Tiểu luận về
ngân hàng
thương mại
nhà nước
SV thửùc hieọn: Phan Thuùy Kieu NH ngaứy 1 K17
Ngân hàng thơng mại Nhà nớc
1.1. Ngân hàng thơng mại Nhà nớc trong nền kinh tế thị
trờng:
1.1.1. Khái niệm Ngân hàng thơng mại Nhà nớc
1.1.1.1. Bản chất của Ngân hàng thơng mại Nhà nớc trong nền KTTT
Trong nền KTTT, có nhiều loại hình doanh nghiệp cùng tồn tại và phát
triển ở nhiều ngành, lĩnh vực hoạt động khác nhau, trong đó, NHTM cũng đợc
coi là một doanh nghiệp. Khi nền kinh tế hàng hoá càng phát triển thì các
NHTM càng trở nên cần thiết và đóng vai trò là một định chế tài chính quan
trọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tế. Sự phát triển của NHTM luôn gắn liền
với sự phát triển của nền KTTT và kinh tế hàng hoá. Vậy bản chất NHTM là gì?
Việc đa ra một khái niệm chung và chuẩn xác về NHTM là rất khó vì:
(1) các nghiệp vụ ngân hàng thờng đa dạng và phức tạp; (2) mỗi vùng, mỗi
nớc lại có những khái niệm khác nhau về NHTM; (3) đứng trên những góc độ
khác nhau (quản lý, nhà đầu t, ngời vay vốn) lại có những quan điểm khác
nhau về NHTM.
Năm 1942, một nhà kinh tế học ngời Anh cho rằng:
Công việc của NHTM là cung cấp cho khách hàng một số dịch vụ đa
có quyền quản lý điều hành gồm: bổ nhiệm bộ máy lãnh đạo; định hớng, quản
lý hoạt động; thanh tra, kiểm traNHTM Nhà nớc chỉ là một cách phân chia
của NHTM đứng trên góc độ sở hữu, chủ sở hữu của NHTM Nhà nớc chính là
Nhà nớc.
Hoạt động của NHTM Nhà nớc cũng gồm các hoạt động chủ yếu là:
- Hoạt động tạo lập nguồn vốn gồm: Nguồn vốn tự có gồm vốn điều lệ, các
quỹ; Huy động vốn nhàn rỗi của xã hội qua các phơng thức: nhận tiền gửi, phát
hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, trái phiếu ngân hàng; Tạo lập nguồn vốn từ đi
vay của ngân hàng khác (kể cả ngân hàng trung ơng); nguồn vốn khác theo
quy định của ngân hàng trung ơng.
- Hoạt động sử dụng và khai thác nguồn vốn: Cho vay ngắn hạn, trung hạn
và dài hạn; Hoạt động đầu t.
- Các hoạt động khác: thanh toán, bảo lãnh, kinh doanh ngoại tệ, chứng
khoán, dịch vụ quản lý tài sản, t vấn.
NHTM Nhà nớc cũng có đầy đủ các chức năng cơ bản của một NHTM
thông thờng đó là:
- Chức năng trung gian tín dụng: Hoạt động chính của NHTM Nhà nớc là
đi vay để cho vay, điều đó thể hiện rõ NHTM Nhà nớc thực hiện chức năng
trung gian tín dụng. Một mặt, NHTM Nhà nớc huy động các khoản tiền nhàn
rỗi của mọi chủ thể trong xã hội, từ các doanh nghiệp, các hộ gia đình, cá nhân,
cơ quan Nhà nớc. Mặt khác, các NHTM Nhà nớc dùng nguồn vốn đã huy
động đợc để cho vay lại đối với những chủ thể có nhu cầu bổ sung vốn. Theo
cách thức đó, NHTM Nhà nớc là một trung gian về tín dụng giữa những chủ
thể d thừa về vốn và những chủ thể có nhu cầu sử dụng vốn.
