MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết nghiên cứu của đề tài
Trong xu thế mạnh mẽ của toàn cầu hóa, tự do hóa, nền kinh tế Lào
đang từng bước hội nhập với khu vực và thế giới theo đúng chủ trương mà
Đảng đã xác định "chủ động hội nhập kinh tế thế giới". Những năm đổi mới
mở cửa vừa qua, nền kinh tế Lào đã có những bước phát triển đáng kể với tốc
độ tăng GDP từ 6-7%/năm trong giai đoạn từ 1991- 2010. Hội nhập kinh tế đã
mang lại cho Lào nhiều cơ hội mở rộng thương mại với các nước trên thế
giới, tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài, đẩy mạnh cải cách trong mọi
lĩnh vực Tuy nhiên, khả năng cạnh tranh yếu kém của nền kinh tế đang là
sức ép lớn khi Lào tham gia hội nhập, đặc biệt với ngành ngân hàng, với hệ
thống Ngân hàng Thương mại (NHTM) mà trung tâm là các NHTMNN.
Hoạt động ngân hàng, trong đó NHTMNN với vai trò chủ đạo trong
những năm qua đã có sự đóng góp rất lớn vào sự thành công trong sự nghiệp
đổi mới đất nước, đã triển khai thực hiện chính sách tiền tệ một cách tích cực,
cơ bản ổn định được giá trị và sức mua của đồng tiền, kìm chế lạm phát, tăng
dự trữ ngoại tệ cho quốc gia và góp phần tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, nhìn
chung vẫn chưa đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển chung của nền kinh tế,
chưa phát huy hết chức năng huy động và sử dụng vốn có hiệu quả để làm cho
kinh tế nhà nước thực sự đóng vai trò chủ đạo.
Cổ phần hóa các NHTMNN Lào là một trong những hướng đi quan
trọng của nỗ lực cải cách nền kinh tế, chuyển hướng sang nền kinh tế thị
trường đa thành phần. Cổ phần hóa NHTMNN Lào, không chỉ thực hiện các
mục tiêu về nâng cao năng lực quản trị điều hành, quản trị rủi ro ngân hàng
mà còn là phương án khả thi để tăng nhanh năng lực tài chính cho các
NHTMNN Lào đạt hệ số an toàn vốn theo tiêu chuẩn quốc tế. Tuy nhiên, khi
1
bắt tay vào thực hiện, thực tế đã nảy sinh nhiều khó khăn, phức tạp. Những
vướng mắc này nếu không được giải quyết, khắc phục kịp thời sẽ gây cản trở,
làm chậm tiến trình Cổ phần hóa các NHTMNN Lào.
Tuy nhiên, Cổ phần hóa NHTMNN là một vấn đề rất phức tạp, vì vậy
từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cổ phần hóa các
NHTMNN ở Việt Nam.
- "Cổ phần hóa Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam", Đặng Thị
Thùy Trang (2007), Luận văn thạc sĩ Kinh tế, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ
Chí Minh. Trong nghiên cứu, tác giả đã làm rõ lý thuyết cổ phần hóa
NHTMNN để giải quyết yêu cầu thực tế về cải cách hoạt động của hệ thống
NHTMNN ở Việt Nam; đã phân tích đánh giá tiến trình thực hiện cổ phần hóa
BIDV (bước 1), từ đó chỉ ra những kết quả bước đầu, những hạn chế và nguyên
nhân, trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm đẩy
mạnh tiến trình thực hiện cổ phần hóa BIDV một cách có hiệu quả nhất.
- "Niêm yết các ngân hàng thương mại cổ phần trên thị trường
chứng khoán Việt Nam", Bùi Văn Thanh (2007), Luận văn thạc sĩ Kinh tế,
Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu này đã làm rõ một số
vấn đề lý luận về NHTM và thị trường chứng khoán; thực trạng niêm yết của
các NHTM cổ phần trên thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam và
nghiên cứu sự điều chỉnh của pháp luật đối với hoạt động của NHTM cổ
phần và TTCK hiện nay. Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và
thực tiễn hoạt động NHTM cổ phần đã niêm yết trên TTCK, tác giả đề xuất
phương hướng và giải pháp đẩy mạnh việc niêm yết các NHTM cổ phần trên
TTCK Việt Nam.
