Số phận lịch sử của nền Lý luận văn học Xô Viết chính thống - Pdf 19

Số phận lịch sử của nền
Lý luận vă
n h
ọc Xô Viết
chính thống
1. Hơn hai chục năm nay, kể từ khi Trung Quốc tiến hành “cải cách mở cửa”
và Việt Nam thực hiện công cuộc “đổi mới”, trên diễn đàn văn học ở cả hai nước,
người ta đã tổ chức hàng trăm cuộc hội thảo lớn bé nói về sự yếu kém của lí luận, phê
bình văn học và bàn mưu tính kế thúc đẩy sự phát triển của nó. Quan sát những cuộc
hội thảo như thế, đâu đâu tôi cũng nghe thấy “chúng khẩu đồng từ” nhất loạt đổ tội
cho Liên Xô, xem việc trước kia mình bắt chước mô hình lí thuyết của ông “anh cả”
để xây dựng nền lí luận văn học của dân tộc là nguyên nhân tạo nên sự yếu kém và
tình trạng xơ cứng của nó về sau này. Nếu có chút hiểu biết về Liên Xô ta sẽ thấy, nói
như thế là không thực sự cầu thị. Bởi vì nền lí luận văn học của Liên Xô chưa bao giờ
là hiện tượng thuần nhất. Ở Liên Xô, giai đoạn nào cũng vậy, bên cạnh hệ thống lí
luận văn học chính thống, còn có rất nhiều hệ thống lí thuyết phi chính thống. Đó là
di sản triết học, mĩ học của M. Bakhtin, người đã mở ra cả một “hệ hình tư duy mới
của thiên niên kỉ thứ ba”
(1)
, là thi pháp học lí thuyết của Trường phái hình thức, là kí
hiệu học văn hoá của Trường phái Tartu - Moscow… Các nước Âu - Mĩ đã khai thác
những mỏ vàng ấy để tạo nên một thời đại lí luận văn học vô cùng giàu có, rạng rỡ
kéo dài suốt từ những năm 60 cho đến hết những năm 80 của thế kỉ trước. Trung
Quốc, Việt Nam và nhiều nước trong phe xã hội chủ nghĩa lại tìm thấy cho mình kho
báu tri thức ở hệ thống lí luận văn học chính thống của Liên Xô. Vậy lí luận văn học
chính thống ở Liên Xô là gì? Nó được hình thành từ bao giờ? Nó có vị trí thế nào
trong cấu trúc chỉnh thể của khoa nghiên cứu văn học Xô Viết? Sau khi nhà nước
Liên Xô tan rã, số phận lịch sử của nó diễn biến ra sao? Phải trả lời được những câu
hỏi như thế, ta mới hy vọng rút ra những bài học bổ ích cho việc xây dựng nền lí
luận, phê bình văn học Việt Nam.
2. Ta biết, ngày 30 tháng 12 năm 1922, một quốc gia mới được thành lập, gọi là

