Nhân vật tự thú trong "Bút kí
dưới hầm" của F.M. Dostoievski
Theo đánh giá của L. Grôxman, Bút ký dưới hầm (1863) là “một trong những trang bộc
trực nhất của Dostoievski”
(1)
và theo sự xác định của chính Dostoievski, tác phẩm “là bước tiến
mới của tiểu thuyết tâm lý cá nhân ở châu Âu vào nửa sau thế kỷ XIX”
(2)
. Với tác phẩm này
Dostoievski là người đầu tiên trong lịch sử văn học Nga đưa ra một kiểu nhân vật mới - Nhân vật
tự thú - tiền thân của kiểu nhân vật tự ý thức trong năm tiểu thuyết lớn của ông sau này: Tội ác và
trừng phạt (1866), Chàng Ngốc (1868), Lũ người quỷ ám (1872), Gã thiếu niên (1975), Anh em
nhà Karamazov (1879-1880).
Không phải ngẫu nhiên, Dostoievski quan tâm tới kiểu nhân vật tự thú. Kiểu nhân vật này
đã manh nha trong Kẻ hai mặt(1845). Kẻ hai mặt được coi là một công trình nghiên cứu tâm lý
sâu sắc của Dostoievski về trạng thái phân lập nhân cách. Nhân vật Goliakin ám ảnh nỗi đau cay
đắng trong tâm hồn của loại người luôn khiếp hãi, nhu nhược trước sự thực trần trụi, khắc nghiệt,
thô bạo của cuộc đời. Đây là một chủ đề hoàn toàn mới, “một thế giới hoàn toàn mới mẻ, mới
được khám phá, và được xác lập lần đầu tiên” như Belinski nhận xét. Dostoievski phát hiện ra
nét tâm lý cơ bản khác biệt của loại người này, không trùng khít với kiểu nhân vật bé nhỏ của
Puskin và Gogol. Xamxon Vưrin (Người coi trạm - 1830) của Puskin, Akaki Basmachkin (Chiếc
áo khoác - 1840) của Gogol là những công chức nghèo hèn trong xã hội, khiếp nhược trước mọi
sự tước đoạt và chấp nhận thân phận như là một tiền định với những phản ứng yếu ớt, thụ động.
Họ mang trong mình cái đẹp và bị tước đoạt. Họ bị triệt tiêu dần khả năng làm người, và vì thế,
họ là những con người bé nhỏ. Goliakin của Dostoievski, trái lại, không thừa nhận cái nghèo
hèn, trong khi cái nghèo hèn cứ hiển hiện, không chỉ ở hình hài mà cả trong ý nghĩ. Theo L.
Grôxman, sự ngộ nhận đó khiến cho Goliakin điên dại, bởi những đòi hỏi chính đáng về địa vị
xó”, “cái hầm”. Có tới 9 lần nhân vật nói về “cái lỗ” đó của mình, và cất tiếng chửi “Tiên sư
cha cái cuộc đời dưới hầm”. Tuy nhiên, nhân vật không có ý định từ bỏ cuộc sống đó, bởi, đó
là nơi, anh ta tự do nhất, suồng sã nhất để hoặc “tấn phong”, hoặc “hạ bệ” (từ dùng của M.
Bakhtin) chính mình. Vấn đề đặt ra, cuộc sống dưới hầm đó, bối cảnh tầng hầm ấy có là một
trong những biểu hiện của xã hội hiện tại không? Không thể nói cuộc sống đô thị ồn ào, đông
đúc thậm chí náo loạn không tác động đến nhân vật, đến đời sống dưới hầm của anh ta. Có
điều anh ta cách ly nó, xa lánh nó, tự đặt mình ngoài nó để chiêm nghiệm. Sống, ăn, nghỉ trong
xó xỉnh tối tăm chật hẹp, đi lại trong không gian giới hạn ấy là thú vui, lẽ sống còn của nhân
vật. Có chăng là sự mở rộng không gian đến những đường phố ngóc ngách, cũng chật hẹp, tối
tăm, với những cuộc tiếp xúc thoáng qua, ngẫu nhiên. Những yếu tố này định tính sự không cởi
mở, thiếu nồng nhiệt, luôn cau có, cô độc, ích kỷ, độc ác của nhân vật.
Nhân vật tự do bộc lộ tất cả mọi bí ẩn trong tâm hồn mình, khi chính anh ta đã không còn
coi mình ra gì nữa. Với bối cảnh tầng hầm, nhà văn chọn cách giới thiệu nhân vật hết sức mới lạ.
