Tìm hiểu nhu cầu và thái độ của sinh viên trường ĐHQN đối với việc đi làm thêm - Pdf 19

MỞ ĐẦU
1.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Trúng tuyển vào đại học là niềm vui sướng,phấn khởi của sinh viên thế nhưng khi
bước vào cuộc sống sinh viên,bên cạnh những thuận lợi các bạn cũng gặp phải không ít
những khó khăn nhất định cả trong việc học tập và sinh hoạt.Mà khó khăn lớn nhất có
thể đến ở đây là vấn đề tài chính.
Vì sao lại như vậy? Ông cha ta có câu:"Mỗi cây mỗi hoa mỗi nhà mỗi cảnh".Thế
nên trong sinh viên có nhiều bạn có đủ điều kiện để chi phí cho sinh hoạt học tập Bên
cạnh đó cũng không ít những bạn gặp khó khăn nhiều ở vấn đề tài chính.Số tiền mà gia
đình chu cấp hàng tháng không đủ chi phí cho sinh hoạt và học tập.Vì vậy các bạn phải
tự xoay xở bằng việc đi làm thêm.Khoảng thu nhập ít ỏi từ việc làm thêm ấy trở thành
cứu cánh giúp cho họ trang trải phần nào cuộc sống sinh hoạt và học tập của mình.Tại
thành phố Quy Nhơn có rất nhiều trung tâm tư vấn và giới thiệu việc làm cho sinh viên
với nhiều công việc như: phục vụ cà-phê, phục vụ quán ăn,phục vụ nhà hàng,gia sư,
nhân viên tiếp thị Tuy nhiên hiện nay có không ít sinh viên đã làm thêm những công
việc không phù hợp,nặng nhọc,thậm chí còn nguy hiểm đến tính mạng và rất ảnh hưởng
đến quá trình học tập của sinh viên.Vì vậy điều đang cấp thiết là cần một phương án giải
quyết triệt để nhằm giúp sinh viên vượt qua những trở ngại trên.
Song cũng không ít những bạn sinh viên đi làm thêm không nhằm để kiếm tiền
trang trải cuộc sống sinh hoạt mà làm thêm để tích lũy kinh nghiệm làm việc,đi làm
thêm để trải nghiệm những điều đã học vào thực tiễn, được va chạm với đời thường để
ứng xử tốt hơn trong các tình huống giao tiếp
Có một thực tế rằng nhiều bạn sinh viên quan niệm đi làm thêm là không tốt, là
hạ đẳng Các bạn ấy chưa thấy được ý nghĩa của việc đi làm thêm chính đáng của sinh
viên là để có kinh nghiệm cho nghề nghiệp sau này,đặc biệc là những bạn hoạt động
trong các lĩnh vực có liên quan nhiều đến giao tiếp xã hội là hết sức cần thiết.
Chúng tôi ,sinh viên năm thứ ba ngành sư phạm Tâm lý giáo dục,chúng tôi cũng
đã từng đi làm thêm vì số tiền chu cấp hàng tháng từ gia đình không đủ chi phí cho sinh
1
hoạt và học tập Và khi ấy đi làm thêm giúp chúng tôi giải quyết những vấn đề đó.Do
vậy chúng tôi thấy việc làm thêm rất có ý nghĩa.

chung,sinh viên trường ĐHQN nói riêng.
5.PHẠM VI NGHIÊN CỨU.
-Thời gian: Trong năm học 2009-2010.
-Địa điểm: Trường đại học Quy Nhơn.
-Số lượng khách thể: 1000 sinh viên (Nam nữ).
6.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
-Phương pháp điều tra.(Qua phiếu thăm dò_Ăng két).
-Phương pháp trò chuyện.
-Phương pháp thống kê toán học.
Trong đó phương pháp điều tra là cơ bản nhất.
Chúng tôi thực hiện hư sau:
-Phương pháp điều tra là phương pháp chính trong đề tài:
+Mục đích phương pháp này là tìm hiểu thực trạng về nhu cầu và thái độ của
sinh viên đối với việc đi làm thêm.
+Đối tượng là sinh viên trường ĐHQN tại các lớp.