- Chức năng trung gian thanh toán: Trên cở sở hoạt động đi vay để cho
vay, NHTM Nhà nớc cung cấp các dịch vụ thanh toán cho khách hàng. Thông
qua các khoản tiền gửi trong tài khoản, NHTM Nhà nớc có thể thực hiện thanh
toán cho ngời thụ hởng theo yêu cầu của ngời trả nợ bằng nhiều hình thức
khác nhau với kỹ thuật ngày càng tiên tiến và thủ tục ngày một đơn giản.
- Chức năng tạo tiền: Cùng với các NHTM khác, những hoạt động mà
Thứ nhất, NHTM Nhà nớc cung ứng đủ vốn đầu t lớn và dài hạn để tiến
hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển đất nớc với tốc độ nhanh. Do có
quy mô hoạt động lớn cả về huy động vốn và cho vay vốn, NHTM Nhà nớc có
khả năng đáp ứng đủ một lợng vốn đầu t lớn và dài hạn cho các dự án trọng
điểm của các doanh nghiệp và Chính Phủ, góp phần đảm bảo chiến lợc phát
triển lâu dài cho toàn bộ nền kinh tế. Hơn nữa, khi có sự tài trợ của NHTM Nhà
nớc vào các dự án này sẽ đẩy nhanh hơn đợc tốc độ thực hiện, tiết kiệm đợc
chi phí về vốn và thời gian đầu t so với sự tài trợ của các thành phần kinh tế
khác.
Thứ hai, NHTM Nhà nớc đảm bảo tài chính đầu t cho các dự án thuộc
những vùng, lĩnh vực nhiều rủi ro, ít lợi nhuận nhng lại có lợi về lâu dài cho
tăng trởng ổn định, phát triển đồng đều nền kinh tế mà các NHTM thuộc các
thành phần kinh tế khác không đủ sức và không muốn tài trợ.
Chính sách phát triển kinh tế của đất nớc là phát triển cân đối giữa các
vùng, ngành sản xuất. Tuy nhiên giữa các vùng, ngành luôn có sự khác biệt nhất
định. ở một số vùng, ngành có khả năng tạo ra lợi nhuận lớn và ít rủi ro sẽ thu
hút đợc nhiều vốn đầu t của các thành phần kinh tế. Ngợc lại, một số vùng,
ngành khác có mức thu lợi nhuận thấp và rủi ro cao lại không thu hút đợc vốn
đầu t. Chính sự khác biệt này có nguy cơ làm mất cân đối nền kinh tế, mất cân
đối giữa các vùng, ngành và không đạt đợc mục tiêu phát triển của Chính Phủ.
Để khắc phục tình trạng này, dới sự điều tiết của Chính Phủ, NHTM Nhà nớc
đợc xem xét là nguồn cung ứng vốn quan trọng cho những dự án thực hiện đầu
t vào những vùng, ngành không đem lại lợi nhuận cao và nhiều rủi ro. Nhờ có
lợng vốn đầu t từ NHTM Nhà nớc, các vùng, ngành này sẽ có điều kiện phát
triển, thu hẹp khoảng cách với các vùng, ngành khác, từ đó làm cho nền kinh tế
tăng trởng ổn định và đồng đều.
Thứ ba, NHTM Nhà nớc góp phần thực hiện các chơng trình, chính
sách phát triển kinh tế xã hội của Chính Phủ, đảm bảo tài chính tài trợ cho
những khu vực không có hoặc có lợi nhuận thấp nhng có phúc lợi xã hội cao.
Ngoài các chơng trình phát triển kinh tế, Chính Phủ còn phải thực hiện
trọng điểm quốc gia nh các dự án về: dầu khí, giao thông, điện, viễn
thônglàm thay đổi to lớn diện mạo đất nớc, làm cơ sở cho công nghiệp hoá,
hiện đại hoá. Ngoài ra, NHTM Nhà nớc cũng cung cấp đầy đủ và kịp thời nhu
cầu vốn đầu t cho các doanh nghiệp, giúp các doanh nghiệp có vốn để mở rộng
quy mô sản xuất, đổi mới thiết bị lạc hậu, áp dụng khoa học công nghệ hiện đại.
NHTM Nhà nớc còn cung cấp các dịch vụ thanh toán ngày càng tiện lợi, nhanh
chóng cho các doanh nghiệp góp phần đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn đầu
t, tiết kiệm chi phí.
