Số phận lịch sử của nền
Lý luận văn học Xô Viết
chính thống
Với tư cách là một hệ thống lí thuyết chính thống, lí luận văn học Mác xit ở Liên Xô
được kiến tạo từ những nguồn cội sau đây:
Thứ nhất: Tác phẩm kinh điển của K. Marx, F. Engels, V. Lenin. Vào đầu những
năm 30, các bức thư của K. Marx và F. Engels gửi cho F. Lassalle, M. Kautsky, M.
Harkness bắt đầu được dịch sang tiếng Nga và sau đó, năm 1938, xuất bản tuyển tập K.
Marx và F. Engels bàn về nghệ thuật
(15)
. Năm 1932, A.V. Lunasarski công bố tiểu luậnLenin
và nghiên cứu văn học. Bài viết này mở ra đường hướng cho việc nghiên cứu toàn bộ di sản
của Lenin, nhất là những tác phẩm có quan hệ trực tiếp tới văn học nghệ thuật, ví như Chủ
nghĩa kinh nghiệm phê phán và chủ nghĩa duy vật lịch sử (1905), Tổ chức đảng và văn học
có tính đảng (1905), Kỉ niệm Ghersel (1912), hoặc loạt bài viết về L.Tolstoi (1908-1911).
Năm 1969, để chuẩn bị kỉ niệm 100 năm ngày sinh của Lenin (1870-1970),
ở Leningrad người ta tổ chức xuất bản một công trình với nhan đề: Di sản Lenin và khoa
học về văn học
(16)
.
Thứ hai: Những tác phẩm văn học sáng tác theo khuynh hướng cách mạng - vô sản,
bắt đầu hình thành và phát triển từ những năm cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX. Trước hết đó
là sáng tác của các nhà văn, nhà thơ Nga từng rất quen thuộc với Việt Nam, như M. Gorki,
V. Majakovski, A.N. Tolstoi, A.A. Fadeev, D. Furmanov, A.X. Xerafimovich, F. Gladkov,
L. Leonov, K. Fedin… Ngay từ những năm 30, 40 của thế kỉ trước, những tác phẩm
như Người mẹ, Kẻ thù của Gorki, trường ca Tốt lắm của V. Majakovski, Con đường đau
khổ của A.A. Tolstoi, Sapaev của D. Furmanov, Suối thép của A.X. Xerafimovich, Chiến
bại của A.A. Fadeev, Sông Đông êm đềm, Đất vỡ hoang của M. Solokhov… đã được xem
là kiểu mẫu của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa. Sau này, khi nói tới nguồn cội của
phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa, người ta còn nhắc tới sáng tác của một số tên tuổi
của nhiều nước khác, như E. Jones (1819-1869, nhà văn Anh), G. Herwegh (1817-1875, nhà
nghĩa duy vật lịch sử (1905), Tổ chức đảng và văn học có tính đảng (1905), V.I. Lenin nhiều
lần nhấn mạnh mệnh đề văn nghệ phục vụ chính trị, phục vụ đấu tranh giai cấp và nguyên
tắc tính đảng trong khoa học xã hội - nhân văn, trong triết học và văn học nghệ thuật. Đây là
ý kiến phát biểu của V.I. Lenin trong bài Tổ chức đảng và văn học có tính đảng: “Đả đảo
những nhà văn không có đảng tính! Đả đảo những nhà văn siêu nhân! Sự nghiệp văn học
phải trở thành một bộ phận trong sự nghiệp của toàn thể giai cấp vô sản, phải thành “một cái
bánh xe nhỏ và đinh ốc nhỏ trong cỗ máy xã hội - dân chủ vĩ đại, duy nhất và thống nhất,
do đội quân tiên phong giác ngộ của toàn bộ giai cấp công nhân điều khiển. Sự nghiệp văn
học phải trở thành một bộ phận khăng khít của công tác có tổ chức, có kế hoạch, thống nhất
của đảng xã hội - dân chủ”
(17)
. Nguyên tắc tính đảng và yêu cầu văn nghệ phục vụ chính trị
do V.I. Lenin khởi xướng được quán triệt, mở rộng trong nhiều “Nghị quyết” của Hội nhà
văn qua các kì đại hội, “Nghị quyết” của Đảng Cộng sản Liên Xô và không ngừng được
triển khai trong nghiên cứu khoa học
(18)
và thực tiễn sáng tạo nghệ thuật. Cho nên, nếu đối
sánh hệ thống luận điểm trong nhận thức luận, phản ánh luận của chủ nghĩa Mác - Lenin với
các nguyên tắc của phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa và đường lối văn nghệ của
Đảng Cộng sản, ta sẽ thấy, nội dung tư tưởng hệ mới thực sự là linh hồn của nền lí luận văn
học Xô Viết chính thống.
