Đi tìm bản thể và nhận thức về ý nghĩa của văn học mạng Phần 2. - Pdf 19

Đi tìm bản thể và nhận thức về ý
nghĩa của văn học mạng
Phần 2
2. Nhận thức về ý nghĩa của văn học mạng

“Quan hệ thông gia” giữa văn học và mạng không chỉ sáng tạo nên mô
hình “đọc qua màn hình” hoàn toàn mới, tạo cho văn học một gương mặt
“khác”, mà còn có hi vọng đóng hai vai “gợi mở” và “thức tỉnh”, khiến việc nhận
thức các quan niệm văn học và xây dựng lại các giá trị trở thành mệnh danh
văn hóa của thời đại số hóa, giúp sự “điều chỉnh lại văn học” đang ở trong tình
trạng cũ mới đan xen có được niềm tin để xây dựng lại.

Ý nghĩa đầu tiên của văn học mạng khi xuất hiện trên văn đàn nằm ở chỗ
lấy sự ủng hộ về kĩ thuật dân chủ bình quyền để giải phóng quyền diễn ngôn
văn học, thể hiện xu thế của văn học thời đại khoa học kĩ thuật cao quay về với
ý thức thẩm mĩ dân gian. Các đặc tính tự do, đồng bộ, bình quyền, cộng hưởng,
đi trước trong việc thiết lập cơ chế dân chủ trong nghệ thuật, câu chuyện thần
thoại “dân chủ khi online” đã củng cố lập trường dân gian của việc viết trên
mạng, kích thích ước mơ văn học và lòng nhiệt tình mà công chúng xã hội dành
cho nghệ thuật, giúp văn học thực hiện quyền diễn ngôn quay về với dân gian
trong sự phân quyền diễn ngôn trung tâm và mô hình phân công quyền cấp.
Mạng Internet là một không gian văn hóa có độ bao quát lớn, bằng kỹ thuật của
mình, nó coi tất cả mọi người lên mạng đều là người dân bình thường, điều này
đã khiến ý thức thẩm mĩ của những người nằm ở ven rìa của văn học có được
cơ hội để được biểu đạt tự do. Quyền diễn ngôn văn học lại một lần nữa được

tiếng hô hào” của văn học bình dân thành sự ngâm vịnh cá nhân và sự trao đổi
ứng đáp giữa các văn nhân trong khoảng trời riêng của mình. Hình thái ý thức
chủ lưu phú cho văn học trách nhiệm xã hội, đạo nghĩa văn nhân giao cho tác
gia trọng trách thẩm mĩ, hoạt động sáng tác và thưởng thức văn học đã trở
thành sự nghiệp của các tầng lớp trên trong xã hội và đặc quyền của số ít
người, hai cửa ải “sáng tác” và “lưu truyền” đã khiến ý thức thẩm mĩ dân gian
trong văn học ngày càng mờ nhạt, văn học chủ lưu trong xã hội ngày càng xa
rời cơ thể mẹ là những cái thuộc về dân gian, dân chúng, phong tục tập quán,
hoạt động văn học từ “nhiều tiếng hô hào” biến thành hoạt động giảng đạo và
lắng nghe “anh viết tôi đọc”, từ đó hình thành nên tình trạng lũng đoạn quyền
diễn ngôn văn học từ hàng nghìn năm nay.

Sự xuất hiện của Internet đã nhanh chóng thay đổi nếp cũ viết lách là đặc
quyền của tầng lớp trên (tầng lớp tinh anh) của xã hội. “Internet là mẹ của tất cả
những cái bình đẳng nhất”
(7)
. Không gian công cộng được xây dựng bởi quá
trình truyền tải thông tin qua Internet “có thể trở thành một lãnh địa giao lưu tự
do và nền tảng để thảo luận của người dân, mạng thông tin đã thực sự cấu
thành nên một “trường điện tử”
(8)
. Sự bình đẳng, đồng bộ và tính cộng hưởng
của không gian Cyber (không gian điều khiển bằng điện tử - ND) số hóa đã mở
ra quyền diễn ngôn cho công chúng bình thường, đặc biệt là những người nằm
ngoài giới văn học, xác lập lại lập trường viết dân gian. Như thế, nữ thần văn
học trước kia đứng ở vị trí cao vời vợi đã được mời xuống thần đàn, để quan
niệm “trước mặt văn học mọi người đều bình đẳng” xây dựng nên “thân phận
dân gian” và “ý thức bình quyền”, giúp văn học có thể quay về với ngôn ngữ mẹ
đẻ dân gian, miêu tả bức tranh cuộc sống dân gian, thể hiện ý thức thẩm mĩ dân
gian. Đương nhiên, hiện nay “dân gian mạng” về cơ bản vẫn là một kiểu “dân