Thứ hai, các NHTM Nhà nớc ở Việt Nam có Chi nhánh rộng khắp cả
nớc, ở tất cả các tỉnh thành phố, đặc biệt mạng lới hoạt động của Ngân hàng
Nông nghiệp và phát triển nông thôn còn đợc thành lập tới cấp xã. Chính vì
thế, các NHTM Nhà nớc đã góp phần phân bố hợp lý các nguồn lực, tạo điều
kiện phát triển các đối giữa các vùng, đa miền ngợc tiến kịp miền xuôi, miền
núi tiến kịp đồng bằng. Đặc biệt, các NHTM Nhà nớc đã đóng góp vai trò quan
trọng trong việc cung ứng vốn thực hiện các chơng trình, chính sách phát triển
kinh tế - xã hội của đất nớc nh: chơng trình phát triển nông nghiệp nông
thôn, chơng trình đánh bắt cá xa bờ, chơng trình trồng 5 triệu ha rừng, chơng
trình phát triển kinh tế xã hội các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc
thiểu số, chơng trình khuyến khích xuất khẩu.
Thứ ba, hoạt động các NHTM Nhà nớc đã dần tuân thủ quy luật thị
trờng, đặc biệt về lãi suất, cơ chế tín dụng, thực thi các chính sách tiền tệ của
NHNN góp phần vào việc kìm chế và ổn định lạm phát dới hai con số, giữ
vững tốc độ tăng trởng cao trên 7%, hình thành mặt bằng lãi suất thị trờng,
duy trì mức tỷ giá hối đoái hợp lý để khuyến khích đầu t trong nớc, tăng
cờng xuất khẩu.
Thứ t, các NHTM Nhà nớc luôn tích cực mở rộng quan hệ hợp tác với
các ngân hàng nớc ngoài và các tổ chức tài chính quốc tế nh Ngân hàng thế
giới (WB), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng phát triển Châu á (ADB), đặc
biệt là Ngân hàng ngoại thơng có lịch sử quan hệ quốc tế với khoảng 2.000
ngân hàng nổi tiếng trên thế giới, đã góp phần mở rộng quan hệ giao lu quốc
theo chuẩn quốc tế. Tại Trung Quốc, để giảm nợ khó đòi, tăng vốn tự có của 4
NHTM Nhà nớc, trong vòng 5 năm qua, Chính phủ đã tích cực áp dụng nhiều
biện pháp nh: chuyển nợ khó đòi sang các công ty quản lý tài sản (AMC), tiếp
thêm vốn từ Quỹ dự trữ ngoại tệ quốc gia mà đợt gần đây nhất lên đến 1.670 tỷ
nhân dân tệ (200 tỷ USD).
Tại Việt Nam, nhận thức đợc tầm quan trọng và tác động của quá trình
hội nhập kinh tế quốc tế đối với ngành ngân hàng, Thống đốc Ngân hàng Nhà
nớc đã ban hành QĐ 633/QĐ-NHNN ngày 26/06/2003 về kế hoạch hội nhập
kinh tế quốc tế của ngành ngân hàng Việt Nam. Trong bản kế hoạch này, các
NHTM Nhà nớc đợc xác định không nằm ngoài xu thế chung của thời đại,
trong thời gian tới sẽ tiếp tục đợc chấn chỉnh, sắp xếp lại theo đề án đã đợc
Chính Phủ phê duyệt, xử lý dứt điểm nợ tồn đọng, tiếp tục bổ sung vốn điều lệ,
tiến tới xoá bỏ cơ chế bao cấp, bắt buộc phải hoạt động theo cơ chế thị truờng,
từng bớc nới lỏng những hạn chế về tham gia cổ phần của các trung gian tài
chính nớc ngoài tại Việt Nam theo lộ trình đã cam kết trong các hiệp định
thơng mại. Nâng cao năng lực quản lý và tiềm lực tài chính của các NHTM
Nhà nớc trên cơ sở đẩy mạnh tái đầu t và cơ cấu lại sở hữu. Xây dựng các
định chế quản lý phù hợp với chuẩn quốc tế nh quản trị rủi ro, quản trị tài sản -
nợ, quản trị vốn, kiểm toán nội bộ và hệ thống kế toán. Tiếp tục đầu t để hiện
đại hoá công nghệ ngân hàng nhất là hệ thống thông tin quản lý (MIS) và thanh
toán điện tử liên ngân hàng, nhằm tăng cờng khả năng hội nhập của các
NHTM Nhà nớc vào thị trờng tài chính quốc tế (giai đoạn 2003-2010) [15].
