Thực trạng của hệ thống ngân hàng thương mại hiện nay và Giải pháp để hoàn thiện và phát triển hệ thống Ngân Hàng Thương Mại Việt Nam - Pdf 19



Thực trạng của hệ thống
ngân hàng thương mại
hiện nay và Giải pháp để
hoàn thiện và phát triển hệ
thống Ngân Hàng
Thương Mại Việt Nam MỤC LỤC
trang
Lời mở đầu 1
I- Cơ sở lý luận 4
1. Định Nghĩa Ngân Hàng Thương Mại 4
2. Vai Trò Của Ngân Hàng Thương Mại 4
3. Các hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại 7
II- Thực trạng của hệ thống ngân hàng thương mại hiện nay 9
III- Giải pháp để hoàn thiện và phát triển hệ thống Ngân 15
Hàng Thương Mại Việt Nam
được nâng cao, tỷ lệ nợ quá hạn giảm thấp, năng lực tài chính được
tăng cường; các sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại ngày càng đa
dạng hơn, mạng lưới được mở rộng…Về tổ chức, ngành NHVN bao
gồm: Hệ thống NHNN và các đơn vị trực thuộc; 5 NHTM nhà nước,
ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam, bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, 37
ngân hàng thương mại cổ phần, quỹ tín dụng trung ương và trên 900
quỹ tín dụng nhân dân cơ sở, 4 ngân hàng liên doanh và một chi
nhánh ngân hàng liên doanh của nước ngoài tại Việt Nam (Ngân hàng
Lào-Việt), 27 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, một số công ty cho
thuê tài chính liên doanh và vốn 100% nước ngoài… với hệ thống tổ
chức NH này đã đáp ứng tốt công tác huy động tiền gửi cũng như nhu
cầu vốn của mọi đối tượng và thành phần khách hàng. I- CƠ SỞ LÝ LUẬN:

thương mại với vai trò trung gian của mình, nhận tiền từ người muốn cho
vay, trả lãi cho họ và đem số tiền ấy cho người muốn vay vay.

Thực hiện được điều này NHTM huy động và tập trung các nguồn vốn
nhàn rỗi trong nền kinh tế; mặt khác với số vốn này NHTM sẽ đáp ứng
được nhu cầu vốn của nền kinh tế để sản xuất kinh doanh. Qua đó nó thúc
đẩy nền kinh tế phát triển.

NHTM vừa là người đi vay vừa là người cho vay và với số lãi suất chênh
lệch có được nó sẽ duy trì họat động của mình.

Vai trò trung gian này trở nên phong phú hơn với việc phát hành thêm cổ
phiếu, trái phiếu,… NHTM có thể làm trung gian giữa công ty và các nhà
đầu tư; chuyển giao mệnh lệnh trên thị trường chứng khoán; đảm nhận
việc mua trái phiếu công ty…

b. Chức năng làm trung gian thanh toán và quản lý các phương tiện
thanh toán

Chức năng này có nghĩa là ngân hàng tiến hành nhập tiền vào tài khoản
hay chi trả tiền theo lệnh của chủ tài khỏan. Khi các khách hàng gởi tiền
vào ngân hàng, họ sẽ được đảm bảo an toàn trong việc cất giữ tiền và
thực hiện thu chi một cách nhanh chóng tiện lợi, nhất là đối với các khỏan
thanh tóan có giá trị lớn, ở mọi địa phương mà nếu khách hàng tự làm sẽ
rất tốn kém khó khăn và không an toàn (ví dụ: chi phí lưu thông, vận
chuyển, bảo quản…).

Khi làm trung gian thanh toán, ngân hàng tạo ra những công cụ lưu thông
và độc quyền quản lý các công cụ đó (sec, giấy chuyển ngân, thẻ thanh
toán ) đã tiết kiệm cho xã hội rất nhiều vể chi phí lưu thông, đẩy nhanh tốc


Thanh toán

cho vay mới

Dự trữ bắt
buộc
Ngân hàng A 1.000.000

900.000 100.000
Ngân hàng B 900.000 810.000

90.000
Ngân hàng C 810.000 81.000
729.000 Tiền toàn hệ thống ngân
hàng
10.000.000

9.000.000 1.000.000 Giả sử ngân hàng A có khoản tiền gửi mới là 1.000.000đ, dự trữ bắt buộc
là 10% thì số tiền nó có thể cho vay là 900.000. Khoản tiền cho vay đó
được đưa đến người vay, người vay tiền không bao giờ vay tiền về mà cất
trong nhà vì như thế họ phải chịu lãi một cách vô ích, họ dùng tiền đó chi
trả các khỏan. Và số tiền đó đến tay người được chi trả, người chi trả đem
số tiền đó gửi vào ngân hàng B, ngân hàng B lúc này sẽ có một lượng tiền