+Xây dựng bản hỏi gồm những cau hỏi mở,có gợi ý trả lời hoặc có sự lựa chọn
phương án trả lời sẵn.
+Phát phiếu điều tra cho đối tượng và hướng dẫn trả lời.
+Thu phiếu điều tra và xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê toán học.
-Phương pháp thống kê toán học thuật toán xác xuất thống kê để xử lý bảng số liệu
thu được từ phiếu điều tra.Và các công thức toán học :
-Phương pháp trò chuyện là gặp gỡ trao đổi thông tin sơ bộ về thực trạng vấn đề để
xây dựng giả thuyết khoa học.
7.CẤU TRÚC ĐỀ TÀI.
Đề tài gồm năm phần:Mở đầu.Chương I:Cơ sở lý luận của đề tài.Chương II:Kết
quả nghiên cứu.Chương III:Kết luận và khuyến nghị.Phụ lục
3
Chương I:Cơ sở lý luận của đề tài.
1.1.LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ.
Theo tìm hiểu tài liệu ,sách báo cho thấy vấn đề của đề tài hiện chưa ai đi vào

thể được thỏa mãn bởi một số đối tượng, trong đó mức độ thỏa mãn có khác nhau.
Tính đa dạng của đối tượng tạo nên sự vô hạn của nhu cầu. Alfred Marshall viết
rằng: “Không có số để đếm nhu cầu và ước muốn”.[ Экономика и социология труда.
Учебник для вузов. 6-е изд. испр. и доп. М.: Норма-инфра ]. Về vấn đề cơ bản của
khoa học kinh tế - vấn đề nhu cầu con người - hầu hết các sách đều nhận định rằng nhu
cầu không có giới hạn.
1.2.1.2.Cấu trúc nhu cầu cá nhân.
Aristotle đã cho rằng con người có hai loại nhu cầu chính: thể xác và linh hồn. Sự
phân loại này mang tính ước lệ lớn nhưng nó ảnh hưởng đến tận thời nay và người ta
quen với việc phân nhu cầu thành "nhu cầu vật chất" và "nhu cầu tinh thần". Ngoài ra
còn tồn tại nhiều kiểu phân loại khác dựa trên những đặc điểm hay tiêu chí nhất định.
Trọng tâm chú ý của các nhà khoa học là xếp đặt nhu cầu theo một cấu trúc thứ
bậc. Ý tưởng về thứ bậc của nhu cầu bắt đầu nảy sinh từ đầu thế kỉ trước. Benfild viết:
“Quan điểm đầu tiên của luận thuyết về nhu cầu nói rằng sự thỏa mãn nhu cầu bậc thấp
trong thang độ nhu cầu sẽ sinh ra mong muốn được thỏa mãn nhu cầu bậc cao hơn”.
Trong số các công trình nghiên cứu hiện đại có thể kể đến kết quả phân loại như K.
Alderfer: tồn tại, quan hệ, nâng cao. D. Mc Clelland: thành quả, tham dự, quyền lực; V.
Podmarcow: đảm bảo, khuynh hướng, uy tín. V. Tarasenko: tồn tại, phát triển. A.
Maslow: sinh lý, an toàn, tham dự, (được) công nhận, tự thể hiện Năm cấp bậc nhu
cầu theo phân loại của A. Maslow được xếp theo hình bậc thang hay hình chóp kim tự
tháp với thứ tự liệt kê như trên thể hiện quan điểm rằng sự thỏa mãn nhu cầu theo thứ tự
từ dưới lên. Người ta đã chỉ ra rằng thực tế sự thỏa mãn nhu cầu không nhất thiết phải
tuân theo quy luật đó.
Boris M. Genkin chia nhu cầu ra hai nhóm: nhu cầu tồn tại và nhu cầu đạt mục
đích sống. Nhu cầu tồn tại gồm nhu cầu sinh lí, nhu cầu an toàn và nhu cầu tham dự.
Trong nhu cầu đạt mục đích có bốn nhóm: 1) giàu có về vật chất; 2) quyền lực và danh
5
vọng; 3) kiến thức và sáng tạo; 4) hoàn thiện tinh thần. Tùy vào thiên hướng của từng cá
nhân mà một trong số bốn nhu cầu trên thể hiện nổi trội. Có thể trong một người hiện
diện cả bốn dạng nhu cầu đó nhưng ở các giai đoạn khác nhau trong đời.

