KHÁI QUÁT ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN CỦA
TỈNH ĐIỆN BIÊN
III. VĂN HOÁ XÃ HỘI
Văn hóa, thông tin, thể dục thể thao
Văn hoá, thông tin: Những di tích và các giá trị văn hoá vật thể cũng
như văn hóa phi vật thể, đặc biệt là bản sắc văn hoá các dân tộc luôn
đư¬ợc gìn giữ và phát huy. Phong trào xây dựng gia đình văn hoá và
bản làng văn hoá, đặc biệt là cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây
dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư" phát triển mạnh. Toàn tỉnh có
800 bản làng đăng ký đạt tiêu chuẩn bản làng văn hoá, trong đó
được công nhận đạt tiêu chuẩn 568 làng, bản.
Các lễ hội, các trò chơi dân gian truyền thống được giàn giữ và khôi
phục tiêu biểu là các lễ hội của đồng bào Thái, Mông, lễ hội đền
Hoàng Công Chất… Sóng truyền hình Việt Nam phủ được cho 84%
dân số, sóng truyền hình Tỉnh phủ được cho 67% dân số; Sóng phát
thanh Việt Nam phủ được cho 98,8% dân số, sóng truyền hình Tỉnh
phủ được cho 48% dân số.
Giáo dục - đào tạo:
Giáo dục: Toàn tỉnh đã đạt chuẩn phổ cập giáo dục Tiểu học và xoá
mù chữ. Chương trình phổ cập THCS được triển khai thực hiện từ
năm 2001, đến cuối năm 2007 đã có 72/106 xã, phường đạt chuẩn
phổ cập THCS. Đến nay toàn tỉnh có 372 cơ sở giáo dục các cấp gồm:
89 trường mầm non; 146 trường tiểu học; 111 trường THCS; 18
trường THPT; 1 trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh, 6 TTGDTX
vào sản xuất tập đoàn giống mới có năng suất chất lượng tốt như:
giống lúa, giống ngô, giống đậu tương, giống nấm, tập đoàn giống cây
ăn quả và các giống bò, lợn, gà, tôm, cá góp phần đưa năng suất cây
trồng, vật nuôi tăng 15 - 20%. Bên cạnh những kết quả đã đạt được,
lĩnh vực khoa học - công nghệ và quản lý tài nguyên - môi trường ở
Điện Biên vẫn còn nhiều yếu kém so với các địa phương khác trong
vùng và cả nước, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã
hội của tỉnh. Môi trường: Môi trường không khí, chất lượng môi trường không
khí của Điện Biên chưa bị ô nhiễm, các chỉ tiêu SO2, NO2, Co, NO,
CO2, H2S, CH4 đều thấp hơn tiêu chuẩn cho phép. Ô nhiễm bụi và
tiếng ồn cũng chỉ xảy ra cục bộ tại một vài khu đô thị và tập trung
dân cư.
Môi trường nước, nguồn nước của các hồ chứa trong tỉnh hiện tại
đều chưa bị ô nhiễm. Song nước của một số sông suối chính ở vùng
lòng chảo Điện Biên, thị trấn Tuần Giáo, Điện Biên Đông, thị xã
Mường Lay đã có biểu hiện ô nhiễm Nitrit, Colifom, chất rắn lơ
lửng, dầu mỡ, COD, BOD do nước thải của các cơ sở sản xuất và
nước thải sinh hoạt chưa qua xử lý thải trực tiếp ra sông, suối.
Nguồn nước ngầm trong tỉnh, nhất là ở các khu vực Điện Biên, Tuần
Giáo cũng đã có biểu hiện ô nhiễm Nitrit, Colifom do hầu hết các
nước thải, chất thải rắn chưa được xử lý triệt để và việc khai thác sử
dụng nước ngầm tự phát, không đúng kỹ thuật. Môi trường đô thị, do
hệ thống tiêu thoát và xử lý nước thải ở các đô thị trong tỉnh chưa
đáp ứng yêu cầu nên chất lượng môi trường đô thị cũng đang có biểu
hiện ô nhiễm. Tình trạng ô nhiễm bụi, khí thải, tiếng ồn do hoạt động
Thực hiện việc lồng ghép các chương trình dự án và các chính sách
hỗ trợ phát triển sản xuất, xóa đói giảm nghèo của Nhà nước và của
tỉnh; đời sống nhân dân các dân tộc đã có những bước cải thiện căn
bản, GDP bình quân đầu người năm 2007 ước đạt 365 USD/năm.