thần tự do, nó bắt nguồn từ những khát vọng của nhân loại đối với lí tưởng tự
do, thỏa mãn trí tưởng tượng của nhân loại về một thế giới tự do, đồng thời đúc
tạo cho tinh thần nhân loại Utopia tự do bằng “sự an cư đầy chất thơ”. Sự xuất
hiện của mạng Internet đã trang bị cho văn học động cơ tự do, giải phóng một
vài yếu tố không tự do nào đó trong hoạt động nghệ thuật trước kia, chắp cho
văn học đôi cánh tự do để văn học có thể thỏa sức tận hưởng tự do, càng tự do
hơn trong việc thể hiện tinh thần tự do. Có thể nói, sở dĩ mạng tiếp nạp được
văn học hoặc gọi là văn học tiến bước được vào mạng là ở chỗ chúng tồn tại
một điểm tựa lô gíc đồng bộ và cộng hưởng: tự do. “Tự do” đã trở thành điểm
kết hợp tuyệt vời nhất của văn học và mạng, đó là chất keo gắn kết nghệ thuật
và khoa học kĩ thuật số, tính tự do của mạng và sự tự do nhân văn đã cung cấp
cho nhân loại thêm một mảnh đất lí tưởng, mới mẻ, đặc biệt.

Sự thể hiện tinh thần tự do của văn học mạng được tiến hành trong quá
trình phá vỡ các lề thói văn học truyền thống. Ví dụ: 1) Tính phi công lợi của
việc viết qua mạng đã hình thành nên sự tự do trong động cơ sáng tác. Dân
mạng lên mạng viết phần lớn xuất phát từ tâm lí vui chơi, giãi bày nỗi lòng và
giao lưu ước vọng, không màng tên tuổi trong giới văn chương, thu nhập bản
quyền và địa vị xã hội, như thế khi viết có thể tự do tự tại, không có gì gò bó
ràng buộc, tùy ý phát huy, thể hiện tâm tình “chân ngã” bằng tâm trạng “vô ngã”.
Nhà văn Trương Kháng Kháng đã từng hình dung trạng thái này như sau: “bất
luận cá to hay cá nhỏ đều tự do tung tăng bơi lội trong thế giới mạng, đặt câu
hỏi và trả lời, đau khổ và vui sướng, tất cả đều diễn ra âm thầm, lặng lẽ. Người
trên bờ không nghe thấy họ phát ngôn, lời họ nói ra là để cho chính họ và bạn
bè nghe. Những âm thanh đó phát ra từ đáy lòng cô đơn, tĩnh lặng, trong không
gian bao la tìm kiếm một tiếng vọng xa xôi. Nguyện ước ban đầu của người viết
trên mạng có lẽ chỉ là vì muốn tâm sự, anh ấy (cô ấy) chỉ trung thành với những
cảm nhận của cá nhân mình, coi thường mọi sự mưu cầu về danh tiếng và ý đồ
lợi ích – đây là điều quan trọng nhất và đáng quý nhất”
(10)

hội trên diễn đàn tự do có nhiều tiếng phát ngôn này.

Ý nghĩa thứ ba của văn học mạng là phá bỏ thông lệ cũ từ nhiều phương
diện khác nhau, cung cấp cho diễn tiến lịch sử của thể chế văn học một khả
năng mới và sự lựa chọn mới. Do sự biến đổi của các phương tiện thông tin số
hóa, văn học mạng bắt đầu tiến hành quá trình thay đổi kĩ thuật đối với thể chế
văn học truyền thống, khiến mô hình văn học chính thống phải đối mặt với sự
tháo bỏ, dùng một kĩ thuật và thủ pháp nghệ thuật khác để tiến hành cuộc “phẫu
thuật online” cho văn học. Điều này đã yêu cầu chúng ta phải điều chỉnh
phương thức nhận thức của mình đối với văn học, xem xét lại các thông lệ và
quan niệm văn học vốn có. Điều này chủ yếu thể hiện trên bốn phương diện:

Một là, công cụ truyền tải văn học từ các kí hiệu ngôn ngữ chuyển sang
các kí hiệu số. Từ trước đến nay, văn học luôn được coi là “nghệ thuật của
ngôn ngữ”, nhưng trong hoạt động viết trên mạng, quan niệm văn học được
định luận từ xa xưa đó đã có sự thay đổi. Sau khi “lấy máy thay bút”, hoạt động
viết trên mạng không còn dùng “bút mực giấy nghiên” để viết các nét ngang
phẩy mác của từng con chữ, mà tiến hành thao tác trên bàn phím và con chuột
để máy tính xử lý nét các bit và chuyển đổi mã, điều này đã khiến việc viết các
con chữ gồm rất nhiều nét đó biến thành việc nhẹ nhàng nhập các ký hiệu trên
bàn phím, có phần mềm sáng tác còn có thể tiến hành viết tự động bằng máy vi
tính, sáng tạo và tư duy theo máy, giao phó mọi sự tưởng tượng nghệ thuật và
thể hiện ngôn ngữ của tác giả cho máy vi tính hoàn thành. Không những thế,
các bit với hệ cơ số hai có thể chuyển thành các ký tự, cũng có thể là tín hiệu
hình ảnh hoặc âm thanh. Bởi vậy, tác phẩm mạng có thể bao gồm các ký tự,
cũng có thể là sự kết hợp hữu cơ đa phương tiện giữa âm thanh, hình ảnh, hình
ảnh động, văn học lúc này đây đã giảm đi sự dựa dẫm vào công cụ ngôn ngữ
đơn lẻ, không những phá vỡ được sự gò bó của “nghệ thuật ngôn ngữ”, mà còn
thực hiện sự “đổi mới toàn diện” cho sự tồn tại của bản thể.


Trung và tiếng Anh, giống như cuộc thử nghiệm “viết bằng song ngữ”; tác
phẩm Hài quảng cáo Kim Dung trong năm đã viết thành kịch bản quảng cáo
truyền hình hết sức sinh động; thậm chí còn có thể cải biên các tác phẩm văn
học thành trò chơi điện tử (như Kéo co,Nhà thơ hành động) Do tính chân thực
của nội dung và sự nhiệt tình tham gia của người lên mạng ngày một tăng, một
số thể văn mới trên mạng như “thể chat” (sáng tác dưới hình thức chat) , thể
“liên khúc” (nhiều người cùng một lúc tham gia sáng tác một tác phẩm), “thể lắp
ghép”, “thể” đang không ngừng xuất hiện, thông qua sự sàng lọc, lựa chọn của
văn đàn, mong được chấp nhận như các thể văn thường gặp khác.

Bốn là sự thay đổi căn bản của phương thức truyền bá văn học. Như con
đường thưởng thức đã chuyển từ “đẩy” sang “kéo”. Trước kia mối quan hệ giữa
truyền bá và tiếp nhận là tác động (đẩy) và chịu tác động, người tiếp nhận
thưởng thức cái gì được quyết định bởi quá trình “tác động – chịu tác động” đơn
tuyến. Quan hệ giữa truyền bá và tiếp nhận trong văn học mạng là sự tác động
qua lại mang tính năng động (kéo), chỉ cần rê chuột là dân mạng có thể thực
hiện được mong muốn “nghĩ đến là nhìn thấy, nhìn thấy là lấy được”, hoàn toàn
nắm quyền chủ động trong tay. Negroponte (Nhà khoa học nghiên cứu máy vi
tính của Mỹ) nói: “số hóa sẽ làm thay đổi bản chất của các phương tiện truyền
thông đại chúng, quá trình “đẩy” (pushing) bit cho mọi người sẽ biến thành quá
trình cho phép mọi người (hoặc máy tính của họ) “kéo” (pulling) ra các bit mà họ
muốn lấy”
(12)
. Sự lựa chọn này của dân mạng văn học về mặt khách quan đã
xóa bỏ vị trí trung tâm của người thực hiện tác động trong tác phẩm, cũng làm
thay đổi phương thức truyền bá văn học. Đồng thời, các thông tin bit không có
thể tích và trọng lượng có thể vận hành bằng tốc độ ánh sáng, có thể giúp
phương thức truyền bá văn học trở nên nhanh chóng, thần tốc, nó có thể nén
lịch sử thành “một hiện tại không có sự khác biệt về thời đại”, đồng thời có thể
“biến tất cả mọi khu vực và mọi thời đại thành khu vực này và giây phút này”


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status