Trong bài Iu.M. Lotman: Khoa học và tư tưởng hệ, Viện sĩ M.L. Gasparov nhận xét:
“Nghiên cứu văn học Xô Viết xây dựng trên nền tảng của chủ nghĩa Mác. Trong chủ nghĩa
Mác có phương pháp và tư tưởng hệ <…> Hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác chiến thắng hoàn
toàn xa lạ, chẳng phù hợp chút nào với phương pháp của chủ nghĩa Mác chiến đấu. Nhưng
điều đó đã được che đậy rất kĩ lưỡng”
(19)
. Thật vậy! Phép biện chứng và chủ nghĩa duy vật
lịch sử là linh hồn của nhận thức luận, phản ánh luận Mác xit - Leninit. Lập trường duy vật
lịch sử của chủ nghĩa Mác thể hiện ở hệ thống luận điểm về nguồn gốc, bản chất của văn
A.A. Zdanov
(23)
huấn thị: “Đồng chí Stalin gọi các đồng chí là những kĩ sư tâm hồn con
người. Danh hiệu ấy đặt ra trước các đồng chí những trách nhiệm gì? Trách nhiệm thứ nhất
là phải am hiểu đời sống để biết cách miêu tả nó một cách chân thực trong các tác phẩm
nghệ thuật, không phải miêu tả theo kiểu giáo điều, chết cứng, càng không phải miêu tả một
cách giản đơn giống như thứ “hiện thực khách quan”, mà miêu tả hiện thực trong sự phát
triển cách mạng. Chẳng những thế, tính chân thật và tính cụ thể lịch sử của sự phản ánh nghệ
thuật cần phải kết hợp với nhiệm vụ cải tạo tư tưởng và giáo dục quần chúng lao động theo
tinh thần của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa”
(24)
. Thế nào là “miêu tả hiện thực trong
sự phát triển cách mạng”? Điều lệ Hội nhà văn Liên Xô ghi rõ: “Hội nhà văn Liên Xô đặt
mục đích chính yếu là sáng tạo những tác phẩm nghệ thuật có giá trị nghệ thuật cao, mang
hơi thở cuộc đấu tranh anh hùng của giai cấp vô sản thế giới, thấm đẫm cảm hứng
chiến thắng của chủ nghĩa xã hội, phản ánh sự anh minh vĩ đại và chủ nghĩa anh hùng
của đảng cộng sản. Mục đích mà Hội nhà văn Liên Xô đặt cho mình là sáng tạo những tác
phẩm nghệ thuật xứng đáng với thời đại vĩ đại của chủ nghĩa xã hội” (Những chữ in đậm do
tôi nhấn mạnh LN)
(25)
. Rõ ràng, chức năng giáo dục mới thực sự là điểm then chốt của
phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa. Ở đây, nội dung nhận thức luận được thay thế
hoàn toàn bằng nội dung tư tưởng hệ, giai cấp luận. Cho nên, sau này, các sách giáo khoa,
giáo trình lí luận văn học được sử dụng rộng rãi trong các trường đại học và cao đẳng ở Liên
Xô đều nhấn mạnh chức năng giáo dục và xem tính đảng cộng sản là linh hồncủa phương
pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa
(26)
.
Theo con đường nhà nước hoá, chính trị hoá, lí luận văn học Xô Viết đã triệt tiêu về
cơ bản cơ chế lựa chọn làm nên tính phức điệu và trạng thái đối thoại văn hóa được hình
được xuất bản với khối lượng khổng lồ. Các tạp chí văn học mỗi
số phát hành hàng triệu bản. Cả phê bình chuyên nghiệp lẫn phê bình đại chúng thảo luận rất
sôi nổi về trước tác của những nhà văn Nga lưu vong, như I.A. Bunin, A.I. Solzenisyn, V.P.
Nhecrasov, G.N. Vladimov, P.A. Sorokin, V.E. Marsimov, hoặc những tác phẩm từng bị
cấm vào những năm 20-30, nay mới được xuất bản, ví như Chúng tôi của E.I. Zamjatin, Hố
móng của A.P. Platonov, Bác sĩ Jivago của B.L. Pasternak, Những đứa con của Arbat của
A.N. Rybakov, Cuộc đời và số phận của V.S. Grossman…
(29)
.
