Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
au gần 20 năm thực hiện các chính sách đổi mới đất nước, có thể
thấy, bộ mặt nước ta đang thay đổi từng ngày, từng giờ. Điều này
chứng tỏ sự đúng đắn trong các đường lối, chính sách của nhà nước
ta. Trong đó, việc tiếp tục đẩy mạnh sắp xếp đổi mới doanh nghiệp Nhà
nước là một trong những mục tiêu quan trọng nhất trong cải cách kinh tế.
Vấn đề cổ phần hoá cũng như đẩy nhanh tiến trình cổ phần hoá của các
doanh nghiệp Nhà nước là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong quá
trình hội nhập và thực hiện mục tiêu cải cách kinh tế.
S
Vấn đề cổ phần hoá ngân hàng thương mại nhà nước đặt ra trong giai
đoạn này là phù hợp với tiến trình đổi mới hoạt động ngân hàng để hội nhập
kinh tế quốc tế. Việc xác định mục tiêu cổ phần hoá, điều kiện cần và đủ để
giải quyết những vấn đề trong quá trình cổ phần hoá và đảm bảo một ngân
hàng sau khi cổ phần hoá đáp ứng được các chuẩn mực Hội nhập kinh tế
quốc tế, đủ năng lực cạnh tranh được với các ngân hàng trong nước và trên
thế giới là một vấn đề hết sức quan trọng.
Trong tiến trình cổ phần hoá các Ngân hàng thương mại nhà nước,
một yếu tố có vai trò rất quan trọng chính là mảng pháp luật. Chính vì lí do
đó, chúng tôi đã lựa chọn đề tài " Pháp luật về cổ phần hóa Ngân hàng
thương mại Nhà nước tại Việt Nam hiện nay".
Kết cấu đề tài bao gồm:
Chương 1: Khái quát về Ngân hàng thương mại Nhà nước và cổ phần
hóa Ngân hàng thương mại Nhà nước.
Chương 2: Pháp luật về cổ phần hóa Ngân hàng thương mại Nhà
nước.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chương 3: Thực trạng pháp luật về cổ phần hóa Ngân hàng thương
mại Nhà nước và một số kiến nghị.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Ngoài những đặc trưng trên thì ngân hàng thương mại nhà nước còn có
những đặc trưng riêng sau:
- Là ngân hàng thương mại do nhà nước thành lập, thuộc sở hữu nhà
nước. theo điều 4 của điều lệ: Ngân hàng chịu sự quản lý nhà nước của Ngân hàng
Nhà nước, của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Uỷ ban nhân
dân các cấp theo chức năng và quy định của pháp luật.
- Nội dung và phạm vi hoạt động bao gồm:
+ Huy động vốn
+ Hoạt động tín dụng
+ Dịch vụ thanh toán và ngân quỹ
+ Các hoạt động khác.
Mục tiêu hoạt động là lợi nhuận, đồng thời các ngân hàng thương mại nhà
nước cũng đóng vai trò chủ đạo trong hệ thống ngân hàng ( chiếm 80% tổng nguồn
vốn huy động trong nguồn vốn ngân hang, số liệu từ 2001- 2006 ) nên còn được nhà
nước giao cho nhiệm vụ góp phần thực hiện các chính sách kinh tế của nhà nước.
Sự lồng ghép mục tiêu lợi nhuận và thực hiện các chính sách kinh tế của nhà nước
đối với hoạt động của ngân hàng thương mại xuất phát từ quyền sở hữu của nhà
nước, dẫn tới sự can thiệp quá sâu của nhà nước vào hoạt động kinh doanh của ngân
hang, làm giảm tính độc lập tự quyết ,nhiều trưòng hợp không đảm bảo được mục
tiêu lợi nhuận của ngân hàng thương mại nhà nước.
Việc tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại nhà nước vừa chịu sự
điều chỉnh của pháp luật ngân hàng vừa chịu sự điều chỉnh của pháp luật về doanh
nghiệp nhà nước.
II. Thực trạng các ngân hàng thương mại nhà nước
trước khi cổ phần hóa và tính tất yếu phải cổ phần hóa :
1. Thực trạng của các ngân hàng thương mại nhà nước :
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
khu vực. Hệ thống ngân hàng thương mại quốc doanh chiếm đến trên 75% thị
trường huy động vốn đầu vào và trên 73% thị trường tín dụng.