Hiện tại đã cơ bản không còn hộ đói, tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân
mỗi năm 5%. Đến cuối năm 2007 toàn tỉnh có 89.500 hộ, trong đó có
29.368 hộ đói nghèo chiếm 32,81%. Hàng năm giải quyết việc làm
cho 7.000 lao động.
Nguồn nhân lực
Dân số: Dân số trung bình năm 2007 của tỉnh Điện Biên là 468.282
người, mật độ dân số bình quân 49 người/ km2, là một trong những
tỉnh có mật độ dân số thấp nhất trong cả nước và thấp hơn nhiều so
với mật độ dân số trung bình của vùng Tây Bắc (69 người/km2) và
của cả nước (254 người/km2). Trên địa bàn tỉnh Điện Biên hiện có 21 dân tộc sinh sống, trong đó
dân tộc Thái chiếm tỷ lệ cao nhất, khoảng 42,2%, tiếp đến là dân tộc
H’Mông chiếm 27,2%, dân tộc Kinh chiếm 19%, dân tộc Khơ Mú
3,9%, còn lại là các dân tộc khác như Dao, Hà Nhì, Hoa, Kháng Các
dân tộc ở Điện Biên có những nét văn hoá đặc trưng của đồng bào
khu vực Tây Bắc.
Lao động: Số lao động trong độ tuổi của tỉnh năm 2007 là 285.652
người chiếm 61% dân số. Hiện nay số lao động đang làm việc trong
các ngành kinh tế quốc dân là 250.642 người, trong đó hầu hết là lao
động nông, lâm nghiệp chiếm tới 79,5% tổng số lao động đang làm
Bảo hiểm: Dịch vụ bảo hiểm được phục vụ đầy đủ đủ bởi các doanh
nghiệp uy tín trong và ngoài nước từ các loại hình bảo hiểm thông
dụng như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm nhân thọ tới các loại hình bảo
hiểm khác theo yêu cầu của khách hàng.
Thương mại: Mạng lưới thương mại được phát triển mạnh mẽ với sự
tham gia của nhiều thành phần kinh tế các trung tâm huyện, thị và
cụm xã đều đã có chợ trung tâm các xã đều đã có các cơ sở kinh
doanh dịch vụ thương mại, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu tiêu
dùng hàng hoá, tiêu thụ nông sản cho nhân dân, nhất là nhân dân ở
các vùng cao, vùng xa.
Năm 2007 tổng doanh thu hàng hoá bán lẻ và dịch vụ thương mại
trên địa bàn ước đạt 1160 tỷ đồng, nhịp độ tăng trưởng bình quân
thời kỳ 2001 - 2005 đạt 16,29%/năm. Tuy nhiên về thương mại
quốc tế, nhất là xuất nhập khẩu qua các cửa khẩu trên địa bàn còn
hạn chế chưa tương xứng với tiềm năng.
Dịch vụ vận tải: Dịch vụ vận tải phát triển mạnh, doanh nghiệp vận
tải Quốc doanh địa phương sớm được cổ phần hoá. Các nguồn lực
được tăng cường bổ sung, số đầu phương tiện và chất lượng được
đổi mới, hoạt động sản xuất kinh doanh có nhiều tiến bộ, đáp ứng
các nhu cầu vận tải hàng hoá và đi lại của nhân dân.
Dịch vụ Bưu điện: Các hoạt động bưu chính viễn thông cũng được
phát triển mạnh cả về chiều rộng và chiều sâu. Trung tâm các huyện
và hầu hết các khu vực thị tứ đều đã được phủ sóng điện thoại di
động. Hầu hết các bưu cục đều đã mở các dịch vụ điện thoại đường
dài, phát hành báo chí, chuyển tiền qua bưu điện tại trung tâm các
xã Nhiều loại hình phục vụ mới được áp dụng, góp phần tăng
- Tổng diện tích lúa chiêm xuân gieo cấy đạt 7.496 ha, năng suất bình
quân đạt 55,48 tạ/ha; sản lượng thu hoạch ước đạt 41.558 tấn.