Giữa sự náo nhiệt ấy, người ta dễ nhận ra những dấu hiệu của sự hỗn loạn. Tình trạng
hỗn loạn được thể hiện rõ nhất ở sự rối loạn của hệ thống chuẩn mực giá trị. Rất nhiều giá
trị nghệ thuật từng được khẳng định mạnh mẽ dưới chế độ Xô Viết, tưởng như đã ổn định,
nay được đưa ra xem xét lại. Khi xem xét lại như thế, người ta chia giới lí luận, phê bình
thành hai phe, một bên là môn đệ Stalin, bên kia là những ai chống lại ông ấy. Trên tạp
chí Tháng Mười, số 8 năm 1987, nhà phê bình trẻ Iu. Burtin còn đối lập “thời Stalin” với
“thời Breznev”. Những sự đối lập như thế đã mở đường cho việc phủ nhận sạch trơn toàn bộ
hệ thống xã hội và những giá trị văn hoá dưới chế độ Xô Viết. Chẳng hạn, năm 1928, tên
của M. Gorki được mang ra để đặt cho nhiều thành phố, đại lộ, ga tầu điện ngầm, nhà hát,
thư viện, công viên, thậm chí có cả những sân bay mang tên Gorki. N.N. Primochkina nhận
xét: “Từ 1928 đến 1933 là thời mà sự thừa nhận chính thức của chính quyền Xô viết dành
cho Gorki lên tới mức cao nhất, ông ấy có thể lui tới nơi làm việc của những nhân vật cao
cấp nhất, ân sủng mà người dồn cho ông ấy như nước chảy chỗ trũng”
(30)
. Nhưng từ cuối
những năm 80, từ thành phố quê hương của Gorki, các thành phố khác, cho đến các ga tàu
điện ngầm và ngay cả đại lộ mang tên Gorki ở Moscow… đều nhất loạt đổi tên. Người ta đề
nghị đưa tác phẩm của Gorki ra khỏi chương trình đào tạo của nhà trường. Khi người ta
thanh lọc hệ thống thư viện của Đảng Cộng sản, sách của Gorki thậm chí còn bị mang ra
đốt
(31)
những điều kiện vật chất để làm việc ấy. Từ đó, tôi rút ra kết luận (…), nếu các bạn biết nhìn
và thấy rõ, thì Belinski chẳng cần cho các bạn, nếu các bạn không thể thấy như thế thì nhà
phê bình sẽ làm cho các bạn phải nhầm lẫn”. V. Belinski chính là “thời non trẻ ngây thơ của
chúng ta” và cũng là “thời non trẻ ngây thơ” của một nền “phê bình chưa kịp trưởng
thành”
(35)
. Tình trạng rối loạn chuẩn mực giá trị là bằng chứng nói lên sự sụp đổ vô phương
cứu vãn của hệ thống lí luận chính thống.
5. Tất nhiên, sự hỗn loạn chỉ là cái phần nổi trên bề mặt của đời sống phê bình diễn ra
ở những cuộc hội nghị, hội thảo được tổ chức liên miên trong giai đoạn cải tổ. Khi Liên Xô
tan rã, đời sống kinh tế của đất nước trở nên vô cùng khó khăn, nhìn vào khối lượng phát
hành của các tạp chí, các đầu sách được xuất bản trong khoảng thời gian 1991-1995, ta thấy,
hoạt động văn nghệ và nghiên cứu khoa học có vẻ lắng xuống. Người ta gọi đó là thời kì trì
trệ. Nhưng cả sự hỗn loạn lẫn sự trì trệ rồi cũng qua đi. Theo dõi những chuyển động đang
diễn ra trong đời sống học thuật của nước Nga hậu Xô Viết, ta dễ dàng nhận ra sự lên ngôi
của các hệ thống lí thuyết trước kia bị xem là phi chính thống (ví như thi pháp lí thuyết của
Trường phái hình thức, kí hiệu học văn hoá của Trường phái Tartu - Moscow), sự “hồi
hương” của lí luận hải ngoại, sự tiếp thu cởi mở các học phái Âu - Mĩ và M. Bakhtin được
đặt ngang hàng với những tác gia kinh điển vĩ đại của nhân loại. Di sản triết học, mĩ học của
M.Bakhtin đang mở đường đưa lí luận văn học ngày càng xích lại gần với văn hoá học. Trên
các diễn đàn khoa học, ngày càng xuất hiện nhiều hơn những tên tuổi thật mới. Lớp học giả
ở độ tráng niên “tứ thập”, “ngũ thập” thấy văn học hậu hiện đại là đối tượng mà nghiên cứu
văn học không được phép bỏ qua. Đã thấy xuất hiện nhiều chuyên luận nghiên cứu kĩ lưỡng
văn học hậu hiện đại Nga
(36)
. Bên cạnh những bộ Bách khoa Đại Từ điển truyền thống, trên
giá sách của người Nga hiện nay còn có cả Từ điển thuật ngữ hậu hiện đại được biên soạn
rất công phu
(37)
. Những chuyển động ấy làm cho hệ thống lí luận Xô Viết chính thống trở