Trong khi đó, hệ số an toàn vốn bình quân của các ngân hàng thương mại
Việt Nam thấp (dưới 5%), chưa đạt tỷ lệ theo yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước và
thông lệ quốc tế (8%). Chất lượng và hiệu quả sử dụng tài sản Có thấp (dưới 1%),
lại phải đối phó với rủi ro lệch kép là rủi ro kỳ hạn và rủi ro tỷ giá.
Theo PGS.TS Lê Hoàng Nga, Học viện Ngân hàng, nếu trích lập đầy đủ
những khoản nợ khoanh và nợ khó đòi thì vốn tự có của nhiều ngân hàng thương
mại Việt Nam, nhất là ngân hàng thương mại Nhà nước, ở tình trạng âm.
Tiềm lực tài chính ( Bảng 1 ):
Bảng 1. Một số chỉ tiêu thể hiện tiềm lực tài chính của các ngân hàng thương
mại nhà nước
Chỉ tiêu
1
999
2
000
2
001
2
002
2
003
Tổng tài sản ( tỷ
VND)
1
79.629
2
39.584
2
6%
-
11%
7
%
6
9%
4
2%
Hệ số CAR 5,
2%
3,
5%
3
%
4
%
4,
5%
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Tổng số vốn tự có bị
thiếu (tỷ VND)
4.
023
8.
660
1
2.042
1
8
,74
7
,58
5
,01
Lợi nhuận ròng/ Vốn tự
có(ROE)
8
,63
1
2,81
1
5,58
9
,43
6
,54
Lợi nhuận ròng/Tổng tài
sản có (ROA)
0
,36
0
,36
0
,38
0
,3
0
,38
Sự đơn điệu trong hoạt động dịch vụ khiến hệ thống ngân hàng quốc doanh
không tận dụng được lợi thế về mạng lưới, về khách hàng, về kênh phân phối và
công nghệ. Cũng chính vì sự đơn điệu nên giá thành dịch vụ của các ngân hàng
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
quốc doanh khá cao so với các nước khu vực. Nếu như ở các nước phát triển, ngân
hàng thương mại thường là những tổ hợp Ngân hàng - tài chính kinh doanh đa
ngành nghề (tín dụng, thanh toán, bảo hiểm, chứng khoán...) thì các ngân hàng
thương mại Việt Nam vẫn xoay quanh các sản phẩm truyền thống như: Tín dụng,
bảo lãnh thanh toán. Một số dịch vụ mới ra đời nhưng vẫn ở mức nhỏ bé, chiếm tỷ
trọng thấp trong tổng doanh thu.
Một chuyên gia của Ngân hàng Thế giới cảnh báo: Nếu dịch vụ ngân hàng
không được cải tiến mạnh mẽ, hệ thống phân phối của ngân hàng trong nước sẽ mất
dần, nhất là khi sự phân biệt giữa tổ chức tín dụng trong nước và nước ngoài căn
bản được xóa vào năm 2010. Mặt khác với điều kiện hạ tầng kỹ thuật như hiện nay,
sẽ rất khó có các ngân hàng nội địa cạnh tranh được với ngân hàng nước ngoài về
mặt công nghệ. Một cuộc thăm dò ý kiến khách hàng gần đây cho biết: 45% số
khách hàng được hỏi, kể cả cá nhân và doanh nghiệp trả lời sẽ chuyển sang vay vốn
ngân hàng nước ngoài chứ không vay vốn của ngân hàng Việt Nam. Nguyên nhân
ngoài lý do chênh lệch lãi suất thì cơ bản là do chất lượng dịch vụ và thủ tục hành
chính quá rườm rà phức tạp.
c. Cơ cấu hệ thống tài chính mất cân đối, tình hình nợ xấu:
Tình hình nợ xấu vẫn có xu hướng giảm nhưng chưa chắc chắn, trong đó
đáng chú ý là các tổ chức tín dụng nhà nước. Một số nguyên nhân dẫn đến tình
trạng nợ quá hạn gia tăng tại các ngân hàng thương mại quốc doanh là do:
- Việc cho vay chủ yếu dựa vào tài sản đảm bảo, trong khi thị trường
bất động sản và thị trường hàng hóa chưa phát triển và còn nhiều biến động phức
tạp.