- Diện tích lúa mùa đạt 15.553 ha, năng suất bình quân 41,66 tạ/ha,
sản lượng ước đạt 64.801,5.
- Diện tích lúa nương gieo trồng được 19.113 ha, sản lượng ước đạt
25.154,7 tấn.
- Cây ngô: Tổng diện tích ngô gieo trồng đạt 27.316 ha. Sản lượng
ước đạt 56.320 tấn, đạt 98 % kế hoạch.
1.1.2. Cây công nghiệp:
- Cây Đậu tương trồng được 9.138 ha, sản lượng thu hoạch ước đạt
10.950 tấn.
- Cây bông trồng được 1.377 ha, sản lượng ước đạt 2.042 tấn.
- Tiếp tục duy trì 223 ha chè và 412 ha cà phê hiện có, đồng thời
triển khai chăm sóc 7 ha chè và 90 ha cà phê trồng mới, sản lượng
chè búp tươi ước đạt 68 tấn, cà phê nhân 949 tấn.
1.1.3- Chăn nuôi: Tốc độ tăng đàn gia súc, gia cầm khá nhanh, ổn
định.
Theo số liệu điều tra ngày 01/8/2007, đàn gia súc có khoảng
369.701 con, trong đó có 105.199 con trâu, tăng 3,93% so với cùng
kỳ năm trước; 32.198 con bò, tăng 7,65% so với cùng kỳ năm trước,
232.304 con lợn, tăng 5,24% so với cùng kỳ năm trước.
Cuối tháng 7 và đầu tháng 8 trên địa bàn huyện Điện Biên và thành
phố Điện Biên Phủ xuất hiện dịch cúm gia cầm, song đã được kiểm
soát, dập tắt kịp thời. Tổng số gia cầm bị tiêu huỷ 29.340 con, trong
đó gà 1.842 con, vịt 25.957 con, ngan 1.541 con.
hàng thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân được cung
ứng đầy đủ.
- Du lịch: Tổng số du khách đến Điện Biên năm 2007 ước đạt 180
ngàn lượt khách, tăng 16,12% so năm trước, trong đó khách quốc tế
ước đạt 22 ngàn lượt, tăng 37,5 % so với năm trước; đặc biệt là sau
khi khai trương cửa khẩu quốc tế Tây Trang đã có một số đoàn
khách từ Thái Lan sang Điện Biên thăm quan, du lịch. Doanh thu xã
hội từ hoạt động du lịch ước đạt 72 tỷ đồng, tăng 20% so với năm
2006.
- Hoạt động xuất - nhập khẩu: Tháng 5/2007 chính quyền 2 tỉnh
Điện Biên và Phoong Sa Ly đã chính thức công bố khai trương cặp
cửa khẩu quốc tế Tây Trang - Xốp Hùn, là điều kiện thuận lợi để đẩy
mạnh hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh của tỉnh. Dự ước
kim ngạch xuất khẩu của tỉnh đạt 2 triệu 500 ngàn USD. Trong đó
xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ của địa phương ước đạt 1,87 triệu
USD; nhập khẩu đạt 1,7 triệu USD, tăng 41% so với năm 2006.
- Dịch vụ vận tải: Do việc nâng cấp cải tạo các tuyến quốc lộ 6, 279 và
12 diễn ra trong khi không có đường tránh, giá xăng dầu tăng cao
làm phát sinh chi phí đã ảnh hưởng khá nhiều đến hoạt động vận tải
đường bộ. Dự ước khối lượng hàng hóa luân chuyển đạt 135 triệu
398 ngàn tấn.km, tăng 0,96%; hành khách luân chuyển đạt 120 triệu
098 ngàn người.km, tăng 2,86% so với năm 2006.
- Tài chính - Tiền tệ:
+ Về thu ngân sách: Tổng thu ngân sách địa phương dự ước đạt
1.939,9 tỷ đồng, tăng 27,4% so với năm 2006. Trong đó thu ngân
trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp.