tính chất của môi trường sống, vào thời điểm lịch sử, vào các giá trị xã hội; chúng đặc
trưng cho mọi sinh vật, mọi cơ thể sống và nói lên sự tương tác qua lại của cá thể với
môi trường. Những nhu yếu đấy là:
Nhu yếu nhập thế: là sự cần thiết tiếp nhận các đối tượng có ích cho cá thể. Đặc
điểm của nó là hướng nhu cầu vào những đối tượng với mục đích tiếp nhận chúng ở
dạng chúng có;
Nhu yếu xuất thế: là sự cần thiết tác động vào các đối tượng bên ngoài và đôi khi
ngay chính cơ thể của bản thân. Đặc điểm của nó là hướng nhu cầu vào các đối tượng
với mục đích làm thay đổi trạng thái của chúng bằng phương pháp nào đó và theo một ý
tưởng định sẵn (ý tưởng định sẵn: kết quả tổng hợp của tư duy từ thông tin về những sự
vật thực tế);
Nhu yếu vị thế riêng: là sự cần thiết tạo vị trí của cá thể trong thế giới xung
quanh. Đặc điểm của nó là hướng nhu cầu vào các đối tượng với mục đích củng cố vị
thế mà cá thể xác định một cách có ý thức đối với những cá thể khác hoặc hoàn cảnh
bên ngoài. Nói cách khác, nhu yếu này bắt chủ thể phải xác định vị trí và định hướng
hoạt động của mình sao cho phù hợp với sự thay đổi của thế giới xung quanh.
Nhu yếu nhập thế và nhu yếu xuất thế phản ánh một đặc tính nổi bật của con
người là sự mong muốn nhận thức thế giới. Chúng khác nhau ở chỗ nhu yếu thứ nhất
thể hiện tính thụ động, còn nhu yếu thứ hai thể hiện tính chủ động. Trong đời sống thực
tế một nhu cầu thường có chung ba đặc điểm kể trên, chúng bổ sung cho nhau theo mối
quan hệ “mục đích – phương tiện”, nhưng một trong các nhu yếu đó nổi trội hơn cả
(mục đích). Và vì thế có thể gọi những nhu cầu theo tên của nhu yếu tương ứng nổi trội
đó. Nhu yếu phát triển hướng tới những đối tượng mới và thay đổi dần những giá trị cũ
để phù hợp với sự thay đổi thường xuyên của môi trường.
Phân tích trên cho thấy tuy đối tượng của nhu cầu là vô hạn, song những nhu yếu phát
triển cơ bản chỉ tồn tại ở ba dạng kể trên.
Cấu trúc nhu cầu cá nhân theo cách phân loại trên cho phép hình dung một hệ
thống nhu cầu được xắp xếp như một tế bào mà nhân của nó là các nhu yếu tuyệt đối,
thân là các nhu yếu phát triển và vỏ ngoài cùng là các đối tượng được kết dính bởi
những hệ thống giá trị. Cấu trúc nhu cầu thể hiện mối quan hệ hữu cơ và thống nhất

Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu của cơ thể hoặc nhu cầu sinh lý , bao gồm
các nhu cầu cơ bản của con người như ăn, uống, ngủ, không khí để thở, tình dục, các
nhu cầu làm cho con người thoải mái,…đây là những nhu cầu cơ bản nhất và mạnh nhất
của con người. Trong hình kim tự tháp, chúng ta thấy những nhu cầu này được xếp vào
bậc thấp nhất: bậc cơ bản nhất. Maslow cho rằng, những nhu cầu ở mức độ cao hơn sẽ
không xuất hiện trừ khi những nhu cầu cơ bản này được thỏa mãn và những nhu cầu cơ
bản này sẽ chế ngự, hối thúc, giục giã một người hành động khi nhu cầu cơ bản này
chưa đạt được.
Ông bà ta cũng đã sớm nhận ra điều này khi cho rằng: “Có thực mới vực được đạo”, cần
phải được ăn uống, đáp ứng nhu cầu cơ bản để có thể hoạt động, vươn tới nhu cầu cao
hơn.