- Tự do hóa lãi suất có xu hướng làm cho mặt bằng lãi suất trong nước
tăng lên, tạo điều kiện thu hút thêm tiết kiệm vào hệ thống ngân hàng.
ngộ nhân viên lại phải do nhà nước quy định. Nếu như ở ngân hàng cổ phần, lương
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
tổng giám đốc không dưới 5 ngàn USD thì ở ngân hàng quốc doanh, chỉ được xấp
xỉ 10 triệu đồng. Cũng chính vì sự thiếu năng động trong chính sách đãi ngộ, nên
ngân hàng quốc doanh luôn đối mặt với nguy cơ chảy máu chất xám. Một số ít tâm
huyết với nghề, nín thở chờ đợi thời điểm biến thành ngân hàng cổ phần. Một số
khác, không đủ kiên nhẫn đã chia tay. Mỗi năm Vietcombank đã mất vài ba chục
cán bộ giỏi, riêng năm ngoái mất hơn 50 người cũng chỉ vì lý do thu nhập.
TS Nguyễn Văn Nam, cựu thành viên Ban nghiên cứu Thủ tướng cho rằng,
thói quen làm việc dưới các chính sách ưu đãi của Nhà nước, vì sự bất tài, hay thói
quen dựa vào sự lỏng lẻo của cơ chế quản lý nhà nước để dễ kiếm chác, trục lợi lại
thích được tiếp tục duy trì là doanh nghiệp quốc doanh, vừa ổn định, không mất ghế
mà vẫn kiếm được. Còn khi chuyển sang cơ chế cổ phần, năng lực công tác là một
sự cạnh tranh thực sự, và cơ chế tài chính cũng được giám sát chặt chẽ hơn bởi các
cổ đông. Đó cũng chính là lý do để hệ thống ngân hàng quốc doanh chậm chuyển
đổi.
e. Năng lực quản lý điều hành còn hạn chế
Mặc dù trong thời gian qua, công tác nâng cao năng lực quản trị điều hành
của ngân hàng thương mại nhà nước đã được tăng cường, nhưng hiện vẫn còn nhiều
tồn tại, đặc biệt là trong công tác quản trị rủi ro tín dụng, dẫn đến tỉ lệ nợ quá hạn có
chiều hướng gia tăng, chất lượng tín dụng chưa đồng đều. Các phần việc khác như:
Xây dựng định chế quản trị rủi ro, quản trị tài sản nợ, tài sản có, kiểm toán nội bộ
hiện mới bắt đầu triển khai với sự trợ giúp của các công ty tư vấn trong nước và
quốc tế. Hệ thống cơ chế khuyến khích bao gồm cơ chế lương, thưởng và xử phạt
hiện chưa thích hợp và chưa tạo được động lực. Bên cạnh đó, tính minh bạch thấp là
một tồn tại khiến cho công chúng và các nhà đầu tư trong và ngoài nước thiếu lòng
tin vào ngân hàng thương mại nhà nước.
Hội nhập kinh tế là một xu hướng tất yếu, do đó, cạnh tranh của một doanh
nghiệp không còn bó hẹp trong phạm vi giữa các doanh nghiệp hay phạm vi quốc
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Việc cổ phần hóa ngân hàng là một khâu trong quá trình đổi mới hoạt động
ngân hàng, củng cố và cơ cấu lại các ngân hàng thương mại theo hướng tiếp tục
phát huy thành tựu, khắc phục những tồn tại nhằm nâng cao năng lực tài chính, trình
độ công nghệ, năng lực tổ chức kinh doanh đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của
công cuộc đổi mới trong những năm tới.
Ngân hàng thương mại nhà nước đang đứng trước thực trạng nợ tồn đọng
lớn, vốn tự có quá thấp so với nhu cầu thực tiễn và so với các ngân hàng trên thế
giới, tình trạng này đang làm hạn chế khả năng huy động vốn và cho vay của hệ
thống ngân hàng.
Do yêu cầu của công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước cần phải có một khối
lượng vốn, vì vậy cần phải có ngân hàng thương mại đủ tiềm lực tài chính để thực
hiện phân phối và sử dụng vốn một cách hiệu quả. Chính vì vậy, đặt ra vấn đề cổ
phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước là rất cần thiết.