Mở đầu tác phẩm, nhân vật xuất hiện, ngay lập tức, tung vào mặt độc giả một loạt lời tự giới
thiệu kì quái:
- “Tôi là một người bệnh hoạn… Tôi là một người độc ác. Tôi là một người tẻ nhạt. Tôi
chắc là tôi đau gan (…) và có khi tôi cũng chẳng biết sự thực tôi đau chỗ nào nữa”.
- (…) Năm nay tôi bốn mươi. Trước kia tôi là một công chức (…). Hồi đó tôi là một công
chức độc ác. Tôi rất lỗ mãng, và còn lấy làm sung sướng vì thế. Tôi không ăn hối lộ của ai…”
.
- “Tôi đã nói dối (…) nói dối vì tôi tức”
.
- “Tôi là một tên thư ký hạng bét…”.
- “Tôi là một thằng lười - Đó là một tước vị, một chức phận, một sự nghiệp…”, v.v…
Hoàn toàn không có sự dẫn dắt của người kể chuyện dù ẩn mình hay hiện hữu, không có sự
sắp xếp, móc nối nhân vật này với nhân vật khác, không có sự giới thiệu lai lịch, tên tuổi, trang phục,
diện mạo như những tác phẩm tự sự truyền thống khác. Nhân vật không tên tự nó giới thiệu nó, lật
tẩy nó, bôi nhọ nó, xỉ vả nó, làm nhục nó. Những lời như thế xuất hiện hầu hết trên các trang của tác
rất nhiều. Sự tự thú, cũng nhờ thế, tránh đi được rất nhiều những rườm rà, giới thiệu, sắp đặt cần
thiết khác. Thông qua đó, người đọc nhận diện được chân dung tinh thần của tôi. Vậy, tôi là
ai? Tôi là một người thông minh, có ý thức sâu sắc và sáng suốt về đạo đức, nhân cách… nhưng
anh ta lại không thể làm gì khác được. Vì thế, anh ta, rốt cuộc là kẻ đớn hèn, triền miên trong cô
đơn, sầu hận. Anh ta quanh quẩn giữa ý thức muốn thoát ra khỏi sự ti tiện, thấp hèn và nỗi đau
ngụp lặn trong đớn hèn, bất tài, bất lực. Lỗ hầm là nơi anh ta chui rúc, ẩn mình để thấu triệt tâm
can, không phải để cho tốt hơn, mà để cho tan biến mình đi. Dòng ý thức của nhân vật tưởng như
bất tận, thể hiện nỗi cố gắng đến tuyệt vọng, nhằm bôi nhọ mình trong người khác, phá tan mình
trong người khác. Theo dòng ý thức, nội dung tranh luận tưởng như rất ngẫu nhiên nhưng lại rất
phong phú, phù hợp với tâm trạng tự thú dưới hầm. Chúng được liên kết với nhau bởi chính sự
ức đoán tiếng nói người khác của tôi, xoay quanh tôi, làm rõ tôi.
Lấy mục 1 - Phần 1 làm ví dụ: tôi giới thiệu mình là một người bệnh hoạn, mắc bệnh đau
gan, nhưng anh ta cũng không biết mình đau ở chỗ nào, và không đi khám bác sỹ vì tính độc
ác. Tính độc ác gợi cho tôi nhớ đến trước đây là “một tên công chức độc ác”. Từ “công
chức” liên quan đến “bàn giấy”. “Bàn giấy” làm tôi nhớ đến “niềm khoái lạc vô tả khi hành hạ
được ai đó. Mà hầu như không bao giờ tôi không thành công”, để rồi, từ “không thành công” lại
dẫn ý nghĩ của tôi đến một kết luận: “Cái làm tôi điên tiết nhất chính là ở chỗ, ngay cả những lúc
cáu giận nhất, tôi luôn cảm thấy xấu hổ nhận ra rằng tôi chẳng những không phải là người độc
ác, mà thậm chí còn không phải là người hay cáu giận… ngay sau đó, tôi sẽ lại nghiến răng tự xỉ
vả mình và bị mất ngủ cả mấy tháng trời vì cảm giác đớn hèn”. Chạm đến “đớn hèn”, ngay lập
tức tôi lại phủ nhận:“Vừa nãy tôi có nói hồi trước tôi là một tên công chức độc ác là tôi đã nói
dối. Nói dối vì tôi tức”.