Chúng ta có thể kiểm chứng dễ dàng điều này khi cơ thể không khỏe mạnh, đói khát
hoặc bệnh tật, lúc ấy, các nhu cầu khác chỉ còn là thứ yếu. Sự phản đối của công nhân,
nhân viên khi đồng lương không đủ nuôi sống họ cũng thể hiện việc đáp ứng các yêu
cầu cơ bản cần phải được thực hiện ưu tiên.
9
Nhu cầu về an toàn(Muốn có cuộc sống an toàn,đảm bảo tương lai ):
Khi con người đã được đáp ứng các nhu cầu cơ bản, tức các nhu cầu này không
còn điều khiển suy nghĩ và hành động của họ nữa, họ sẽ cần gì tiếp theo? Khi đó các
nhu cầu về an toàn, an ninh sẽ bắt đầu được kích hoạt. Nhu cầu an toàn và an ninh này
thể hiện trong cả thể chất lẫn tinh thần. Con người mong muốn có sự bảo vệ cho sự sống
còn của mình khỏi các nguy hiểm. Nhu cầu này sẽ trở thành động cơ hoạt động trong
các trường hợp khẩn cấp, nguy khốn đến tính mạng như chiến tranh, thiên tai, gặp thú
dữ,…. Trẻ con thường hay biểu lộ sự thiếu cảm giác an toàn khi bứt rứt, khóc đòi cha
mẹ, mong muốn được vỗ về.
Nhu cầu này cũng thường được khẳng định thông qua các mong muốn về sự ổn
định trong cuộc sống, được sống trong các khu phố an ninh, sống trong xã hội có pháp
luật, có nhà cửa để ở,…Nhiều người tìm đến sự che chở bởi các niềm tin tôn giáo, triết
học cũng là do nhu cầu an toàn này, đây chính là việc tìm kiếm sự an toàn về mặt tinh
thần.

Abraham Maslow, mỗi người trong chúng ta có thể rút ra nhiều điều thú vị về những
nhu cầu, giá trị trong cuộc sống, tìm hiểu các khó khăn mà học sinh gặp phải, các
phương thức cần thiết để giáo dục hiệu quả.
Cũng giống như bao lý thuyết khác, lý thuyết này dĩ nhiên không phải là một sự
tuyệt đối hóa và toàn vẹn, nó cũng nhận được nhiều ý kiến trái ngược và phản bác. Tuy
nhiên, hơn 60 năm qua, lý thuyết vẫn được nhắc đến và sử dụng rộng rãi.
Chúng ta thường thấy trong công việc hoặc cuộc sống, khi một người được khích
lệ, tưởng thưởng về thành quả lao động của mình, họ sẵn sàng làm việc hăng say hơn,
hiệu quả hơn. Nhu cầu này được xếp sau nhu cầu “thuộc về một tổ chức”, nhu cầu xã
hội phía trên. Sau khi đã gia nhập một tổ chức, một đội nhóm, chúng ta luôn muốn được
mọi người trong nhóm nể trọng, quý mến, đồng thời chúng ta cũng phấn đấu để cảm
thấy mình có “vị trí” trong nhóm đó.
Kinh nghiệm giáo dục cũng chỉ ra rằng: các hành động bêu xấu học sinh trước
lớp, cho các học sinh khác “lêu lêu” một em học sinh bị phạm lỗi,… chỉ dẫn đến những
hậu quả tồi tệ hơn về mặt giáo dục, tâm lý.