- Góp vốn, mua cổ phần
- Tham gia thị trường tiền tệ
- Kinh doanh ngoại hối
- Ủy thác và nhận ủy thác
- Cung ứng dịch vụ bảo hiểm
- Tư vấn tài chính
- Bảo quản vật có giá

II- THỰC TRẠNG CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI HIỆN NAY

Trong một hai năm trở lại đây, hoạt động kinh doanh tiền tệ - ngân hàng
của Việt Nam phát triển mạnh mẽ. Tính hấp dẫn của kinh doanh tiền tệ -
ngân hàng được đánh giá là cao hơn so với các ngành kinh tế khác. Lợi
nhuận trên vốn tự có của nhiều ngân hàng đạt 9-10%, cao hơn nhiều so

94% tổng nguồn vốn huy động và cấp tín dụng là hoạt động chủ yếu của
ngân hàng, chiếm trên 80% tổng thu nhập.

Do không thể đa dạng hóa các loại hình dịch vụ ngân hàng đã khiến các
ngân hàng thương mại Việt Nam chủ yếu dựa vào công cụ lãi suất để
cạnh tranh thu hút khách hàng. Tuy nhiên, công cụ này cũng chỉ có tác
dụng ở mức giới hạn nhất định.

Tình hình nợ xấu vẫn có xu hướng giảm nhưng chưa chắc chắn, trong đó
đáng chú ý là các tổ chức tín dụng nhà nước. Một số nguyên nhân dẫn
đến tình trạng nợ quá hạn gia tăng tại các ngân hàng thương mại quốc
doanh là do: việc cho vay chủ yếu dựa vào tài sản đảm bảo, trong khi thị
trường bất động sản và thị trường hàng hóa chưa phát triển và còn nhiều
biến động phức tạp; tự do hóa lãi suất có xu hướng làm cho mặt bằng lãi
suất trong nước tăng lên, tạo điều kiện thu hút thêm tiết kiệm vào hệ thống
ngân hàng.

Tuy nhiên, lãi suất tiền gửi tăng lên làm cho lãi suất cho vay cũng tăng, tạo
thêm gánh nặng về chi phí cho các doanh nghiệp phụ thuộc nặng nề vào
nguồn vay từ ngân hàng. Hậu quả là, ngân hàng vẫn tiếp tục cho vay để
nuôi nợ, dẫn đến tình trạng mất vốn ngày càng lớn.

Một yếu điểm nữa của thị trường tài chính nước ta là, cơ cấu hệ thống tài
chính còn mất cân đối, hệ thống ngân hàng vẫn là kênh cung cấp vốn
trung và dài hạn cho nền kinh tế chủ yếu. Tính chung cả nội tệ và ngoại tệ,
thì số vốn vay huy động ngắn hạn chuyển cho vay trung và dài hạn chiếm
tới khoảng 50% tổng số vốn huy động ngắn hạn.

Việc sử dụng vốn cho vay trung và dài hạn ở nước ta hiện nay tới 50% là
quá cao, nếu duy trì quá lâu sẽ là yếu tố gây rủi ro lớn và có nguy cơ gây