Những liên kết kiểu này có thể gọi là sự khơi mào và tiếp nối tranh luận, tạo ra dòng chảy
liên tục trong ý thức nhân vật. Sự khơi mào tranh luận thường được đặt ở cuối một mục, mở đầu
cho mục sau. Nhân vật tự diễn giải, tự khẳng định, lại tự phủ nhận. Kết quả của sự tấn phong, hạ
bệ đến chóng mặt đó là sự tự xóa sổ mình của nhân vật:
“Tôi không những không thể trở thành độc ác, mà chẳng thể trở thành cái quái gì hết:
chẳng thể ác mà cũng chẳng thể hiền, chẳng thể đểu mà cũng chẳng thể lương thiện, chẳng thể
anh hùng mà cũng chẳng thể là một con bọ”. Đó chính là sự thực mà nhân vật đã thấu triệt, để
rồi “bất chấp mọi trò đánh tráo và những cái vô tri thức đó, ngươi vẫn đau khổ, và càng không
thanh lịch ấy, một con ruồi bẩn thỉu, có hại, cố nhiên có thông minh và cao thượng hơn tất cả bọn
họ…”.
Trong quan hệ với bạn cũ Simonôv, với cô gái điếm Lida, tôi bộc lộ rõ bản
thân. Tôi mong “xuất hiện trong ánh hào quang”, với “vòng nguyệt quế trên đầu”, trong khi
thực tại, “tôi rất yên ổn bằng lòng với vai trò thấp kém nhất”. Thực chất, tôi là ai? Tôi là kẻ “khi
ngụp lặn trong bùn, tôi tự an ủi rằng những lúc khác tôi đã là kẻ anh hùng, và cái cốt cách anh
hùng đó sẽ che đậy đống bùn nhơ (…). Bởi vậy tôi vẫn có thể đắm mình trong bùn nhơ như
thường”.
Cái hay là ở chỗ, tất cả những gì tôi làm với lũ Simonôv (cảnh cố tình nện gót trước sự thờ
ơ của bọn Simonôv), với Lida (cảnh “thức tỉnh” Lida), với Apollon (việc trả tiền lương), v.v…
không phải tôi không biết, mà tôi hoàn toàn ý thức được, làm chủ được. Tức là tôi biết tôi làm gì.
Khi không chịu nổi sự khinh miệt, tôi cần phải lấy lại sự nhu nhược mà tôi đã bộc lộ, tôicần phải
trả thù cho sự nhục nhã của mình. Ở góc độ đó tôi là người có nhân cách. Nhưng tôi lại không
vượt qua được chính mình, và khi đó, tôi sẵn sàng làm, kể cả những cái hèn nhất, khốn nạn nhất,
vô liêm sỉ nhất. Hãy xem tôi gặm nhấm nỗi đau của kẻ khác:
“Tại sao cô lại đến? Cô hãy trả lời đi! Trả lời ngay - Tôi la lớn, không còn tự kìm chế
được nữa - À, tôi xin trả lời thay cô nhé! Cô đến bởi vì hôm đó tôi đã nói cho cô nghe những lời
cảm động. Cô mủi lòng và cô muốn được nghe thêm. Nhưng cô nên biết rằng, hôm đó, tôi
chẳng coi cô ra cái đếch gì hết. Hôm nay tôi cũng chẳng coi cô ra cái đếch gì nốt (…). Người ta
đối xử với tôi như miếng giẻ rách thì tôi cũng muốn tỏ ra cái uy quyền của tôi… Còn cô, cô cứ
tưởng tôi đến để thực tình cứu vớt cô, có phải không? Có đúng như vậy không? Cô đã tưởng thế
chứ gì?”.
Nhờ vào quá trình tự truy bức mình đến tận cùng ấy, tôi đã kết luận được về tôi: “Tôi thì
tôi biết chắc tôi là đứa vô liêm sỉ, một thằng khốn nạn, một tên lười biếng, một quân đại ích kỷ
(…). Tôi rất xấu hổ vì tôi nghèo. Tôi xấu hổ và sợ nó hơn hết thẩy mọi thứ trên đời, còn sợ hơn là
ăn cắp, bởi vì tôi hợm mình, tôi tự cao tự đại…”.
Và, tôi tuyên bố: “Tôi có thể bán hết cái vũ trụ này đi lấy một copêc, miễn là người ta để
cho tôi yên. Phải chọn hoặc là thế giới tiêu diệt, hoặc là tôi không được ngồi yên, uống trà, thì tôi
nói cho mà biết đây này: Thế giới cứ việc tiêu diệt hết mẹ nó đi, miễn là tôi vẫn được ngồi yên
uống trà”.