“Nhà sư phạm lỗi lạc Makarenko trong suốt cuộc đời dạy dỗ trẻ em hư, khi
được hỏi bí quyết nào để sửa trị các em, ông nói “Tôi chỉ đúc kết trong một công thức
ngắn gọn: Tôn trọng và yêu cầu cao”. Bản chất tâm lý con người ai cũng muốn được
11
tôn trọng, chạm đến lòng tự trọng là chạm đến điều sâu và đau nhất, là điểm tử huyệt
nhất của con người (cho dù đó là đứa trẻ khó dạy, chưa ngoan).Chỉ tôn trọng mà không
yêu cầu là không ổn. Khi được tôn trọng là đã cho con người ở đúng vị trí “Người” nhất
của mình. Do vậy, cần có trách nhiệm buộc phải sống và hành xử đúng đắn với sự tôn
trọng đó”.( Trích VietNamNet, ngày 30/10/2007)
Nhu cầu được khẳn định bản thân( Có quyền lực,muốn ảnh hưởng lên nhiều
người):
Khi nói về nhu cầu này: “khẳng định” chúng ta khoan vội gán cho nó ý nghĩa
tiêu cực. Không phải ngẫu nhiên mà nhu cầu này được xếp đặt ở mức độ cao nhất. “Thể
hiện mình” không đơn giản có nghĩa là nhuộm tóc lòe lẹt, hút thuốc phì phèo, “xổ nho”
khắp nơi, nói năng khệnh khạng…

Thái độ là một khái niệm chúng ta thường sử dụng trong cuộc sống cũng như
trong lĩnh vực tâm lý học.Vấn đề đi sâu tìm hiểu mọi khía cạnh của thái độ,như:Bản
chất của thái độ là gì?Thành phần cấu trúc của nó? Sự hình thành và biểu hiện của nó
như thế nào? Vai trò của thái độ v.v ít nhà khoa học quan tâm nghiên cứu.
Năm 1935 có quan điểm: “Thái độ như là trạng thái tâm lý và thần kinh của sự
sẵn sàng được tạo a trên cơ sở kinh nghiệm và nó có ảnh hưởng điề khiể hay năng động
tới những phản ứng của cá nhân đối với tất cả những khách thể và tình huống gắn liền
với cá nhân đó” [Nguyễn Thị Lan Anh-Luận văn sau đại học-Hiện trạng thái độ nghề
nghiệp của đội ngũ giáo viên Tâm lý học ở các trường sư phạm thuộc các tỉnh phía Bắc
1985].
Năm 1971 có quan điểm: “Thái độ là tư tưởng được hình thành cảm xúc mà
những cảm xúc này tạo điều kiện cho việc xác định hình thức của hoạt động trong
những hoàn cảnh xã hội nhất định”. [Nguyễn Thị Lan Anh-Luận văn sau đại học-Hiện
trạng thái độ nghề nghiệp của đội ngũ giáo viên Tâm lý học ở các trường sư phạm thuộc
các tỉnh phía Bắc 1985]
Từ hai quan điểm trên “Thái độ” là sự “sẵn sàng” hay là “tính gây tác động đến
phản ứng”.Tuy chưa làm rõ được định nghĩa về “Thái độ” nhưng điều đó cũng đã tạo
tiền đề cho sự nghiên cứu về vấn đề thái độ hiện nay. [Nguyễn Thị Lan Anh-Luận văn
sau đại học-Hiện trạng thái độ nghề nghiệp của đội ngũ giáo viên Tâm lý học ở các
trường sư phạm thuộc các tỉnh phía Bắc 1985]
13
Cho đến nay trong khoa học tâm lý học cũng chỉ nhắc đến thái độ là những biểu
hiện của quá trình xúc cảm và tình cảm của con người trước hiện thực khách quan.Qua
quá trình tìm hiểu,nghiên cứu Tâm lý học hiện đại thì chúng tôi đưa ra quan điểm về
“Thái độ”như sau:
Thái độ tạo ra động lực hoặc phản động lực cho con người trong các hoạt đông
của cá nhân và tập thể.Thái độ đúng đắn hay không nó sẽ giúp con người điều chỉnh
mục dích hành động và hành vi của mình.Nhà Tâm thần học và Tâm lý học Xô-viết V.N
Miaxise đã nhận xét rằng: “Dù lấy bất cứ một hoạt động nào của con người,ta cũng thấy
phản ánh trong đó bằng cách này hay cách khác thái độ của anh ta đối với kết quả của

-Cấu trúc của thái độ gồm có ba thành phần tương đối phụ thuộc lẫn nhau:
+Thành phần nhận thức:là những quan niện ý nghĩ của cong người
hoặc những ý kiến cụ thể của những đối tượng hay một người khác.
+Thành phần cảm xúc:Là những biểu tượng vè sự đánh giá cảm tính
của con người hoặc là những phản ứng cảm xúc của con người dối với một đối tượng
hay một người nào đó.
