225
TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, Số 65, 2011
NGHIÊN CỨU PHÂN LẬP VÀ NHẬN DẠNG CẤU TRÚC ALKALOID TRONG
DỊCH CHIẾT TỪ LÁ VÔNG NEM (ERYTHRINA ORIENTALIS L. FABACEAE)
THỪA THIÊN HUẾ
Trần Thị Văn Thi, Trần Thanh Minh
Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế
TÓM TẮT
Hàm lượng alkaloid toàn phần trong lá vông nem (Erythrina orientalis L. Fabaceae)
Thừa Thiên Huế là 0,18% (so với hàm khô). Đã phát hiện 10 alkaloid trong cao lá. Trong đó, 2
alkaloid đã được phân lập và nhận dạng cấu trúc bằng LC-MS, UV-VIS and
1
H-NMR. Chúng là
erythrartine và erythrartine N- oxide. Những alkaloid này chưa từng được phát hiện trong lá
vông nem (Erythrina orientalis L. Fabaceae) trước đây.
1. Mở đầu
Vông nem - Erythrina orientalis L. (tên gọi khác Erythrina variegata L.) là một
loài vông mọc hoang hoặc trồng phổ biến ở Việt Nam. Lá Vông nem có chứa nhiều
alkaloid, từ lâu đã được nhân dân ta sử dụng để ăn hoặc sắc uống chữa bệnh kém ăn,
mất ngủ, thần kinh suy nhược. Alkaloid toàn phần trong lá vông nem có tác dụng kháng
khuẩn, trợ tim, gây ngủ, an thần [1]. Một số cơ sở y tế hiện đang sử dụng cao lá Vông
nem kết hợp với một số vị dược liệu khác để làm thuốc [2, 3]. Trên thế giới đã có một
số công trình nghiên cứu về alkaloid của các loài Vông nem khác ở Ấn độ [4], Philippin
[5], Mỹ [6], nhưng chỉ tập trung vào alkaloid trong vỏ thân cây, hoa và hạt, mà không
quan tâm nhiều đến alkaloid trong lá. Chúng tôi nghiên cứu phân lập và nhận dạng cấu
trúc alkaloid trong lá vông nem nhằm góp phần nâng cao giá trị sử dụng của các
alkaloid trong dược liệu này.
4
OH đậm đặc (các alkaloid lúc này ở dạng base
tự do, tan được trong CHCl
3
) và chiết lấy alkaloid bằng CHCl
3
. Lọc dịch chiết CHCl
3
qua
giấy lọc có Na
2
SO
4
khan, rửa giấy lọc và Na
2
SO
4
khan bằng CHCl
3
, rồi bốc hơi CHCl
3
(cô
cất ở 50
0
C) thu được cắn alkaloid toàn phần [1, 7, 8].
2.3. Định lượng alkaloid toàn phần tinh khiết
Định lượng alkaloid toàn phần tinh khiết trong cắn alkaloid toàn phần bằng phương
pháp chuẩn độ acid – base [1].
2.4. Phân lập các cấu tử alkaloid
Sử dụng các phương pháp: chiết phân đoạn trong các môi trường pH khác nhau,
phút, tốc độ dòng 1 ml/phút, cột ODS-C18, detector DAD, bước sóng 284 nm; điều kiện
ghi phổ khối: Nguồn ion EFI, khí làm khô N
2
(nhiệt độ khí 350
0
C, áp suất 30 psi, lưu
lượng khí 15 lít/phút). Chân không 2,5.10
-5
mmbar. Điện thế (năng lượng detector)
1118 V.
- Định tính cấu tạo bằng phổ MS, phổ
1
H-NMR Brucker Avance 500 MHz, dung
môi DMS; phổ mô phỏng được xây dựng trên phần mềm Chemdraw Ultra 8.0
(ChemOffice), phổ UV-VIS. 227
3. Kết quả và thảo luận
3.1. Hàm lượng alkaloid toàn phần và số cấu tử alkaloid trong lá Vông nem
Từ 1604 g nguyên liệu lá Vông nem khô (độ ẩm trung bình 9,97%), bằng
phương pháp chiết ngâm kiệt, sau khi tinh chế thu được 4,05 g cắn alkaloid toàn phần
với độ tinh khiết 70,02% theo phương pháp chuẩn độ acid - base, tỷ lệ alkaloid tinh
khiết so với hàm khô là 0,18%.