3
Ngoài ra, còn có một số bài viết về chủ đề cổ phần hóa NHTMNN
được đăng tải trên các Tạp chí khoa học chuyên ngành như: "Một số vấn đề
cổ phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước ở Việt Nam", của PGS.TS.
Nguyễn Đình Tự, Tạp chí Ngân hàng, số 8/2004; "cổ phần hóa các ngân
hàng thương mại nhà nước trong phát triển thị trường chứng khoán ở nước
ta", của PGS.TS. Nguyễn Đình Tự, Tạp chí Cộng sản, số 4/2005; "Cổ phần
hóa ngân hàng thương mại nhà nước những vấn đề đặt ra giải pháp đẩy
mạnh", của Trần Ngọc Minh, Tạp chí Phát triển kinh tế, số tháng 10/2006,…
2.2 Tình hình nghiên cứu ở Lào
số 3, tr. 47-49.
Nhìn chung, các công trình trên đều đã đề cập đến vấn đề hội nhập
quốc tế của các NHTMNN, nâng cao năng lực cạnh tranh, phát triển hoạt
động kinh doanh dịch vụ ngân hàng hiện đại. Như vậy, cho đến nay chưa có
một công trình nghiên cứu khoa học nào nghiên cứu một cách toàn diện và có
hệ thống về cổ phần hóa NHTMNN Lào. Luận án của tác giả, vì vậy không
trùng lặp với các công trình khoa học đã công bố.
3. Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về cổ phần hóa NHTMNN, nội
dung cơ bản của tiến trình cổ phần hóa NHTMNN.
- Tham khảo kinh nghiệm cổ phần hóa NHTMNN của Việt Nam và một
số nước khác, từ đó rút ra một số bài học kinh nghiệm cho NHTMNN Lào.
- Phân tích, đánh giá thực trạng hệ thống NHTM Lào, làm rõ tính tất
yếu khách quan phải cổ phần hóa NHTMNN Lào. Tập trung đánh giá đề án
thí điểm cổ phần hóa Ngân hàng Ngoại thương Lào (BCEL), từ đó chỉ ra
những thành công, kết quả bước đầu, những tồn tại, vướng mắc trong tiến
trình triển khai cổ phần hóa.
5
- Xác lập mục tiêu, nguyên tắc, quan điểm cổ phần hóa NHTMNN Lào,
đề xuất các giải pháp nhằm đẩy mạnh tiến trình thực hiện cổ phần hóa
NHTMNN Lào.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Cổ phần hóa NHTMNN là vấn đề rộng lớn và rất phức tạp, Luận án
tập trung nghiên cứu quá trình cổ phần hóa Ngân hàng Ngoại thương Lào
(BCEL), các hoạt động kinh doanh của BCEL và quá trình chuẩn bị thực hiện
CPH BCEL trong giai đọan từ năm 2008 đến nay.
- Phạm vi nghiên cứu là BCEL trên toàn diện, không xét tới các chi
nhánh và các công ty con. Chính vì thế, báo cáo tài chính hợp nhất của BCEL
sẽ là phạm vi nghiên cứu tập trung của đề tài.
5. Phương pháp nghiên cứu
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của của luận án gồm ba chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về Cổ phần hóa Ngân hàng Thương
mại Nhà nước.
Chương 2: Thực trạng Cổ phần hóa Ngân hàng Thương mại Nhà nước
Lào.
Chương 3: Giải pháp đẩy mạnh Cổ phần hóa Ngân hàng Thương mại
Nhà nước Lào.
7
Chương 1
NHỮNG V N C B N V C PH N HÓAẤ ĐỀ Ơ Ả Ề Ổ Ầ
NG N H NGÂ À THƯƠNG MẠI NHÀ NƯỚC
1.1. NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NHÀ NƯỚC
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm ngân hàng thương mại nhà nước
Trong nền KTTT, có nhiều loại hình doanh nghiệp cùng tồn tại và
phát triển ở nhiều ngành, lĩnh vực hoạt động khác nhau, trong đó, NHTM
cũng được coi là một doanh nghiệp. Khi nền kinh tế hàng hóa càng phát
triển thì các NHTM càng trở nên cần thiết và đóng vai trò là một định chế tài
chính gắn liền với sự phát triển của nền KTTT và kinh tế hàng hóa. Vậy bản
chất NHTM là gì?
