KHÁI QUÁT ĐẠI LÝ TỰ
NHIÊN CỦA TỈNH LÀO CAI
I. KHÁI QUÁT CHUNG
Lịch sử
Lào Cai là một vùng đất cổ, diện mạo địa hình được hình thành cách
nay 50-60 triệu năm, trong đợt tạo sơn cuối cùng, vỏ trái đất vặn
mình, đứt gẫy. Hơn vạn năm trước, con người đã có mặt tại địa bàn
tại đây. Tổ tiên người bản địa Lào Cai nay hồi đó cư trú khá tập trung
ở các dải đồi ven sông Hồng, sông Chẩy, các cửa ngòi Mi, ngòi Nhù.
Các chủ nhân văn hóa Hòa Bình ở Lào Cai đã biết làm nông nghiệp.
Trong buổi đầu các bộ tộc xác định ranh giới chủ quyền, thời Hùng
Vương thuộc Tân Hưng, là một trong 15 bộ của Nhà nước Văn Lang.
Thời Âu Lạcthì vùng phía đông và phía nam Lào Cai thuộc bộ lạc Tây
Vu, còn một phần đất phía đông và phía bắc Lào Cai hiện nay thuộc
phạm vi của các bộ lạc nhỏ hơn không chịu thuần phục Lạc Việt.
Thời Bắc thuộc, ban đầu là địa phận thuộc huyện Tây Vu, quận Giao
Chỉ. Sau này thuộc là quận Tân Hưng, đất Giao Châu (thời Tây Tấn),
sau là đất châu Đan Đường, Chu Quý thuộc Giao Chỉ (thời Tùy), tiếp
đổi Lâm Tây châu, Đức Hóa châu thuộc phủ An Nam (thời Đường,
679.
Sau khi đánh chiếm Lào Cai (tháng 3 năm 1886), đế quốc Pháp cai
quản địa hạt Lào Cai theo chế độ quân sự. Ngày 7 tháng 1 năm 1899,
đạo quan binh IV được thành lập bao gồm Tiểu quân khu Yên Bái và
Vùng đất thị xã Lào Cai ngày nay xưa kia có một khu chợ, dần dần
người ta mở mang thêm một phố chợ. Vì thế phố chợ đầu tiên này
theo tiếng địa phương được gọi là Lão Nhai (tức Phố Cũ). Sau này
người ta mở thêm một phố chợ khác gọi là Tân Nhai (Phố Mới ngày
nay). Theo cố giáo sư Đào Duy Anh, từ Lão Nhai được biến âm thành
Lao Cai và được gọi một thời gian khá dài. Khi làm bản đồ, người
Pháp viết Lao Cai thành Lào Kay.
Danh từ Lào Kay đã dược người Pháp sử dụng trong các văn bản và
con dấu. Nhưng trong giao tiếp và dân gian người ta vẫn gọi là Lao
Cai. Sau ngày tỉnh Lao Cai được giải phóng (11-1950), đã thống nhất
gọi là Lào Cai cho đến ngày nay.
Sau khi đánh chiếm Lào Cai (3 -1886) và khi hoàn thành công cuộc
bình định quân sự, thực dân Pháp cai quản địa hạt Lào Cai theo chế
độ quân sự. Ngày 7/01/1899, đạo quan binh IV được thành lập bao
gồm Tiểu quân khu Yên Bái và Tiểu quân khu Lào Cai.
Lào Cai là đạo lỵ, thủ phủ của đạo quan binh IV. Để dễ bề kiểm soát
và tiến hành khai thác bóc lột, thực dân Pháp đã chia lại khu vực
hành chính và thay đổi chế độ cai trị. Ngày 12/7/1907, toàn quyền
Đông Dương ra nghị định bãi bỏ đạo quan binh IV Lào Cai, chuyển từ
chế độ quân quản sang chế độ cai trị dân sự, thành lập tỉnh Lào Cai.
Từ đây địa danh tỉnh Lào Cai được xác định trên bản đồ Việt Nam.
Trải qua những biến động thăng trầm của lịch sử, địa lý Lào Cai cũng
có nhiều thay đổi. Về địa đanh hành chính,qua nhiều lần tách nhập:
- Thành lập tỉnh dân sự Lào Cai (12/7/1907), phần đất của châu
Thuỷ Vỹ bên hữu ngạn sông Hồng sáp nhập vào Chiêu Tấn, vẫn lấy
(cũ) và bổ sung thêm ba huyện: Bảo Yên, Văn Bàn (thuộc Yên Bái cũ),
Than Uyên (thuộc Nghĩa Lộ cũ) bao gồm 8 huyện, hai thị xã.