+Thành phần hành vi của thái độ:Là những dự định đối xử của con
người trong quan hệ với người khác hay với đối tượng của thái độ.
Ba thành phần có mối quan hệ chặt chẽ và hỗ trợ qua lại lẫn nhau.
-Thái độ của con người luôn bộc lộ ra bên ngoài bằng những biểu hiện thống nhất
giữa các mặt:Ý nghĩ,quan niệm,tình cảm và hành động.Cho nên có thể nói rằng từ tính
thống nhất của ý nghĩ,tình cảm và hành động thì sự hiện diện của một thái độ xác định.
-Thái độ của con người luôn bộc lộ ra bên ngoài nên chúng ta có thể đo lường
được nó.Việc đo lường thái độ được tiến hành băng phương pháp điề tra xã hội học là
đạt hiệu quả cao nhất.
1.2.2.2Vai trò của thái độ đối với hoạt động lao động của con người.
Mặc dù vấn đề thái độ ít được khoa học nghiên cứu,nhưng khhi đề cập đến thái
độ thì nhà tâm lý học nào cũng thừa nhận vai trò của thái độ đối với hoạt động con
người.
Thái độ là yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động.Trước
những hoàn cảnh như nhau,những người có những mục đích khác nhau cho nên thái độ
không những ảnh hưởng tới việc đề ra mục đích hoạt động mà còn ảnh hưởng đến
cường độ và chất lượng hoạt động. A.G Gôraliôv đã viết: “Việc đặc ra mục đích và
phương thức thực hiện nó,cường độ thúc đẩy người ta đạt tới mục đích không chỉ phụ
15
thuộc vào những yêu cầu của hoàn cảnh hiện tại mà còn phụ thuộc vào tính chất của hệ
thống thái độ đã có của người ta đối với thế giới khách quan và đối với bản thân”.[ A.G
Gôraliôv : Tâm lý học cá nhân –Nxb Giáo dục Hà Nội 1971,tập 3,tr181]
Các nhà tâm lý học cũng khẳn định thái độ của cá nhân cũng quy định tính chất
sự nổ lực ý chí của người ta khi làm một nhiệm vụ nào đó.

người là công việc của những nhóm xã hộ chứ không một cá nhân riêng lẻ thực hiện và
mục đích của bất kỳ hình thức lao động nào cũng có tính chất xã hội.Trong tác phẩm
“Tư bản”,C.Mác đã xá điịnh bản chất xã hội và mục đích chung của lao động như sau:
“Lao động là những hoạt động có mục đích để tạo ra những giá trị sử dụng”.
Thứ hai ,xéc về phương diện sinh lý học,thao C.Mác: “Dù các dạng lao động có
ích khác nhau như thế nào,dù những hoạt động sản xuất khác nhau đến đâu thì về
phương diện sinh lý học,đó vẫn là chức năng của cơ thể con người,và mỗi chức năng ấy
dù nội dung và hình thức của nó như thế nào về thực chất cũng chỉ là sự tiêu hao
não,thần kinh cơ bắp và các cơ quan cảm giác …” ”.[Đào Thị Oanh.Tâm lý học lao
động.Nxb đại học quốc gia Hà Nội 1999,tr 4]
Hoạt động lao động là một dạng hoạt động đặc biệt của con người.Để tiến hành
lao động con người cần có kỹ thuật lao động và cần nhận thức được mục đích ý nghĩa
nhất định từ đó họ làm việc một cách tự giác.
Vậy hiểu được lao động và vai trò của lao động và các đặc tính của lao động thì
góp phần nâng cao ý thức ,thái độ của cá nhân đối với lao động.Ngoài ra giúp chúng ta
lựa chọn nghề nghiệp,tìm việc thích hợp và dễ dàng hơn.