Việc thành lập ngân hàng con sẽ cho phép HSBC mở rộng mạng lưới phân phối
rộng hơn, tới các khách hàng hiện tại cũng như khách hàng mới. HSBC trở
thành ngân hàng nước ngoài đầu tiên tại Việt Nam sở hữu 20% cổ phần tại một
ngân hàng trong nước sau khi nâng cổ phần sở hữu tại Techcombank từ 14,4%
lên 20%. Điều này cho phép HSBC mở rộng sức ảnh hưởng và gia tăng tầm
hoạt động của mình. Sức ép cạnh tranh ngày càng gia tăng đối với các ngân
hàng nội.
Cạnh tranh với ngân hàng trong nước: Điều này là hiển nhiên nhưng có xu thế
mới đó là việc hợp tác của các ngân hàng nội. Việc rõ ràng nhất là “liên minh
ATM”. Cầm thẻ ATM của ngân hàng Techcombank nhưng khi đến trạm rút tiền
của ngân hàng Vietcombank bạn vẫn có thể rút tiền được. Điều này làm gia tăng
tầm hoạt động, khả năng cạnh tranh, sức thu hút khách hàng hơn là những ngân
hàng không nằm trong liên minh.
Nhưng sự cạnh tranh dù là giữa nội – ngoại hay nội – nội vẫn là cần thiết. Vì như
thế các ngân hàng sẽ không ngừng cải thiện, không ngừng gia tăng chất lượng
dịch vụ, luôn luôn sáng tạo để làm thỏa mãn những đòi hỏi của đất nước, của
người dân và các doanh nghiệp.
d. Cạnh tranh với thị trường chứng khoán:
Càng ngày chứng khoán càng trở nên lộ diện là đối thủ cạnh tranh trực tiếp với
các ngân hàng về mặt huy động vốn trong dân. Trước kia chưa có chứng khoán
thì người dân sẽ gửi tiền nhàn rỗi của mình vào các ngân hàng nhằm kiếm các
khoản lợi tức. Nhưng nay, chứng khoán đã làm giảm lượng huy động vốn nhàn
rỗi của các ngân hàng. Những người dân có tiền nhàn rỗi họ sẵn sàng lao vào
đầu tư chứng khoán với hi vọng kiếm lời cao hơn là gửi tiền vào ngân hàng (tuy
có rủi ro cao hơn). Bên cạnh đó, các doanh ngiệp ngoài kênh huy động vốn là
vay mượn các ngân hàng họ còn có cách là phát hành cổ phiếu ra thị trường.
Đấy cũng là một cách tốt để huy động vốn.
Nói đến khó khăn thì cũng cần nhắc đến những thành tựu hay dấu hiệu khả
quan mà ngành ngân hàng đã làm được trong năm nay.
e. Thách thức trực tiếp đối với ngân hàng

lý hiện đại đã được áp dụng phổ biến ở các nước trong nhiều năm qua.
Ngoài ra, các chỉ số và chi phí nghiệp vụ và khả năng sinh lời của phần lớn các
NHTM Việt Nam đều thua kém các ngân hàng trong khu vực. Nếu tính đến
những khoản khoanh nợ và nợ khó đòi thì nhiều NHTM Việt Nam đang ở tình
trạng thua lỗ.
III- GIẢI PHÁP ĐỂ HOÀN THIỆN VÀ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
Thứ nhất, việc loại bỏ dần các hạn chế đối với các ngân hàng nước ngoài có
nghĩa là các ngân hàng nước ngoài sẽ từng bước tham gia vào lĩnh vực hoạt
động ngân hàng tại nước ta. Điều này có nghĩa là sẽ tạo ra sức ép cạnh tranh
trong ngành Ngân hàng và buộc các ngân hàng Việt Nam phải tăng thêm vốn,
đầu tư kỹ thuật, cải tiến phương thức quản trị và hiện đại hoá hệ thống thanh
toán để nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh.
Thứ hai, khả năng tài chính, trình độ quản lý và công nghệ của các ngân
hàng Việt Nam còn thấp, dịch vụ ngân hàng chưa phong phú, tiện lợi nên trong
giai đoạn đầu, thách thức về cạnh tranh đối với các ngân hàng Việt Nam là khá
lớn, đặc biệt là đối với các ngân hàng có những phạm vi hoạt động kinh doanh
phù hợp với lĩnh vực hoạt động, có ưu thế của các ngân hàng nước ngoài như:

quá hạn tại các NHTM nhà nước cao. Vì vậy, nếu không kiên quyết đẩy mạnh
tiến trình cải cách DNNN thì việc cải thiện năng lực cạnh tranh của nền kinh tế
nói chung và các NHTM nói riêng là khó thực hiện.
Thứ hai, nâng cấp và bổ sung để hoàn thiện hệ thống pháp luật. Nhanh chóng
ban hành Luật Cạnh tranh và kiểm soát độc quyền, đưa luật này trở thành công
cụ để Chính phủ kiểm soát cạnh tranh.
Thứ ba, thống nhất quan điểm, xác định rõ và cụ thể về lộ trình mở cửa tài
chính. Tự do hoá tài chính phải được thực hiện sau cùng, sau khi đã thực hiện
cải cách cơ cấu (trong đó có cải cách tài chính bên trong) và tự do hoá thương
mại. Việc có được lộ trình hội nhập tài chính thích hợp sẽ đảm bảo hệ thống tài
chính hội nhập hiệu quả, tăng năng lực cạnh tranh mà không bị vướng vào các
dạng khủng hoảng tài chính - ngân hàng khác nhau.
Thứ tư, khẩn trương hoàn thiện hoạt động của thị trường tiền tệ và hoàn thiện
hoạt động của thị trường chứng khoán, xác định cụ thể lộ trình mở cửa thị
trường tài chính - ngân hàng.
* Về phía Ngân hàng nhà nước(NHNN) Việt Nam
Thứ nhất, năng cao năng lực quản lý điều hành. Từng bước đổi mới cơ cấu tổ
chức, quy định lại chức năng nhiệm vụ của ngân hàng nhà nước nhằm năng cao
hiệu quả điều hành vĩ mô, nhất là trong việc thiết lập, điều hành chính sách tiền
tệ quốc gia và trong việc quản lý, giám sát hoạt động của các trung gian tài
chính.
Thứ hai, phối hợp cùng Bộ Tài chính tham gia xây dựng và phát triển đa dạng
thị trường vốn, tạo điều kiện san sẻ bớt gánh nặng cung cấp vốn hiện nay mà
các NHTM đang phải gánh vác.
Thứ ba, NHNN cần nhanh chóng xin phép Chính phủ để đẩy nhanh thực hiện cổ
phần hóa các NHTM nhà nước, tạo điều kiện cho các ngân hàng này hoạt động
an toàn và hiệu quả hơn.
b. Giải pháp trong nội bộ các ngân hàng
* Nâng cao năng lực tài chính
Năng lực tài chính của các NHTM nước ta nhìn chung là kém, tất cả các chỉ số

thuận lợi cho khách hàng.
* Xây dựng chiến lược khách hàng và phát triển mạng lưới
Xây dựng chiến lược khách hàng đúng đắn, ngân hàng và khách hàng luôn gắn
bó với nhau, phải tạo ra, giữ vững và phát triển mối quan hệ lâu bền với tất cả
khách hàng. Cần đánh giá cao khách hàng truyền thống và khách hàng có uy tín
trong giao dịch ngân hàng. Đối với những khách hàng này, khi xây dựng chiến
lược ngân hàng phải hết sức quan tâm, gắn hoạt động của ngân hàng với hoạt
động của khách hàng, thẩm định và đầu tư kịp thời các dự án có hiệu quả rõ
ràng.
Ngoài ra, các đặc tính sản phẩm từ các ngân hàng đều có điểm giống nhau nên
việc tạo ra sự khác biệt là hết sức quan trọng. Về chiến lược thu hút tiền gửi, cần
xây dựng một hệ thống thanh toán điện tử rộng khắp nhằm tạo cho dân chúng
thói quen sử dụng tài khoản ngân hàng. Đồng thời, những thủ tục rắc rối cần
được cắt giảm để tạo thuận lợi tối đa cho khách hàng.
Bên cạnh đó, để đẩy mạnh tín dụng cần tạo được quy trình cung cấp linh hoạt
sản phẩm của ngân hàng, đặc biệt đối với khách hàng tiềm năng có thể đưa ra
điều kiện cho vay và lãi suất ưu đãi hơn theo thoả thuận giữa hai bên.
* Nâng cao năng lực quản trị điều hành
Cần cải cách bộ máy quản lý điều hành theo tư duy kinh doanh mới. Đồng thời,
xây dựng chuẩn hoá và văn bản hoá toàn bộ quy trình nghiệp vụ của các hoạt
động chủ yếu của NHTM, thực hiện cải cách hành chính doanh nghiệp.
* Nâng cao chất lượng đội ngũ nhân viên ngân hàng.
Cần đào tạo và đào tạo lại cán bộ để thực hiện tốt các nghiệp vụ của ngân
hàng hiện đại. Hơn nữa, cần tiêu chuẩn hoá đội ngũ cán bộ làm công tác hội
nhập quốc tế, nhất là những cán bộ trực tiếp tham gia vào quá trình đàm phán,
ký kết hợp đồng quốc tế, cán bộ thanh tra giám sát và cán bộ chuyên trách làm
công tác pháp luật quốc tế, cán bộ sử dụng và vận hành công nghệ mới.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status