1.1.4. Những hạn chế trong hoạt động của NHTM Nhà nớc:
1.1.4.1. Hạn chế về năng lực tài chính
Mặc dù, trong những giai đoạn phát triển nhất định, NHTM Nhà nớc luôn
giữ vai trò to lớn nhng khi bớc vào nền kinh tế thị trờng tự do, toàn cầu, cạnh
tranh, hoạt động của NHTM Nhà nớc đã nảy sinh nhiều hạn chế, một trong
những hạn chế lớn nhất là hạn chế về năng lực tài chính.
- Vốn tự có bị thiếu hụt trầm trọng :
Với đặc điểm hoạt động là kinh doanh tiền tệ tín dụng, các NHTM cần một
Do chủ sở hữu vốn là Nhà nớc nên lợi ích của ngân hàng không đồng nhất
với lợi ích của bộ máy lãnh đạo cũng nh cán bộ nhân viên, ngời lao động
trong ngân hàng nên mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận bị xem nhẹ. Chi phí huy
động vốn, chi phí hoạt động của các NHTM Nhà nớc cao, tỷ lệ nợ tồn đọng, nợ
xấu lớn làm cho khả năng sinh lời thấp. Các chỉ số ROE (Tỷ lệ lãi ròng/ vốn tự
có); ROA ( Tỷ lệ lãi ròng/ Tổng tài sản) đạt ở mức thấp hơn nhiều so với mức
trung bình của các NHTM thuộc hình thức sở hữu khác.
1.1.4.2. Tính tự chủ trong hoạt động kinh doanh
Do Nhà nớc sở hữu vốn nên Nhà nớc có quyền can thiệp vào quá trình
hoạt động của các NHTM Nhà nớc. Tuy nhiên, sự can thiệp này đôi khi quá
sâu bằng những mệnh lệnh hành chính không phù hợp với quy luật thị trờng đã
làm hạn chế đến tính tự chủ và linh hoạt của các NHTM Nhà nớc.
1.1.4.3. Hạn chế về năng lực tổ chức, quản lý
Bộ máy quản lý của các NHTM Nhà nớc thờng do Nhà nớc chỉ định và
bổ nhiệm. Chính vì thế, nhiều cán bộ quản lý cha đủ năng lực trớc những cơ
hội và thách thức mới của nền kinh tế. Từ đó công tác quản lý ngân hàng còn
chậm đổi mới, cha chủ động tiếp cận với những công nghệ quản lý ngân hàng
hiện đại dẫn đến năng lực quản trị bị hạn chế. Hơn nữa, hệ thống tổ chức của
các NHTM Nhà nớc lại cồng kềnh, dàn trải, hoạt động kém hiệu quả, không
phát huy đợc hết lợi thế của ngân hàng và khả năng của ngời lao động. Hệ
thống tổ chức của các NHTM Nhà nớc hầu hết cha đạt đợc đến mô hình
chuẩn của một ngân hàng hiện đại
1.1.4.4. Hạn chế về khả năng cạnh tranh
Chính những hạn chế về năng lực tài chính, về tính tự chủ và năng lực quản
trị ngân hàng đã làm giảm khả năng cạnh tranh của các NHTM Nhà nớc. Khả
năng cạnh tranh kém thể hiện ở công nghệ lạc hậu, sản phẩm dịch vụ ngân hàng
nghèo nàn, quy mô hoạt động hạn chế Trong xu thế hội nhập hiện nay, khả
năng cạnh tranh yếu kém đã trở thành một nguy cơ rủi ro rất lớn của các NHTM
Nhà nớc.
Tóm lại, hoạt động của NHTM Nhà nớc còn tồn tại nhiều hạn chế,