Các giá trị R
f
của các cấu tử trong alkaloid toàn phần từ sắc ký đồ được trình bày
trên cột (2), bảng 1 cho thấy cắn alkaloid toàn phần có chứa 10 cấu tử trong giới hạn
phát hiện của sắc ký bản mỏng.
3.2. Phân lập các cấu tử alkaloid
10 0,23 chloroform 228
Bằng sắc ký cột kết hợp với sắc ký bản mỏng điều chế, đã phân lập và tinh chế
được hai cấu tử có R
f
= 0,70 (3,0 mg) và R
f
= 0,31 (1,4 mg).
3.3. Nhận dạng cấu trúc của các alkaloid đã phân lập
Cấu tử R
f
(SKBM) = 0,70: tinh thể hình kim, màu vàng nhạt, thời gian lưu trên
LC là 12,13 phút, phổ MS có các mảnh ion: 330,0 ([M+H]
+
), 283,1; 192,1; 127,0 và
113,1; phổ UV – VIS có các cực đại hấp thụ: 285; 255 và 230 nm.
Cấu tử R
f
(SKBM) = 0,31: tinh thể hình kim, màu vàng nhạt, thời gian lưu trên
LC là 12,60 phút, phổ MS có các mảnh ion: 346,0 ([M+H]
+
), 330,1 và 316,1; phổ UV –
VIS có các cực đại hấp thụ: 285 và 230 nm.
Từ kết quả LC-MS cho thấy, cấu tử R
f
= 0,70 tương ứng với alkaloid
erythrartine (C
19
m/z =
330
m/z = 283
N
OH
CH
3
O
CH
3
O
CH
3
O
-e
H
N
OH
CH
3
O
CH
3
O
CH
3
O
+
N
max
= 285 nm; 230 nm, đó là các cực đại hấp thụ của
nhân thơm có chứa 2 nhóm metoxy và hệ dien liên hợp [5]. Phổ
1
H-NMR của
erythrartine N- oxide có các peak ứng với (ppm): 8,50 (d) của =CH-; 6,80 – 7,00 (s, s)
của =CH benzen; 6,70 (d) của =CH-, 6,60 (s) của =CH-; 5,80 (s) của -CH- bậc 3; 4,10
(s) của –OCH
3
; 3,82 (s) của –OCH
3
; 3,70 (d) của –CH
2
-; 3,50 (s) của -OCH
3
; 3,40 (s)
của –CH- bậc 3; 3,20 – 3,40 (s, s) của các –CH
2
-; 3,30 (s) của -OH; 2,50(d) của –CH
2
-;
2,45 (d) của –CH
2
- hoàn toàn phù hợp với phổ mô phỏng và đã được chúng tôi quy kết
phù hợp với mỗi hydro tại các vị trí trong công thức cấu tạo của erythrartine N- oxide.
Hình 2. Sơ đồ phân mảnh của cấu tử erythrartine N- oxide
Dienoid Erythrina alkaloid erythrartine và erythrartine N- oxide đã được phát
hiện trong hoa của loài E. mulungu của Philippin [5]. Ngoài ra, cấu tử erythrartine N-
oxide đã được phát hiện từ dịch chiết hạt của loài E. berteroana của Mỹ bằng phương
+
N
OH
CH
3
O
CH
3
O
CH
3
O
O
+
N
CH
2
OH
CH
3
O
CH
3
O
CH
3
O
H
+
H
[10]. Arthur W., Craig R. Elevitch, Erythrina variegata (coral tree),
www.traditionaltree.org, 2004.
STUDY ON ISOLATION AND STRUCTURE IDENTIFICATION OF
ALKALOIDS IN FOLIUM EXTRACT OF ERYTHRINA ORIENTALIS L.
FABACEAE COLLECTED IN THUA THIEN HUE
Tran Thi Van Thi, Tran Thanh Minh
College of Sciences, Hue University
SUMMARY
The content of alkaloids of dry weight is 0,18% in folium of Erythrina orientalis L.
Fabaceae collected in Thua Thien Hue. There were ten alkaloids found in folium extract. Two of
them were isolated and identified by LC-MS, UV-VIS and
1
H-NMR. They were erythrartine and
erythrartine N- oxide. These alkaloids have not been defined in folium of Erythrina orientalis L.
Fabaceae in the past.