hiện rõ nhất qua sự nở rộ của vô số các hiệp hội và các nhóm văn học
(3)
. Có hai Hiệp hội
rất lớn: Hiệp hội các nhà thơ toàn Nga và Hiệp hội các nhà văn toàn Nga. Hiệp hội các
nhà thơ toàn Nga có trụ sở ở Moscow và Petrograd (Leningrad, Peterburg). Ở Moscow,
Hội các nhà thơ hoạt động liên tục từ 1918 đến 1929 gắn với những tên tuổi lớn như V.
Kamenski, V. Briusov, G. Senghel. Ở Petrograg, hoạt động của Hội này chia thành hai
thời kì: 1920 - 1922 và 1924 - 1929, với sự tham gia của các nhà thơ A. Blok, N.
Gumilev, I. Sadofiev, N. Tikhonov. Hiệp hội các nhà văn toàn Nga được thành lập năm
1918, do B. Zaisev làm Chủ tịch, cũng có hai chi nhánh ở Moscow và Petrograd. Ngoài
ra, còn có thể kể thêm một số hiệp hội như “Hội các nhà hoạt động văn học nghệ thuật”
(thành lập tháng 3 năm 1918 ở Petrograd, với sự tham gia của M. Gorki, A. Blok, N.
Gumilev, A. Kuprin, E. Zamiatin, K. Tsukopski…), hoặc “Hội những người yêu văn
chương Nga” (1910 - 1930, với sự tham gia của hầu hết các nhà văn, nhà thơ Nga nổi
tiếng thời ấy, ví như L. Tolstoi, V. Solovief, V. Korolenko, V. Veresaev, M. Gorki, K.
Balmont, D. Merezkopski, V. Briusov, A. Belyi, Vjach. Ivanov, M. Volosin, B.Zaisev,
A, Kuprin, A. Berdjaev…).
Các nhóm văn học xuất hiện khắp mọi nơi và hoạt động trên cái nền của các đại
Hiệp hội nói trên. Một số tài liệu thống kê cho biết, thời kì này, chỉ riêng ở Moscow đã
có trên 30 nhóm văn học hoạt động
(4)
. Có thể tìm thấy trong các giáo khoa, giáo trình
lịch sử văn học Nga, các loại từ điển “Thuật ngữ văn học”, “Bách khoa văn học”, “Bách
khoa toàn thư”, “Đại bách khoa Xô Viết”… các khái niệm về những nhóm văn học sau
đây: 1. Nhóm DÂN SKIF (tiếng Nga: “СКИФЫ”), 2. Nhóm CÁNH TẢ (ЛЕФ, 1922 -
1929), 3.NhómHÌNH TƯỢNG LUẬN (ИМАЖИНИЗМ), 4. Nhóm CẤU TRÚC
LUẬN (КОНСТРУКТИВИЗМ), 5. Nhóm ANH EM
SERAPIONOV (СЕРАПИОНОВЫ БРAТЬЯ), 6. NhómCÁI ĐÈO (ПЕРЕВАЛ),
7. PROLETKULT (ПРОЛЕТКУЛЬТ), 8. Nhóm THỢ RÈN và VAPP,
VOAPP (КУЗНИЦА И ВАПП, ВОАПП)…

như thế nhằm đối lập với Phái hữu trong nhóm văn học này. Tức là quan điểm nghệ
thuật của nhóm Vị lai ở Nga vốn cũng rất phức tạp
(6)
.
Nếu đem Dân Skif đặt bên cạnh Proletcult, hoặc RAPP, ta càng thấy sự đa dạng
của quan niệm nghệ thuật trong đời sống văn học ở nước Nga vào những năm 20. Bản
thânDân Skif là tập hợp của những nhà văn thuộc nhiều trường phái, khuynh hướng
khác nhau. Nhưng nhìn chung, tuyên ngôn nghệ thuật của nhóm này thường thấm đẫm
tâm trạng thất vọng trước cuộc Cách mạng tháng Hai. Sau tháng Mười, họ xem cách
mạng giống như một thứ thiên đường của nông dân. Vị chủ soái của nhóm này là Ivanov
- Razumnhik thường quay về với nguồn cội Slavơ cổ xưa của nền văn hoá Nga để tìm
kiếm cái đẹp, và vì thế, ông đặc biệt coi trọng ý nghĩa của chủ nghĩa tượng trưng huyền
thoại. Lí luận của Proletcultlại đặc biệt nhấn mạnh tính giai cấp và lập trường vô
sản trong tất cả các lĩnh vực mĩ học, đạo đức và tư tưởng hệ. Họ đề cao cái “ta” tập thể
và tính ưu việt của hoạt động thực tiễn, phủ nhận cái “tôi” cá nhân và các hoạt động sáng
tạo tinh thần. Họ xem sáng tạo nghệ thuật cũng giống như “tổ chức” kinh nghiệm tập thể
của con người dưới dạng những “hình tượng sống”
(7)
. Họ không chấp nhận di sản văn
hoá của các thời đại trước để lại, họ đem văn hoá vô sản đối lập với mọi nền văn hoá
khác. Theo họ, “sự thống nhất của hứng khởi” với máy móc (chủ nghĩa cơ giới) và cái
nhìn thế giới từ quan điểm “lao động - tập thể” là những nguyên tắc thẩm mĩ phù hợp
nhất với tâm lí, tình cảm của giai cấp công nhân. Nhận về mình sứ mệnh đào tạo các nhà
văn xuất thân từ giai cấp công nhân, Proletcul tự tách ra khỏi mọi tầng lớp xã hội, kể cả
nông dân và trí thức. Một lí luận gia của Proletcult là Fedor Kalinin quả quyết, rằng chỉ
nhà văn - công nhân mới có thể nghe được tiếng “thì thầm trong tâm hồn” của giai cấp
vô sản. Về cơ bản RAPP đã kế thừa khuynh hướng xã hội học dung tục
của Proletcult. RAPP tuyên bố trước bàn dân thiên hạ, rằng họ không chỉ là tổ chức văn
hoá vô sản, mà còn là đại diện duy nhất của Đảng trong lĩnh vực văn học, nên kẻ nào
chống lại RAPP tức là chống Đảng. Tuy nhiên, khác với Prolecult, RAPP kêu gọi học