Quá trình thực hiện Hiệp định thương mại Việt-Mỹ và chuẩn bị hội nhập vào
thị trường tài chính quốc tế với việc tự do hóa tài chính đã làm cho môi trường cạnh
tranh gay gắt hơn, đầy rủi ro hơn. Bối cảnh này đã đặt ra cho ngành ngân hàng cần
thiết phải cổ phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước.
Với những yêu cầu hết sức cần thiết và bức xúc như đã nêu trên, đòi hỏi
trong hoạt động của ngân hàng Việt Nam phải có một ngân hàng với quy mô lớn,
năng lực tài chính mạnh trong khi các ngân hàng thương mại nhà nước cũng như
các ngân hàng thương mại cổ phần không thể đáp ứng được thì vấn đề cổ phần hóa
ngân hàng thương mại nhà nước là một yêu cầu cần thiết khách quan.
III. Cổ phần hóa các ngân hàng thương mại nhà nước
1. Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
Là quá trình chuyển đổi từ chỗ chỉ có một chủ sở hữu thành doanh nghiệp có
nhiều chủ sở hữu ( công ty cổ phần ). Cổ phần hóa nói chung có thể diễn ra tại các
doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty liên doanh và các
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
hảo. Thị trường tài chính phát triển vừa là qui luật của kinh tế thị trường vì nhờ nó
mà lưu thông hàng hoá, lưu thông vốn được mở rộng nhanh chóng, song tính dễ bị
tổn thương, tính nhạy cảm và nhất là tính lan toả và ảnh hưởng lẫn nhau của thị
trường tài chính cũng là thách thức lớn đối với mọi quốc gia có nền kinh tế thị
trường. Vấn đề là không thể lẩn tránh thách thức, do đó phải chủ động nhận dạng,
phân tích và ứng phó thích hợp trên cơ sở tôn trọng và khai thác tối đa những mặt
tích cực của các qui luật thị trường cũng như qui luật toàn cầu hoá ngày nay. Cổ
phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước ở Việt Nam chưa có tiền lệ, là việc rất
phức tạp và diễn ra trong môi trường thị trường tài chính còn sơ khai, nhưng không
thể dẫm chân tại chỗ, càng không thể chỉ đưa việc đại sự này vào "phòng thí
nghiệm" để phát tín hiệu dần dần... vì chúng ta có kinh nghiệm từ nước ngoài, có
chủ trương của Đảng và Nhà nước và trên hết là trong nền kinh tế thị trường không
thể tiếp tục duy trì quá lâu qui mô và phương thức hoạt động kinh doanh của ngân
hàng thương mại nhà nước như hiện nay ở môi trường kinh tế mới.
Cổ phần hoá ngân hàng thương mại nhà nước sẽ khắc phục được
những vấn đề gì?
Ngân hàng thương mại nhà nước (NHTMNN) khi chuyển sang ngân hàng
thương mại cổ phần sẽ loại bỏ được sự thiếu minh bạch trong các mục tiêu và chiến
lược mà ngân hàng theo đuổi, buộc lãnh đạo ngân hàng phải làm việc vì lợi ích của
cổ đông và vì vậy buộc họ phải nỗ lực hết sức mình nếu không muốn bị các cổ đông
phế truất địa vị lãnh đạo.
Bên cạnh đó, cổ phần hóa giúp các ngân hàng huy động nguồn vốn từ công
chúng để phát triển và đảm bảo an toàn kinh doanh, hiện đại hóa công nghệ ngân
hàng, nâng cao năng lực cạnh tranh trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và tự
do hóa tài chính. Ngoài ra, cổ phần hóa còn giảm bớt áp lực đè nặng lên ngân sách
nhà nước, tạo điều kiện thúc đẩy thị trường chứng khoán phát triển
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Những lợi ích có được từ cổ phần hóa:
Dưới góc độ quản lí vĩ mô:
toàn, lành mạnh theo chuẩn mực quốc tế, làm giảm những khoản nợ xấu và tăng khả
năng cạnh tranh của ngân hàng trong bối cảnh phát triển và hội nhập kinh tế quốc
tế, buộc ngân hàng phải ứng xử theo quy luật thị trường và cơ cấu lại nhằm tối đa
hoá lợi nhuận.
