn cỏ.
“Thân như điện ảnh hữu hoàn vô.
Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô.
Nhậm vận thịnh suy vô bố uý
Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.)
(Thiền sư Vạn Hạnh - Thị đệ tử)
(Thân như bóng chớp có rồi không.
Cây cối xuân tươi thu não nùng.
Nhậm vận thịnh suy đừng sợ hãi.

Để thấy “như như” đỡ khổ tìm.)
Và Kiều Trí Huyền đã chỉ cho ông tới con đường chân tâm ngắn nhất. Đó là:
“Cá trung mãn mục lộ Thiền tâm
Hà sa cảnh thị Bồ đề đạo
Nghĩ hướng Bồ đề cách vạn tầm.”
(Kiều Trí Huyền - Đáp Từ Đạo Hạnh chân tâm chi vấn)
(Trong mắt tràn đầy Thiền tâm lộ
Hà sa cảnh ấy đạo Bồ đề
Đừng nghĩ cõi Phật xa vạn dặm.)
Như vậy bản thể, chân tâm đâu phải ở nơi xa trừu tượng nào, mà nó tràn đầy trong
con mắt của nhân sinh. Nó trộn lẫn với trần tục như cát sông Hằng. Chỉ cần con người có
cái tâm Thiền, khi giác ngộ thì bản thể thần diệu ấy tưởng là hư không nhưng hàng ngày
lại hiển hiện khoe bày khắp hằng hà sa thế giới. Khi con người giác ngộ là nhìn đúng
chân tâm, thực tướng nên nhận thức được đúng qui luật của cuộc đời:
“Thân như tường bích dĩ đồi thì
Cử thế thông thông thục bất bi
Nhược đạt tâm không vô sắc tướng
Sắc không ẩn hiện nhậm suy di.”
(Viên Chiếu - Tâm không)
(Thân như tường vách có lúc suy
Đời người vội vã ai chẳng bi
Nếu đạt tâm không, sắc không nốt
Sắc không ẩn hiện tự dời đi.)
Đúng như Bách Trượng Hoài Hải Thiền sư đời Đường từng nói:
“Tâm địa nhược không
Tuệ nhật tự chiếu.”
(Nếu tâm địa là không
Mặt trời tuệ tự chiếu.)
Khi tâm không thì ánh sáng tuệ chiếu rõ, lúc đó ta thấy “sắc”, “không” ẩn hiện
mặc nó đổi dời, cũng như cái “có” và cái “không”, “cái hữu” và “cái vô” mà đạo Phật

Ma-ha-bát-nhã Tát-bà-ha.”
(Trần Tung - Đốn tỉnh)
(Đoán biết hữu không chẳng xa nhau
Sống chết vốn sinh cùng đợt sóng
Trăng đêm qua là trăng đêm nay
Hoa năm mới vốn hoa năm cũ
Đuốc soi trước gió tựa tam sinh
Miệng cối kiến bò ấy cửu giới
Ai hỏi cứu cánh như hà vi
Tát-bà-ha, Ma-ha-bát nhã.)
Bài “Đốn tỉnh” - chợt tỉnh của Trần Tung đời Trần đã chuyển tải được khá nhiều
triết lý đạo Thiền thông qua các thuật ngữ “hữu”, “vô”, “sinh”, “tử”, “tam sinh”, “cửu
giới” và vòng luân hồi chuyển vận thông qua các hình ảnh trăng sáng đêm qua cũng là
trăng của đêm nay; hoa nở năm mới cũng chính là hoa năm cũ; ba kiếp luân hồi của đời
người (kiếp trước, kiếp này, kiếp sau) chỉ như ngọn đuốc trong gió; chín cảnh giới phân
ra từ tam giới tuần hoàn như kiến bò trên miệng cối xay bột.
Nói về chân và huyễn tác giả Lã Định Hương cũng có bài “Chân dữ huyễn”:
“Bản lai vô xứ sở
Xứ sở thị chân tông
Chân tông như thị huyễn
Huyễn hữu tức không không.”
(Lã Định Hương - Chân dữ Huyễn)
(Đạo vốn không xứ sở
Xứ sở ấy chân tông
Chân tông như là huyễn
Huyễn hữu tức là không.)
Tính triết lý, tính truyền giáo của thơ Thiền thời Đường Tống ở Trung Quốc và
thời Lý Trần ở Việt Nam là không thể phủ nhận. Quan niệm về sự luân hồi, về sắc không,
về vô tướng, về hùng lực siêu phàm, về sự chuyển động từ cái nọ sang cái kia đã được
thể hiện trên cái nền cơ bản là sự trực cảm tâm linh vượt khỏi tầng không gian suy luận


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status