Việc đưa ra một khái niệm chung và chuẩn xác về NHTM là rất khó vì:
các nghiệp vụ ngân hàng thường đa dạng và phức tạp; mỗi vùng, mỗi nước lại có
những khái niệm khác về NHTM; đứng trên những góc độ khác nhau (quản lý,
nhà đầu tư, người vay vốn ) lại có những quan điểm khác nhau về NHTM.
Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng đã định nghĩa: "Ngân hàng
thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là
nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức
khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết
khấu, tín dụng và tài chính" [92, Tr 269].
Huy động vốn là quá trình NHTM nhận tiền gửi của tổ chức và cá
nhân dưới các hình thức tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm, phát hành giấy
tờ có giá và tiền vay của Ngân hàng nhà nước (NHNN), các tổ chức tín
dụng khác.
Sử dụng vốn của một NHTM chủ yếu từ hoạt động tín dụng và đầu tư,
tín dụng là quá trình NHTM cho các tổ chức và cá nhân vay vốn để phục vụ
cho quá trình sản xuất kinh doanh của đơn vị, đầu tư là quá trình các NHTM
9
dùng vốn tự có và các quỹ của mình mua đi bán lại các giấy tờ có giá (tín
phiếu, trái phiếu của Chính phủ, NHNN), chứng khoán hoặc góp vốn liên
doanh liên kết, mua cổ phần.
Hàng hóa sử dụng trong kinh doanh của NHTM là tiền tệ, thực hiện
các chức năng: Trung gian tín dụng, trung gian thanh toán và cung ứng dịch
vụ cho khách hàng.
Ở Lào hiện nay, thuộc loại hình NHTM có các dạng sau: NHTMNN,
NHTM cổ phần, Ngân hàng liên doanh, chi nhánh NHTM nước ngoài.
Ngân hàng thương mại nhà nước là NHTM do nhà nước đầu tư vốn,
thành lập, thuộc sở hữu nhà nước. Hoạt động của NHTMNN là vì mục tiêu
lợi nhuận. Tuy nhiên, do NHTMNN đóng vai trò chủ đạo trong hệ thống ngân
hàng nên còn được Nhà nước giao cho nhiệm vụ góp phần thực hiện các
chính sách kinh tế của Nhà nước. Sự lồng ghép mục tiêu lợi nhuận và thực
hiện các chính sách kinh tế của Nhà nước đối với hoạt động của NHTMNN
thể hiện rõ mối quan hệ giữa chủ sở hữu của Nhà nước với NHTM.
Như vậy, NHTMNN là một NHTM có 100% vốn chủ sở hữu do Nhà
nước cấp và Nhà nước là người có quyền quản lý điều hành, bao gồm: Bổ
nhiệm bộ máy lãnh đạo, định hướng hoạt động kinh doanh, quản lý hoạt động,
thanh tra, kiểm tra NHTMNN chỉ là một cách phân chia của NHTM đứng
trên góc độ sở hữu, chủ sở hữu của NHTMNN chính là Nhà nước.
* Đặc điểm hoạt động kinh doanh của NHTMNN
Hoạt động kinh doanh của NHTM là một hoạt động đặc thù trong một
Bên cạnh những đặc điểm chung như các NHTM thông thường,
NHTMNN còn mang những đặc điểm riêng như: NHTMNN là những ngân
hàng lâu năm, có vốn chủ sở hữu và tổng giá trị tài sản lớn, phạm vi hoạt
11
động rộng, có mạng lưới hoạt động rộng khắp cả nước, có uy tín cao với dân
chúng; NHTMNN thường chiếm thị phần lớn trong thị trường ngân hàng (đặc
biệt là ở các nước đang phát triển); bên cạnh chức năng kinh doanh thông
thường, NHTMNN là trụ cột trong việc thực hiện chính sách tiền tệ của Ngân
hàng Nhà nước.
1.1.2. Vai trò của ngân hàng thương mại nhà nước trong nền kinh tế thị trường
NHTMNN không chỉ đóng vai trò trong nền kinh tế là nhận tiền gửi
và cho vay, mà là phải thực hiện nhiều vai trò mới để có thể duy trì khả năng
cạnh tranh và đáp ứng nhu cầu xã hội. Các NHTM nói chung và NHTMNN
nói riêng trong nền KTTT có những vai trò cơ bản sau: Vai trò trung gian; vai
trò thanh toán; vai trò người bảo lãnh; vai trò đại lý; vai trò thực hiện chính
sách tiền tệ.
