Giáo trình- Mô phôi răng miệng - phần 2 - Pdf 19

10
SỰ TẠO MEN RĂNG (AMÉLOGENÈSE)
Quá trình tạo men răng bao gồm một loạt các hiện tượng xảy ra tuần tự:
1. Sự biệt hoá những tế bào chế tiết những chất tiền men và gian bào.
2. Sự khoáng hoá men răng ở gian bào sinh men răng.
3. Sự trưởng thành của mô men răng. Ở người, sự chế tiết và tổng hợp men răng bị giới hạn trong một khoảng thời gian
nhất định, điều này khác với một số loài gặm nhấm có quá trình chế tiết và tổng hợp
men răng xảy ra liên tục.
Men răng được tổng hợp và chế tiết trước khi răng mọc.
Giai đoạn khởi đầu men răng xảy ra ở vùng trung tâm của lớp biểu mô men trong,
sau đó lan ra hai bên rìa, nơi sẽ tạo cổ răng tương lai.
Trong quá trình này, biểu mô men trong trải qua một loạt các tiến trình và điều
chỉnh để biến thành tế bào sinh men biệt hoá. Người ta phân biệt các giai đoạn sau:
- Giai đoạn tiền chế tiết (tổng hợp chất sinh men trong tế bào sinh men).
- Giai đoạn chế tiết hay giai đoạn tạo men răng.
- Giai đoạn sau chế tiết hay giai đoạn trưởng thành.

Có thể mô hình hoá các quá trình này bằng bảng sau:
Giai đoạn tiền chế tiết Giai đoạn chế tiết Giai đoạn trưởng thành

Tiền nguyên bào Nguyên bào men răng Nguyên bào men răng
men răng chế tiết sau chế tiết
Sự hình thành chuông răng
Biểu mô niêm mạc miệng
Lá răng
Chuông răng
Bao răng
Nhú ngoại trung mô
12

Chuông răng + Tiền nguyên bào men:
Các tế bào lớp sinh men trong bắt đầu biệt hoá để biến thành tiền nguyên bào
men. Về phía cực đáy của biểu mô và ngoại trung mô người ta thấy:
- Màng đáy bắt đầu gãy từng đoạn và dần dần tiêu biến.
- Những tế bào ngoại trung mô xếp đối diện với tế bào biểu mô (biểu mô men
trong). Hiện tượng này khơi mào do sự sinh ngà răng, ở chất căn bản, gian bào xuất
hiện nhiều sợi tơ nằm giữa lớp biểu mô và trung mô (ngoại trung mô).
- Cực ngọn của những tế bào tiền nguyên bào men và tế bào ngoại trung mô bắt
đầu xuất hiện nhiều vi nhung mao và sự trải rộng màng tế bào. Hai tế bào này tiếp
xúc với nhau bằng những vi nhung mao đó.
Sự khởi phát các biến cố này được khơi mào và kiểm soát bởi lớp biểu mô men
trong cho đến giai đoạn cuối của quá trình biệt hoá tạo tiền nguyên bào men. Sau đó
là quá trình phân ly giữa cơ quan sinh men và trung mô, quá trình này xảy ra ngay
sau quá trình biệt hoá tạo nguyên bào ngà của tế bào sinh ngà.

- Sự biệt hoá của tế bào sinh men:
Khi có sự xuất hiện chất gian bào của tiền nguyên bào men, tiền nguyên bào men

Sơ đồ phát triển và thoái hóa biểu mô men trong
14
Sơ đồ tiến triển cơ quan men

Sự tương tác giữa nguyên bào men và nguyên bào ngà
1. Biểu mô men trong 2. Màng đáy 3. Tế bào ngoại trung mô
Giai đoạn thoái triển
Giai đoạn chế tiết
Giai đoạn sau chế tiết
15Tiêu bản chuông răng ở giai đoạn nguyên bào men chế tiết Giai đoạn chuông răngBiểu mô men ngoài
Lớp lưới
Lớp trung gian
Biểu mô men trong
Bao răng
Vùng ngoại vi nhú ngoại trung mô
Vùng tương phản
Vùng trung tâm
16

Nguyên bào men
sau chế tiết
Ngừng tạo men Khởi đầu chế tiết
Men của đường nối men -ngà Trụ men
Lớp men không trụ
Tái hấp thụ
gian trụ
17

Sơ đồ chế tiết tái hấp thụ của tế bào Tomes

Tái hấp thụ Chế tiết
Phá trùng hợp
Khuôn men bị
ép bởi tinh thể
Sự hình thành tinh thể dọc theo khuôn men
Gia tăng mức độ
khoáng hóa
Men
18
SỰ SINH NGÀ RĂNG 1. Đại cương:
Sự sinh ngà là một loạt các hiện tượng bắt đầu bằng quá trình khoáng hoá ở vùng
bên trên nhú trung mô, khi ngà được hình thành phần trung tâm của nhú trung mô
vẫn không bị khoáng hoá và được gọi là tuỷ răng.
Khác với quá trình sinh men, sự sinh ngà hầu như xảy ra trong suốt quá trình răng
phát triển và tồn tại. Tế bào ngà là những tế bào sống trong suốt quá trình tồn tại và
phát triển của răng.

chân răng, quá trình này được cảm ứng bởi bao Hertwig.
19
Sơ đồ tạo ngà
Đường nối men - ngà
Men
Đuôi ngà
Tế bào ngà
Nguyên bào ngà
Tủy răng
Ngà
Tiền ngà
20
3. Vùng dưới nguyên bào ngà:

Sự biệt hoá nguyên bào ngà dẫn đến sự phát triển những cấu trúc mạch máu,
những sợi nằm ở vùng dưới nguyên bào ngà.

