NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN KT - XH TRONG CÁC VÙNG DUYÊN HẢI MIỀN TRUNG - Pdf 19

NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN
KT - XH TRONG CÁC VÙNG
DUYÊN HẢI MIỀN TRUNG 1. Khái quát chung

Duyên hải miền Trung bao gồm vùng duyên hải Bắc Trung Bộ (các
tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa
Thiên - Huế) và duyên hải Nam Trung Bộ (thành phố Đà Nẵng, các
tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh
Thuận và Bình Thuận). Khối núi Bạch Mã – nơi có đèo Hải Vân, được
coi là ranh giới tự nhiên giữa hai vùng trên.

Đây là một lãnh thổ hẹp theo chiều Đông – Tây, nhưng lại kéo dài
theo chiều Bắc – Nam, với sự phân hoá khá rõ của các điều kiện tự
nhiên và tài nguyên thiên nhiên, của dân cư – dân tộc, điều kiện lịch
sử… cho phép phát triển cơ cấu kinh tế nhiều ngành để khai thác có
hiệu quả nhất sự khác biệt lãnh thổ đó.

Duyên hải miền Trung có khá nhiều tài nguyên nhưng chưa khai
thác được bao nhiêu. Một số loại khoáng sản có trữ lượng khá lớn.
Tài nguyên lâm nghiệp tương đối giàu. Tài nguyên nông nghiệp, thuỷ
sản cũng không kém phần đa dạng. Nhưng đây lại là vùng thường
xuyên chịu thiên tai và là vùng bị tàn phá nặng nề nhất trong thời
gian chiến tranh. Hiện nay, sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng
thực sự còn gặp nhiều khó khăn. Với sự tập trung đầu tư cho vùng,
nhất là với sự hình thành và phát triển của địa bàn kinh tế trọng
điểm miền Trung, trong tương lai gần đây, kinh tế của vùng sẽ có
bước phát triển đáng kể.


Việc phát triển nông nghiệp của vùng cần dựa trên cơ sở khai thác
tổng hợp các thế mạnh về nông nghiệp của vùng trung du, đồng bằng
và miền biển. Vùng đồi trước núi có thế mạnh về chăn nuôi đại gia
súc (bò là chính). Đàn bò của vùng hiện nay có khoảng 2 triệu con,
bằng 50% đàn bò của cả nước. Bắc Trung Bộ còn có một số vùng
chuyên canh cây công nghiệp lâu năm (cà phê ở Tây Nghệ An và
Quảng Trị, cao su, hồ tiêu ở Quảng Bình và Quảng Trị, chè ở Tây
Nghệ An).

Trong số các đồng bằng thuộc duyên hải miền Trung chỉ có đồng
bằng Thanh - Nghệ - Tĩnh là tương đối lớn, còn các đồng bằng khác
thì nhỏ hẹp, do phù sa bồi đắp các vụng biển cũ. Đất phần lớn là đất
cát pha, thuận lợi cho việc phát triển các cây công nghiệp hàng năm
(lạc, mía, thuốc lá…) nhưng không thật thuận lợi cho cây lúa. Ở đây
đã hình thành các vùng chuyên canh cây công nghiệp hàng năm và
các vùng lúa thâm canh. Tuy vậy, bình quân lương thực trên đầu
người của vùng còn thấp (chưa đến 290 kg/người).
Biển miền Trung lắm tôm, cá và các hải sản khác. Tỉnh nào cũng có
bãi tôm, bãi cá, nhưng lớn nhất là ở biển cực Nam Trung Bộ. Chỉ tính
riêng các tỉnh thuộc Nam Trung Bộ, sản lượng thuỷ sản năm 1999 đã
vượt 400 nghìn tấn, gấp 2 lần sản lượng năm 1990. Sản lượng cá
biển năm 1999 của toàn vùng duyên hải miền Trung là 385 nghìn
tấn (của Nam Trung Bộ là 300 nghìn tấn), trong đó có nhiều loài cá
quý (như cá thu, cá ngừ, cá trích, cá nục, cá hồng, cá phèn), tôm hùm,
tôm he, mực… Bờ biển miền Trung có nhiều vụng, đầm phá thuận lợi
cho nuôi trồng thuỷ sản. Việc nuôi tôm hùm, tôm sú đang được phát
triển ở nhiều nơi, nhất là các tỉnh ở vùng Nam Trung Bộ (Phú Yên,
Khánh Hoà). Hoạt động chế biển hải sản ngày càng đa dạng, phong
phú. Tương lai, ngành thuỷ sản sẽ có vai trò ngày càng lớn hơn trong
việc giải quyết vấn đề thực phẩm của vùng và tạo ra nhiều sản phẩm

điện với quy mô trung bình như Sông Hinh (Phú Yên), Vĩnh Sơn
(Bình Định), hoặc tương đối lớn như Hàm Thuận – Đa Mi (Bình
Thuận). Ở Bắc Trung Bộ dự kiến sẽ xây dựng nhà máy thuỷ điện Bản
Mai (Nghệ An).

Các trung tâm công nghiệp của vùng như Thanh Hoá - Bỉm Sơn, Vinh,
Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang đang được phát triển với nhịp độ
nhanh, định hình rõ nét, với việc tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật
hiện đại cho các ngành công nghiệp cơ khí, sản xuất vật liệu xây
dựng, chế biến thực phẩm, dệt. Trong vùng có một số nhà máy xi
măng lớn như Bỉm Sơn, Nghi Sơn (Thanh Hoá).

Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung (Thừa Thiên - Huế - Đà Nẵng -
Quảng Nam - Quảng Ngãi) đang được chú trọng đầu tư, đặc biệt với
việc xây dựng cảng nước sâu Dung Quất và nhà máy lọc dầu số 1 ở
khu công nghiệp Dung Quất, công nghiệp của vùng sẽ có những bước
phát triển rõ nét trong thập kỉ tới.

b) Việc xây dựng cơ cấu công nghiệp của vùng gắn liền với việc
xây dựng cơ sở hạ tầng, trước hết là giao thông vận tải và thông
tin liên lạc

Do lãnh thổ dài và hẹp nên trục đường quốc lộ 1, đường sắt Bắc –
Nam và các thành phố, thị xã nằm dọc theo các trục đường này trở
thành trục kinh tế xương sống của vùng. Quốc lộ 1 và đường sắt Bắc
– Nam đã và đang được nâng cấp, hiện đại hoá, giúp đẩy mạnh sự
giao lưu giữa duyên hải miền Trung với các vùng cực phát triển của
cả nước là đồng bằng sông Hồng (ở phía Bắc) và Đông Nam Bộ (ở
phía Nam). Hệ thống sân bay của vùng đã được khôi phục, hiện đại,
gồm sân bay quốc tế Đà Nẵng và các sân bay trong nước Vinh, Huế,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status