- Cổ phần hóa sẽ thay đổi phương thức quản lý và nhận thức của người
lao động :
Ngân hàng thương mại nhà nước khi cổ phần hóa sẽ loại bỏ sự thiếu minh
bạch, buộc lãnh đạo ngân hàng phải làm việc vì lợi ích của cổ đông, và vì vậy buộc
họ phải nỗ lực hết mình nếu không muốn bị cổ đông phế truất địa vị lãnh đạo. Khi
cổ phần hóa, giám đốc phải chịu sự giám sát chặt chẽ trong điều hành hoạt động
ngân hàng. Điều này buộc người lãnh đạo phải trở nên năng động, cầu tiến, có trách
nhiệm thực sự đối với công việc.
Đối với người lao động, khi quyền lợi riêng đã được gắn kết với quyền lợi
chung, người lao động sẽ luôn quan tâm đến hiệu quả hoạt động kinh doanh.
- Cổ phần hóa sẽ thu hút được các nhà đầu tư chiến lược:
Theo kinh nghiệm của các nước trên thế giới, việc cổ phần hoá các ngân
hàng thương mại nhà nước ngoài mục đích tăng cường tiềm lực về vốn, tạo sự chủ
động trong hoạt động, còn có một mục tiêu quan trọng là thu hút các nhà đầu tư
chiến lược mà ở đây chủ yếu là các tập đoàn nước ngoài. Hiện nay, Dragon Capital
của Anh đã đầu tư vào 3 ngân hàng thương mại cổ phần: ACB, VP Bank và
Sacombank; Deutsche Bank của Đức sẽ mua cổ phần của Eximbank dự kiến khoảng
từ 20- 30% vốn điều lệ. Việc thu hút các nhà đầu tư chiến lược có ý nghĩa quan
trọng như:
- Khai thác kinh nghiệm quản lý, điều hành ngân hàng hiện đại.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Khai thác các công nghệ ngân hàng tiên tiến.
- Tận dụng mạng lưới chi nhánh, đại lý của các nhà đầu tư này để mở
rộng hoạt động.
Những vấn đề đặt ra trong quá trình cổ phần hóa ngân hàng thương mại nhà
cổ đông trong và ngoài nước.
- Mức vốn điều lệ tăng đến đâu thì vốn của nhà nước luôn giữ tỷ trọng
51%.
Về góp vốn của cổ đông nước ngoài:
Khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia góp vốn để thu hút
các nguồn lực ngoài nước, tỷ lệ tham gia của các cổ đông nước ngoài dần dần được
mở rộng nhưng tỷ lệ tối đa không quá 30% vốn điều lệ. Trong đó, nên tập trung ưu
đãi cho các cổ đông nước ngoài là các ngân hàng nước ngoài với tỷ lệ góp vốn tối
đa không quá 20% vốn tự có. Bởi vì chính các ngân hàng này sẽ là cơ sở, điều kiện
giúp cho ngân hàng được cổ phần hóa mở rộng phát triển mạng lưới hoạt động (chi
nhánh, văn phòng đại diện) đến các nước sở tại này.
Về vai trò chủ đạo trong thực hiện chính sách tiền tệ của ngân hàng được cổ
phần hóa :
Ngân hàng thương mại nhà nước sau khi cổ phần hóa phải trở thành một
ngân hàng cùng với hệ thống ngân hàng thương mại nhà nước là lực lượng nòng cốt
trong lĩnh vực ngân hàng, là ngân hàng triển khai thực hiện tốt chính sách tiền tệ
của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, là một ngân hàng có khả năng huy động tốt
mọi tiềm lực kinh tế xã hội trong và ngoài nước để phân phối và sử dụng một cách
an toàn hiệu quả, an toàn góp phần thực hiện thành công công nghiệp hóa- hiện đại
hóa đất nước.
Việc cổ phần hóa ngân hàng đảm bảo ổn định được hoạt động tiền tệ-tín
dụng của hệ thống ngân hàng đối với nền kinh tế.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Về tình hình tài chính:
Mặc dù hiện nay, Chính phủ đã có những chủ trương xử lý nợ tồn đọng và
các ngân hàng thương mại nhà nước đã tích cực xử lý nhưng nhìn chung tỷ lệ nợ
tồn đọng vẫn còn chiếm tỷ lệ khá cao. Kinh nghiệm từ thực tiễn cổ phần hóa các
doanh nghiệp nhà nước về việc xử lý nợ tồn đọng luôn luôn là vấn đề hết sức khó
khăn, phụ thuộc vào các cơ chế chính sách xử lý nợ, sự phối hợp của các cơ quan
động ra các nước trên thế giới đặc biệt là các nước có cổ đông góp vốn (đây sẽ là
một ưu thế của ngân hàng cổ phần hóa ).