- Ngày 9/6/1992, Hội đồng Bộ trưởng quyết định tách thị xã Lào Cai
thành hai thị xã Lào Cai và Cam Đường.
- Ngày 30/12/2000, huyện Bắc Hà được tách thành hai huyện Si Ma
Cai và Bắc Hà.
- Ngày 31/01/2002, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định sáp
nhập thị xã Lào Cai và thị xã Cam Đường thành thị xã tỉnh lỵ Lào Cai.
- Ngày 1/01/2004, huyện Than Uyên được tách ra thuộc tỉnh Lai
Châu (mới).
- Ngày 30/11/2004, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số
195/2004/NĐ-CP về việc thành lập thành phố Lào Cai thuộc tỉnh
Lào Cai.
Hiện nay, tỉnh Lào Cai gồm thành phố Lào Cai và 8 huyện: Bảo
Thắng, Bảo Yên, Bắc Hà, Si Ma Cai, Mường Khương, Sa Pa, Bát Xát,
Văn Bàn. Diện tích tự nhiên 6.383,88 km2.
Đơn vị hành chính
Lào Cai bao gồm 1 thành phố trực thuộc và 8 huyện
Thành phố Lào Cai 12 phường và 5 xã
Huyện Bảo Thắng 3 thị trấn và 12 xã
Huyện Bảo Yên 1 thị trấn và 17 xã
Huyện Bát Xát 1 thị trấn và 22 xã
Huyện Bắc Hà 1 thị trấn và 20 xã
Huyện Mường Khương 1 thị trấn và 15 xã
Địa hình: Địa hình Lào Cai rất phức tạp, phân tầng độ cao lớn, mức
độ chia cắt mạnh. Hai dãy núi chính là dãy Hoàng Liên Sơn và dãy
Con Voi cùng có hướng Tây Bắc - Đông Nam nằm về phía đông và
phía tây tạo ra các vùng đất thấp, trung bình giữa hai dãy núi này và
một vùng về phía tây dãy Hoàng Liên Sơn. Ngoài ra còn rất nhiều núi
nhỏ hơn phân bố đa dạng, chia cắt tạo ra những tiểu vùng khí hậu
khác nhau.
Do địa hình chia cắt nên phân đai cao thấp khá rõ ràng, trong đó độ
cao từ 300m - 1.000m chiếm phần lớn diện tích toàn tỉnh. Điểm cao
nhất là đỉnh núi Phan Xi Păng trên dãy Hoàng Liên Sơn có độ cao
3.143m so với mặt nước biển, Tả Giàng Phình: 3.090m.
Dải đất dọc theo sông Hồng và sông Chảy gồm thành phố Lào Cai -
Cam Đường - Bảo Thắng - Bảo Yên và phần phía đông huyện Văn
Bàn thuộc các đai độ cao thấp hơn (điểm thấp nhất là 80 m thuộc địa
phận huyện Bảo Thắng), địa hình ít hiểm trở hơn, có nhiều vùng đất
đồi thoải, thung lũng ruộng nước ruộng, là địa bàn thuận lợi cho sản
xuất nông lâm nghiệp hoặc xây dựng, phát triển cơ sở hạ tầng.
Khí hậu
Khí hậu: Lào Cai có khí hậu nhiệt đới gió mùa, song do nằm sâu trong
lục địa bị chia phối bởi yếu tố địa hình phức tạp nên diễn biến thời
tiết có phần thay đổi, khác biệt theo thời gian và không gian. Đột
biến về nhiệt độ thường xuất hiện ở dạng nhiệt độ trong ngày lên
cao hoặc xuống thấp quá (vùng Sa Pa có nhiều ngày nhiệt độ xuống
dưới 00C và có tuyết rơi).
Khí hậu Lào Cai chia làm hai mùa: mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến
- Nhóm đất đỏ vàng: thường có màu nâu đỏ, đỏ nâu, đỏ vàng hoặc
vàng đỏ rực rỡ. Hình thành và phân bố rộng khắp trên địa bàn toàn
tỉnh ở độ cao 900m trở xuống, diện tích chiếm trên 40% diện tích tự
nhiên. Nhóm đất này có độ phì nhiêu khá cao, thích hợp với cây công
nghiệp dài ngày, cây hàng năm.
- Nhóm đất mùn vàng đỏ: chiếm trên 30% diện tích tự nhiên, phân
bố tập trung tại các huyện Sa Pa, Mường Khương, Bắc Hà, Bát Xát,
Văn Bàn. Nhóm đất này thích hợp trồng các loại cây dược liệu quý,
cây ăn quả và nhiều loại rau ôn đới quan trọng của tỉnh. Đồng thời,
nhóm đất này có thảm thực vật rừng phong phú, đa dạng bậc nhất
của tỉnh.