Ở các nước xã hội chủ nghĩa trước kia, lí luận văn học chính thống được gọi là lí
luận “Mác xít”, hoặc “Mác xit - Leninit”. Cánh cửa dẫn lí luận Mác xit tới địa vị chính
thống ở Liên Xô được mở ra bằng con đường hành chính, tổ chức, nhằm nhà nước
hoá các hoạt động văn nghệ và khoa học. Như đã nói, vào những năm 20, trên đất nước
Liên Xô có hàng trăm nhóm phái, hiệp hội văn học hoạt động. Đến những năm 30, tất cả
những nhóm, phái đó đều “bị thủ tiêu” theo quyết định của đảng cầm quyền. Nghị
quyết Về việc cải tổ các tổ chức văn học nghệ thuật của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản
Liên Xô ban hành vào ngày 23.4.1932 ghi rõ: “Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng
sản toàn quốc quyết định: 1) Thủ tiêu các hiệp hội nhà văn vô sản (VOPP, RАPP); 2)
Tập hợp tất cả các nhà văn tán thành đường lối của chính quyền Xô Viết và có khát
vọng tham gia xây dựng chủ nghĩa xã hội vào một hội duy nhất của các nhà văn xô viết
trong đó có tổ chức của đảng cộng sản”
(10)
. Hội nhà văn, cũng như các Viện nghiên cứu
văn học sau này, là tổ chức nghề nghiệp, nhưng cũng là cơ quan thực hiện chức năng
kiểm soát nhà nước đối với các hoạt động văn nghệ và khoa học. Hội viên Hội nhà văn,
nhà khoa học làm việc trong các Viện nghiên cứu được hưởng những quyền lợi mà
người bị khai trừ ra khỏi các tổ chức ấy, hoặc người lao động tự do không thể có. Ví như
họ được nhà nước trả lương, được tạo điều kiện xuất bản để công bố tác phẩm của cá
nhân. Đây là cách thức biến Hội nhà văn và các Viện nghiên cứu văn học ở Liên Xô
thành những cơ quan phát ngôn cho tiếng nói chính thống của Đảng và Nhà nước.
Nghị quyết của Bộ chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Nga Về
đường lối của đảng trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, ban hành ngày 18.6.1925, chỉ ra:
“Chúng ta (…) đã bước sang thời đại làm cách mạng văn hoá nhằm tạo tiền đề để tiếp
tục tiến tới xã hội cộng sản chủ nghĩa”. “Giống như cuộc đấu tranh giai cấp nói chung
chưa kết thúc, cuộc đấu tranh giai cấp trên mặt trận văn học cũng chưa thể kết thúc”
(11)
.
Theo tinh thần của những “Nghị quyết” như thế, hoạt động văn nghệ và các khoa học về
văn học không ngừng được chính trị hoá. Các thuật ngữ chính trị - xã hội và đấu tranh

Leningrad, vì ông là “tín đồ của chủ nghĩa hình thức”, cuốn sách của ông cũng lập tức
biến mất, mãi 29 năm sau, năm 1959, giới nghiên cứu lại mới được nhìn thấy nó
(14)
. Ta
biết, Trường phái Tartu - Moscow chính thức xuất hiện từ đầu những năm 60. Nhưng
cho đến cuối những năm 80, ở Liên Xô chưa thấy có cuốn giáo trình lí luận văn học
nào viện dẫn các công trình của trường phái này như những tài liệu tham khảo chính
thức. Thực tế cho thấy, cho đến tận cuối những năm 90 của thế kỉ trước, lí luận văn
học Mác xit vẫn tồn tại ở Liên Xô như một hệ thống lí thuyết chính thống.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status