3.1. Sự tăng sinh mạch máu:
Trong giai đoạn đầu của quá trình sinh ngà răng, những chùm mạch máu xuất phát
từ động mạch hàm trên và hàm dưới đã hình thành. Những chùm mạch máu này toả
ra và bao quanh nhú trung mô. Ở giai đoạn chuông răng, những mao mạch đã xuất
hiện ở vùng ngoại vi sát với lớp sinh men. Đến giai đoạn biệt hoá nguyên bào ngà,
các bó mao mạch càng phát triển. Các mao mạch nằm giữa các nguyên bào ngà rất
cần thiết trong suốt quá trình tạo ngà răng.

3.2. Sợi Von Korff:



Các đuôi nguyên bào ngà có thể dài 30-50m, đó là các nhánh bào tương dài, bên
trong chứa các hạt, vi ống, vi sợi, các túi da hình thái. Người ta cho rằng các đuôi
nguyên bào ngà sẽ chế tiết chất căn bản ngà vào môi trường gian bào. Trước đây
người ta thường gọi chúng là sợi Tomes, do sự trải rộng bào tương của nguyên bào
ngà, các nhánh bào tương càng ở xa càng ít chứa các bào quan, bào tương của các
nhánh này bị bao bọc bởi chất căn bản ngà do tự nó tiết ra nên được gọi là chất tiền
ngà.
Ở phần tiền ngà, bào tương đuôi nguyên bào ngà ngày càng ít bào quan trong khi
các vi ống và vi sợi nhiều hơn các cấu trúc dạng túi.
Phần kéo dài của đuôi nguyên bào ngà cũng được liên kết bằng các thể nối và các
liên kết khe.

5. Sự sinh tổng hợp và tiết các tiền chất của chất căn bản ngà:

Nguyên bào ngà tổng hợp và chế tiết chất căn bản ngà, thành phần gồm protein
(collagene, protein không phải là collagene) và proteoglycan.

5.1. Collagene:
Sợi collagene chiếm 80-85% chất căn bản ngà, tiền sợi  được tổng hợp từ lưới
nội bào có hạt của nguyên bào ngà, ba tiền sợi  sẽ xoắn với nhau tạo thành phân tử
tropocollagene ba sợi  ( Triple Helice). Sau đó phân tử tropocollagene sẽ được
đưa vào bộ Golgi và theo các túi để vào các khoảng gian bào theo cơ chế xuất bào,
ở khoảng gian bào các tiền sợi  của tropocollagene bị cắt bớt ở đoạn peptid xa ở
hai đầu, ở đây chúng đã trùng hợp để biến thành sợi collagene. Để dễ hiểu có thể
mô tả quá trình đa trùng hợp này như sau: các phân tử tropocollagene trên cùng một
hàng xếp thẳng hàng và các phân tử này cách nhau một khoảng d = 0,6D (D =
67nm), hai hàng phân tử cách nhau một khoảng 0,4D, chiều dài của mỗi phân tử
chừng 4,4D. Chính sự sắp xếp này làm sợi collagene có hình ảnh băng sáng băng tối
xen kẻ với chu kỳ 64nm. Collagene của chất căn bản ngà là collagene type I

tiền ngà. Sự chậm trễ này cho phép quan sát được vùng tiền ngà dày chừng 20m,
nằm giữa thân nguyên bào ngà và vùng ranh giới ngà đã khoáng hoá.
Sự chậm trưởng thành ngà răng cần cho tái cấu trúc sợi collagene và những
proteoglycan.
Khi phosphoprotein được tiết trực tiếp vào vùng ngà khoáng, nó không ngăn cản
quá trình trưởng thành của tiền ngà. Ở vùng tiền ngà vừa mới được chế tiết cho
phản ứng nhuộm dị sắc với bleu de toluidine và cho phản ứng dương tính với bleu
alcian. Phản ứng này cho phép kết luận có sự hiện diện của proteoglycan nằm giữa
các sợi. Vùng này được gọi là vùng ưa màu, ở vùng này sợi collagene mảnh và chạy
theo nhiều hướng.
Ở vùng tiền ngà được tạo từ trước phản ứng nhuộm glycosaminoglycan (GAG)
biến mất, ngược lại phản ứng PAS (Periodic Acid Shiff) dương tính - đây là đặc
tính của mô giàu glycoprotein.
Do quá trình phá trùng hợp proteoglycan với diễn biến tiêu huỷ đặc tính của GAG
làm cho chúng có thể kết hợp với các gốc cation đặc biệt là với Ca
++
, Ca
++
sẽ khởi
đầu quá trình khoáng hoá.
Trong diễn biến trưởng thành tiền ngà đồng thời có sự tụ đặc các sợi collagene
bằng cách gia tăng các nối giữa và bên trong phân tử sợi collagene, tạo thành các
sợi bao quanh đuôi nguyên bào ngà.

7. Sự khoáng hoá ngà răng:

Sự khoáng hoá ngà răng là kết quả của sự tẩm nhuận muối calci và phosphate
dưới dạng tinh thể Hydroxyapatite vào chất căn bản ngà. Calci được huy động từ
các mạch máu nằm dưới nguyên bào ngà, một phần khác được huy động từ ti thể
của nguyên bào ngà.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status