1.2.3.2 Làm thêm vối với sinh viên.
Nói chung ,làm thêm là một dạng lao động phụ của con người nhằm nhiều mục
đích khac nhau.Như kiếm thêm thu nhập,tăng kỹ năng giao tiếp,mở rộng quan hệ xã
hội…
Đối với sinh viên thì làm thêm là nhu cầu cần thiết và có thể gọi là cấp thiết
nhất.Và sinh có rất nhiều lí do để đi làm thêm.Ngoài giờ học trên trường và tự nghiên
cứu thì họ có khá nhiều thời gian rãnh.Như vây cũng co những sinh viên nhận định là
việc đi làm thêm là một cách giết thời gian.Cũng có một số khác thi cho rằng việc đi
làm thêm là để nâng cao kỹ năng giao tiếp ,quan hệ xã hội,và cũng là cơ hội tích lũy
kinh nghiệm trong quá trình vận dụng các lý thuyết vào thực tiễn.
Theo tôi nghĩ là một sinh viên đại học, có thể chúng ta cũng sẽ muốn kiếm một
17
công việc bán thời gian giống như những sinh viên khác. Bên cạnh việc giúp chúng ta
trang trải phần nào chi phí, một công việc còn đem lại cho chúng ta những kinh nghiệm

Tiến sĩ
- 551 Thạc sĩ, Kỹ sư và Cử nhân
- 24.242 sinh viên
….11.318 Sinh viên chính quy
1.720 SV hệ liên kết
11.204 SV hệ vừa làm vừa học
Sinh viên trường đại học Quy Nhơn với truyền thống hiếu học,năng động học tập và
nghiên cứu khoa học.Đồng thời cũng năng động trong các hoạt động lao động thực tiễn và
các hoạt động xã hội khác.Thực tế sinh viên Đai học Quy Nhơn,dưới sự chỉ đạo của quý
thầy cô giáo đã đóng góp nhiều thành tích trong học tập và nghiên cứu khoa học hiện
nay.Như tham gia nghiên cứu khoa học có nhiều đề tài có giá trị khoa học cao,tham gia các
cuộc thi Olympic của bộ giáo dục và đào tạo tổ chức.
2.Kết quả nghiên cứu thực tiễn.
Qua quá trình thực hiện nghiên cứu chúng tôi có kết quả như sau:
Bảng 1:Những khó khăn sinh viên thường gặp.
Những khó khăn Số lượng (sinh viên) Tỉ lệ (%)
Tài chính 240/417 57,55
Thời gian học tập,nghiên cứu 34/417 8,15
Các phương tiện hỗ trợ học tập 84/417 20,14
Giao tiếp 22/417 5,28
Ý kiến khác 37/417 8,87

Từ bảng số liệu trên ta nhận thấy:
- Đa số sinh viên đều cho rằng khó khăn lớn nhất mà sinh thường gặp phải là vấn đề
tài chính (57,55%).
20
- Một số bộ phận sinh viên cho rằng thời gian học tập,nghiên cứu (8,15%),các
phương tiện hỗ trợ học tập (20,14%) và giao tiếp (5,28%) là những khó khăn ,trở ngại lớn
nhất đối với họ.
- Một số sinh viên cho rằng ngoài những khó khăn trên còn có những khó khăn khác

sinh viên năm thứ I (12,95%).
- Một số ít sinh viên tìm cách giải quyết khác(8,87%),và nhờ bạn bè giúp đỡ(2,88%).
Bảng 4:Quan niệm của sinh viên về vấn đề đi làm thêm.
Quan niệm của sinh viên về vấn đề đi làm
thêm
Số lượng ( Sinh viên) Tỉ lệ (%)
Làm ngoài giờ học để kiếm tiền 143/417 34,29
Là một cách tự chủ và vượt qua những thách
thức trong đới sống sinh viên.
217/417 52,04
Cách hiểu khác…
57/417 13,67
Từ bảng số liệu trên ta nhận thấy:
- Phần lớn sinh viên có quan niệm đi làm thêm là một cách tự chủ và vượt qua
những thách thức trong đời sống sinh viên (52,04%).
- Một số sinh viên cho rằng đi làm thêm đối với sinh viên là làm việc ngoài giờ
học để kiếm tiền(34,29%).