- Nhóm đất mùn alit trên núi: chiếm 11,42% diện tích tự nhiên, tập
trung ở huyện Sa Pa, Văn Bàn có thảm rừng đầu nguồn khá tốt,
thích hợp với một số loại cây trúc cần câu, đỗ quyên, trúc lùn, rừng
hỗn giao.
- Nhóm đất đỏ vàng bị biến đổi màu do trồng lúa: đây là các loại đất
feralitic hoặc mùn feralitic ở các sườn và chân sườn ít dốc được con
người bỏ nhiều công sức tạo thành các ruộng bậc thang để trồng trọt
hoa màu. Diện tích chiếm khoảng 2% diện tích tự nhiên phân bố rải
rác ở các huyện tạo nên những cảnh quan ruộng bậc thang rất đẹp
mà tiêu biểu là hai huyện Bắc Hà và Sa Pa.
* Với đặc diểm đất đai nói trên, trong quá trình quản lý, sử dụng
được chia như sau:
- Đất nông nghiệp: 76.930 ha bao gồm:
+ Đất trồng cây hàng năm: 59378 ha, trong đó đất lúa có 28.215 ha
ha rừng trồng.
- Thực vật rừng: rất phong phú cả về số lượng loài và tính điển hình
của thực vật. Riêng tại khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên Sơn đã
phát hiện được 847 loài thực vật thuộc 164 họ, 5 ngành, trong đó có
nhiều loại quý hiếm như: Lát Hoa, Thiết Sam, Đinh, Nghiến,
- Động vật rừng: theo các tài liệu nghiên cứu, Lào Cai có 442 loài
chim, thú, bò sát, ếch nhái. Trong đó thú có 84 loài thuộc 28 họ, 9 bộ;
chim có 251 loài thuộc 41 họ, 14 bộ; bò sát co 73 loài thuộc 12 họ,
.
Tài nguyên khoáng sản:
Tới nay đã phát hiện được 150 mỏ và điểm mỏ với trên 30 loại
khoáng sản, trong đó có một số mỏ khoáng sản đã được thăm dò,
đánh giá trữ lượng, chất lượng thuộc loại quy mô lớn nhất nước và
khu vực như: mỏ A Pa Tit Cam Đường với trữ lượng 2,5 tỷ tấn,
mỏ sắt Quý Sa trữ lượng 124 triệu tấn, mỏ đồng Sin Quyền trữ lượng
53 triệu tấn, mỏ Molipden Ô Quy Hồ trữ lượng 15,4 nghìn tấn.
Nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú và đa dạng là cơ sở để
ngành công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản khẳng định là
ngành công nghiệp mũi nhọn của tỉnh.
Tài nguyên du lịch:
Trọng tâm là khu du lịch nghỉ mát Sa Pa - một trong 21 trọng điểm
du lịch của Việt Nam. Sa Pa nằm ở độ cao trung bình từ 1.200m -
1.800m, khí hậu mát mẻ quanh năm, có phong cảnh rừng cây núi đá,
thác nước và là nơi hội tụ nhiều hoạt động văn hoá truyền thống của
đồng bào các dân tộc như chợ vùng cao, chợ tình Sa Pa,
đền Bảo Hà, đền Thượng, kiến trúc nhà Hoàng A Tưởng, Không chỉ
nhiều di sản vật thể và phi vật thể được phát hiện, bảo tồn mà một
kho tàng văn học dân gian đồ sộ đến nay vẫn chưa được khám phá
hết.
II. DÂN CƯ VÀ ĐIỀU KIỆN KINH TẾ XÃ HỘI
1.Dân cư
Tổng dân số toàn tỉnh: 613.075 người, trong đó:
- Số người trong độ tuổi lao động: chiếm 52%;
- Mật độ dân số bình quân: 96 người/km2.
Dân tộc: Có 25 nhóm ngành dân tộc cùng chung sống hoà thuận,
trong đó dân tộc thiểu số chiếm 64,09% dân số toàn tỉnh. Dân tộc
Kinh chiếm 35,9%, dân tộc Hmông chiếm 22,21%, tiếp đến là dân
tộc Tày 15,84%, Dao 14,05%, Giáy 4,7%, Nùng 4,4%, còn lại là các
dân tộc đặc biệt ít người Phù Lá, Sán Chay, Hà Nhì, La Chí, 2.Điều kiện kinh tế xã hội
Giao thông
Với 203 km đường biên giới với tỉnh Vân Nam - Trung Quốc, Lào Cai
là một trong những đầu mối giao thông quan trọng của cả nước nối
liền với nước bạn Trung Hoa.