2. Về tình hình thực hiện đầu tư phát triển
Tổng nguồn vốn đầu tư phát triển trên địa bàn năm 2007 ước huy
động đạt 2.002 tỷ đồng, tăng 7,6% so với dự kiến trong kế hoạch đầu
năm. Gồm có nguồn vốn ngân sách và có nguồn gốc từ ngân sách
chiếm khoảng 75%, vốn đầu tư từ các thành phần kinh tế chiếm
25%.
Trong đó:
+ Vốn do địa phương quản lý: 1.340 tỷ đồng
+ Vốn các Bộ ngành trung ương đầu tư: 475 tỷ đồng
Tuy các nguồn đầu tư phát triển huy động từ các thành phần kinh tế
và vốn đầu tư của các Bộ ngành Trung ương trên địa bàn không đạt
kế hoạch, song nguồn vốn của ngân sách do địa phương quản lý đã
huy động thêm trong năm khá lớn, như nguồn trái phiếu cho các dự
án đầu tư cho các xã chưa có đường ô tô đến trung tâm xã được chấp
thuận 208 tỷ đồng, bổ sung tăng thu 25 tỷ đồng, tạm ứng 65 tỷ đồng,
bổ sung có mục tiêu 55 tỷ, huy động các nguồn ODA khác như dự án
làng trẻ SOS, dự án Tỉnh Bạn Hữu trẻ em, vốn JBIC dư của chương
trình IV với tổng mức đầu tư cho các dự án này trên 100 tỷ đồng
(thực hiện trong giai đoạn 2007 – 2009)… đã góp phần quan trọng
đảm bảo nguồn lực đầu tư theo kế hoạch, phục vụ mục tiêu tăng
trưởng chuyển dịch cơ cấu và đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng trên
địa bàn trong năm 2007.
Tổng số vốn thực hiện và giải ngân ước đạt 1.816 tỷ đồng, tăng 40%
so với năm 2006 và tương đương 66% GDP của Tỉnh.
4.424 học viên. Trong đó: Đào tạo hệ dài hạn (trung cấp: 424 h/v,
ngắn hạn (sơ cấp) 4.000 h/v. Trong đó đào tạo cho nông dân và
thanh niên dân tộc thiểu số là 1.400 học viên, chiếm 35%).
3.2. Về Y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân :
- Công tác khám chữa bệnh được chú trọng với tổng số lần khám
bệnh tại các cơ sở y tế là 871.619 lần đạt 91% kế hoạch năm tăng
5,8% so với cùng kỳ năm trước, tổng số lượt bệnh nhân điều trị nội
trú là 43.472 bệnh nhân đạt 116% so với kế hoạch và tăng 5,6% so
với cùng kỳ năm trước. Bình quân ngày sử dụng giường bệnh đạt 31
ngày/tháng. Đến nay toàn tỉnh đã phát thẻ bảo hiểm y tế cho người
nghèo 328.496 thẻ, với tổng số kinh phí 26.279 triệu đồng; 91% trẻ
em < 6 tuổi được cấp thẻ khám chữa bệnh.
- Các mục tiêu chương trình y tế quốc gia được đẩy mạnh Các hoạt
động phòng chống HIV/AIDS được triển khai tương đối tốt, công tác
quản lý và giám sát HIV/AIDS được tiến hành thường xuyên.
3.3. Công tác Dân số - Gia đình & Trẻ em được các cấp, các ngành
quan tâm chỉ đạo. Đã tổ chức chiến dịch chăm sóc sức khoẻ sinh sản
kế hoạch hóa gia đình ở 87 xã. Tỷ lệ các cặp vợ chồng áp dụng các
biện pháp tránh thai 68% đạt; Giảm tỷ lệ sinh 1%o. Tỷ lệ sinh con
thứ ba giảm 1% so với năm 2006. Tỷ lệ phát triển dân số 2,01%; Dân
số trung bình ước khoảng 468.282 người.
3.4. Văn hoá thông tin- TDTT:
Tổng số giờ phát thanh trong năm đạt 90,8 % kế hoạch và tăng 2,3%
so với cùng kỳ năm trước. Tổng số giờ phát sóng truyền hình toàn