- Số ít sinh viên có quan niệm khác đối với việc đi làm thêm(13,67%). Như :hiểu
biết thêm cuộc sống,tiếp cận thực tiễn,thể hiện mình,…
Nhận xét:
Qua bốn bảng số liệu trên ta thấy hầu hết sinh viên đều cho rằng khó khăn lớn nhất
đối với họ là vấn đề tài chính mặc dù số tiền gia đình gửi cho họ hàng tháng là vừa đủ cho
việc sinh hoạt và học tập .Điều này cũng dễ hiểu vì bên cạnh chi phí cho sinh hoạt(ăn,
uống hằng ngày) và học tập, sinh viên còn các hoạt động khác như vui chơi giải trí ,sinh
nhật bạn bè,tham giai vào các hoạt động phong trào của lớp,của hội vào các ngày lễ lớn
trong năm.Mà số tiền gia đình gửi hàng tháng cho họ chỉ đủ cho những chi phí thiết
yếu(phần cứng) con những khoản chi tiêu khác(phần mềm) thì không tín đến nên thiếu tiên
là điều dễ hiểu. Thiếu hụt về kinh tế nhưng lại muốn thoả mãn những nhu cầu của mình
nên họ tìm những cách thức giải quyết hợp lí cho bản thân và một trong những cách giải
quyết mà họ cho là tốt nhất, được sự chọn lựa nhiều nhất là:tiết kiệm tối đa chi phí hoặc là

23
cao nhất(36,39%),thứ hai là sinh viên đã từng đi làm(33,09%),và thấp nhất là sinh viên
đang làm thêm(29,98%).
Nhận xét:
Mặc dù sinh viên rất thích đi làm thêm nhưng theo con số thực trạng thì hiện nay số
sinh viên đi làm thêm vẫn chưa cao hơn nhiều so với số sinh viên chưa bao giờ đi làm thêm
bởi do một số những nguyên nhân cơ bản như:việc làm không phù hợp với khả năng và
năng lực của sinh viên,thu nhập thấp,không có hoặc không biết nơi tuyển dụng việc
làm,các trung tâm giới thiệu việc làm không đảm bảo thu cước phí cao,sợ dư luận,sợ năng
lực của mình không làm được,không thắng được sức ì bản thân…
Bảng 7:Nhu cầu của sinh viên đối với việc đi làm thêm.
Mức độ nhu cầu Số lượng ( Sinh viên) Tỉ lệ (%)
Rất cần thiết 24/417 5,76
Cần thiết 141/417 33,81
Bình thường 236/417 56,59
Không cần thiết 16/417 3,84
Từ bảng số liệu trên ta nhận thấy:
-Khá nhiều sinh viên cho rằng việc đi làm thêm là cần thiết(33,81%),tuy nhiên cũng
có nhiều sinh viên có nhu cầu bình thường(56,59%).
Có rất ít sinh viên coi việc đi làm thêm là không cần thiết(3,84%)và một số ít sinh
viên coi vấn đề làm thêm là một việc hết sức cần thiết(5,76%).
Nhận xét:
Có nhiều sinh viên có nhu cầu bình thường đố với việc đi làm thêm bởi vì số tiền gia
đình gửi hàng tháng cho họ vừ đủ để họ sinh hoạt và hoc tập nếu họ tiết kiệm chi tiêu ở
mức độ tối đa vì thế nên việc đi làm thêm của họ không trở nên cấp thiết và nếu số tiền gia
đình gửi cho họ hàng tháng là không đủ thì họ phải đi làm thêm để trang trải cuộc sống và
học tập thì lúc này việc đi làm thêm sẽ rất cần thiết đối với họ.
Bảng 8:Sinh viên đi làm thêm với mục đích.
Mục đích Số lượng ( Sinh viên) Tỉ lệ (%)
Kiếm tiền 188/417 45,08

việc có tính chất ít tốn thời gian(17,99%).Soos khác thì thích chọn công việc có thu nhập
khá(15,59%),công việc nhẹ(8,63%).Và công việc đòi hỏi sự năng động (10,55%).Có rất ít
sinh viên khi lựa chọn công việc quan tâm đến vấn đề ít dư luận xã hội( 4,08%).
Bảng 10:Hướng lựa chọn công việc làm thêm của sinh viên.
Loại công việc Số lượng ( Sinh viên) Tỉ lệ (%)
Gia sư
251/417 60,19
Bán hàng
66/417 15,83
Phục vụ quán cà-phê
27/417 6,47
Phục vụ quán ăn
21/417 5,04
Tiếp thị sản phẩm
24/417 5,76
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status