***
CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT VỀ CỔ PHẦN HÓA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NHÀ NƯỚC HIỆN NAY.
***
A- KHÁI QUÁT VỀ PHÁP LUẬT CỔ PHẦN HÓA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI NHÀ NƯỚC QUA TỪNG GIAI ĐOẠN.
Pháp luật về cổ phần hóa nói chung đã tồn tại từ những năm đầu của
thập niên 90 và tiếp tục được sửa đổi bổ sung nhiều lần cho tới nay. Tuy
nhiên, đến tận năm 2005, Ngân hàng thương mại Nhà nước đầu tiên là Ngân
hàng Ngoại thương Việt Nam mới thực hiện cổ phần hóa. Do vậy, pháp luật
về cổ phần hóa Ngân hàng thương mại Nhà nước sẽ được áp dụng kể từ năm
2005. Về nguyên tắc, Ngân hàng ngoại thương Việt Nam áp dụng theo các
văn bản cũ (trước nghị định 109), đó là
- Nghị định số 187/2004/NĐ-CP của Chính phủ về việc
chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Thông tư 126/2004/TT-BTC ngày 24.12.2004 của Bộ tài
chính.
- Thông tư 40/2004/TT-BTC hướng dẫn kế toán khi
chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần.
- Thông tư 95 /2006/TT-BTC sửa đổi, bổ sung TT số
126/2004/TT-BTC ngày 24/12/2004 của BTC hướng dẫn thực hiện
NĐ số 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của CP về chuyển công ty
nhà nước thành công ty cổ phần.
Tuy nhiên, trong quá trình cổ phần hóa, Ngân hàng ngoại thương đã
gặp phải một số vướng mắc và đã phải chờ chỉ đạo trực tiếp từ Chính phủ và
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Hiện nay, sau khi thí điểm cổ phần hóa
Nhà nước quyết định đầu tư và thành lập.
- Đơn vị hạch toán phụ thuộc của công ty nhà nước độc lập, tập
đoàn, tổng công ty nhà nước, công ty mẹ, công ty thành viên hạch toán độc
lập của Tổng công ty.
- Công ty trách nhiệm hữu hạn do Nhà nước nắm giữ 100% vốn
điều lệ.
Như vậy, căn cứ vào các quy định trên, các Ngân hàng thương mại
Nhà nước chính là một trong các đối tượng điều chỉnh của pháp luật về cổ
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
phần hóa. Bởi vậy, việc cổ phần hóa các Ngân hàng thương mại Nhà nước sẽ
được điều chỉnh bởi các văn bản sau:
- Nghị định 109/2007/NĐ-CP về chuyển doanh nghiệp 100%
vốn nhà nước thành công ty cổ phần.
- Nghị định 110/2007/NĐ-CP về Chính sách cho người lao
động dôi dư khi sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước.
- Thông tư 146/2007/TT-BTC Ngày 06 Tháng 12 năm 2007
hướng dẫn thực hiện một số vấn đề về tài chính khi thực hiện chuyển
danh nghiệp 100% vốn Nhà nước thành công ty cổ phần theo quy định
tại nghị định 109/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007 của Chính phủ.
- Thông tư 20/2007/TT-BLĐTBXH hướng dẫn thực hiện
chính sách đối với người lao động theo Nghị định số 109/2007/NĐ-CP
ngày 26 tháng 06 năm 2007 của Chính phủ về chuyển doanh nghiệp
100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần.
Ngoài việc là đối tượng được nêu ở điều 2, các Ngân hàng thương mại
Nhà nước còn phải đáp ứng các quy định tại điều 3 nghị định 109:
- Không thuộc diện Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.
Các Ngân hàng thương mại Nhà nước đều đáp ứng đủ yêu cầu này
theo kế hoạch cổ phần hóa của Chính phủ. Theo đó, tất cả các Ngân hàng
thương mại Nhà nước đều thuộc diện cổ phần hóa. Chính phủ đã có nhiều
chức, cá nhân không chấp hành chế độ nhà nước, gây ra tổn thất hoặc thất
Website: Email : Tel : 0918.775.368