Là một tỉnh miền núi nên địa hình Lào Cai phức tạp, nhiều đồi núi
cao, chia cắt mạnh, rất khó khăn cho việc phát triển giao thông.
địa phận Lào Cai dài 62 km được nối với đường sắt Trung Quốc,
năng lực vận tải khoảng 1 triệu tấn/năm và hàng ngàn lượt
khách/ngày đêm.
Theo kế hoạch năm 2009 tuyến đường này sẽ được cải tạo nâng cấp,
sử dụng vốn của ADB, hoàn thành vào năm 2011. Ngoài ra còn có
đường sắt nối từ Phố Lu vào mỏ Apatít Cam Đường và một nhánh từ
Xuân Giao đi Nhà máy Tuyển quặng Tằng Loỏng, với tổng chiều dài
58 km, theo thiết kế có 50 đôi tàu/ngày đêm.
- Đường sông: Có 2 tuyến sông Hồng và sông Chảy chạy dọc tỉnh, tạo
thành một hệ thống giao thông đường thuỷ liên hoàn. Đường sông
Lào Cai chưa thực sự phát triển mạnh mặc dù trên địa bàn tỉnh có
rất nhiều sông lớn như sông Hồng dài 130 km (trong đó nội địa có
75 km và chung biên giới với Trung Quốc khoảng 55 km).
Tuy nhiên do có nhiều ghềnh thác chưa được chỉnh trị nên khả năng
vận tải còn hạn chế.
- Đường hàng không: Chính phủ đã có chủ trương xây dựng sân bay
tại Lào Cai trong giai đoạn 2010 – 2015.
Trong lĩnh vực giao thông đối ngoại ngành giao thông vận tải Lào Cai
đã có quan hệ chặt chẽ với ngành giao thông Vân Nam - Trung Quốc.
Những năm qua, hai bên thường xuyên trao đổi các vấn đề liên quan
đến giao thông giữa hai nước như: xây dựng các cầu qua sông biên
giới hai nước, thực hiện tốt Hiệp định vận tải đã ký kết
Hạ tầng điện - nước
BTS. Mật độ điện thoại đạt 32 máy/100 dân (đạt 100% chỉ tiêu đến
năm 2010).
Thuê bao Internet đạt trên 11.900 thuê bao trong đó thuê bao băng
rộng đạt 5.672 thuê bao. Theo hướng dẫn về hệ số quy đổi của Bộ
Tthông tin và Truyền thông mật độ sử dụng Internet của tỉnh Lào Cai
đạt 10,5/100 dân.
Hạ tầng công nghệ thông tin:
Hạ tầng Công nghệ thông tin được phát triển ổn định. Dự án mạng
LAN đô thị với quy mô và công nghệ hiện đại đang trong quá trình
xây lắp, đảm bảo đến quý II năm 2009 hoàn thành giai đoạn đầu dự
án, đảm bảo nhu cầu sử dụng của các cơ quan khi đi chuyển về khu
hành chính mới.
Sau khi hoàn thành giai đoạn II (năm 2010) đảm bảo tỉnh Lào Cai sẽ
có một hạ tầng truyền dẫn đáp ứng được nhu cầu đến 2020 và có
khả năng mở rông cho các giai đoạn tiếp theo.
Việc phát triển hạ tầng CNTT tại các sở, ban, ngành đã được chú
trọng đầu tư, kết nối Internet phục vụ cho công tác quản lý, điều
hành. Đến nay đã có 42/59 cơ quan nhà nước có mạng LAN; tỷ lệ
máy tính kết nối Internet chiếm hơn 60%. Chỉ số ICT Index năm
2007 của Lào Cai xếp thứ 31/64 tỉnh thành. Nguồn lao động:
năm 2007 tổng số có 337.803 người (số người trong độ tuổi lao
viện tuyến tỉnh, 8 bệnh viện tuyến huyện và 36 phòng khám đa khoa
khu vực với 2.180 giường điều trị. Khu vực I: Là các xã có điều kiện phát triển kinh tế - xã hội thuận lợi.
Chủ yếu là các xã ở vùng thấp, gần trung tâm các huyện, thành phố,
giao thông và các dịch vụ xã hội thuận lợi.
- Khu vực II: Là các xã có điều kiện phát triển kinh tế- xã hội khó
khăn, phần lớn các xã này nằm ở vùng sâu, vùng xa, giao thông đi lại
còn tương đối khó khăn; các dịch vụ xã hội cơ bản đã được đáp ứng
tương đối tốt.
- Khu vực III: Là các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó
khăn, các xã ở vùng sâu vùng biên giới, xa các trung tâm huyện,
thành phố; địa hình bị chia cắt mạnh, giao thông đi lại còn rất nhiều
khó khăn; các dịch vụ xã hội còn hạn chế