Ngày nay, khi nền KTTT đang phát triển mạnh mẽ, quan hệ đa sở hữu
ngày càng trở nên phổ biến thì sở hữu nhà nước đối với các NHTM đang
giảm xuống rõ rệt, nhất là trong vòng 10 năm trở lại đây. Chính vì thế, tại các
nước có nền kinh tế phát triển, tỷ lệ vốn sở hữu nhà nước trong các NHTM rất
nhỏ, chỉ khoảng dưới 10% tổng số tài sản ngân hàng. Nguyên nhân là trong
những năm qua Chính phủ các nước đã tích cực chuyển đổi hình thức sở hữu,
từ sở hữu nhà nước sang sở hữu tư nhân và các hình thức sở hữu khác. Ngược
lại, tại các nước đang phát triển và các nước có nền kinh tế quá độ sang
KTTT, tỷ lệ sở hữu nhà nước trong các NHTMNN vẫn cao, như tại Ấn Độ là
80% tổng giá trị tài sản ngân hàng, tại Nga là 68% tổng giá trị tài sản ngân
hàng, tại Ai Cập là 67% tổng giá trị tài sản ngân hàng
Tuy số lượng các NHTMNN trên thế giới đã giảm đi đáng kể nhưng
suốt trong quá trình tồn tại và phát triển của mình, lịch sử đã chứng minh
NHTMNN đã và vẫn giữ vai trò chủ đạo, thực sự quan trọng đối với nền kinh
Ba là, NHTMNN góp phần thực hiện các chương trình, chính sách
phát triển KT-XH của Chính phủ, đảm bảo tài chính tài trợ cho những khu vực
không có hoặc có lợi nhuận thấp nhưng có phúc lợi xã hội cao.
Ngoài các chương trình phát triển kinh tế, Chính phủ còn phải thực
hiện nhiều chương trình, chính sách phát triển khác về con người, xã hội. Vì vậy,
NHTMNN còn đóng góp quan trọng trong việc chuyển tải vốn nhằm thực
hiện các chương trình, chính sách phát triển kinh tế xã hội của nhà nước như:
khắc phục thiên tai, lũ lụt, xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm ở đô thị
Bốn là, NHTMNN tạo môi trường quan trọng để Nhà nước thực hiện
chính sách tiền tệ quốc gia.
Việc hoạch định chính sách tiền tệ thuộc về Ngân hàng Trung ương.
Để thực thi chính sách tiền tệ phải sử dụng các công cụ như: lãi suất, dự trữ
bắt buộc, thị trường mở Các NHTMNN là chủ thể chịu tác động trực tiếp
của những công cụ này và đồng thời NHTMNN đóng vai trò cầu nối trong
việc chuyển tiếp các tác động của chính sách tiền tệ đến nền kinh tế.
So với các NHTM khác thì NHTMNN có quy mô hoạt động lớn hơn
nhiều về tất cả các mặt: thị phần, số vốn huy động, số vốn đầu tư cho nền kinh
tế nên NHTMNN chính là ngân hàng chủ yếu trong việc thực thi chính sách
tiền tệ của ngân hàng Trung ương, quyết định đến kết quả thực hiện và mức
độ tác động đến nền kinh tế.
1.1.3. Xu hướng vận động của ngân hàng thương mại nhà nước trong nền
kinh tế thị trường
Trong gần hai thập kỷ nay, nền kinh tế các nước đã có nhiều thay đổi.
Từ một nền kinh tế đóng đang dần chuyển sang nền kinh tế mở, hình thành
nên một môi trường kinh doanh tự do và toàn cầu. Có thể nói đây là một xu
thế tất yếu mà không có một quốc gia nào muốn phát triển lại tự đặt mình ra
ngoài quy luật ấy. Trong điều kiện mở cửa thị trường, hội nhập kinh tế quốc
14
tế, các doanh nghiệp nói chung và các NHTMNN nói riêng phải đối mặt với
cạnh tranh khốc liệt, không chỉ cạnh tranh ở phạm vi ngoài nước mà cạnh
tế đang trong quá trình chuyển đổi sang nền KTTT. Vậy "Cổ phần hóa
DNNN", "tư nhân hóa DNNN" là gì? Để hiểu một cách đầy đủ các khái niệm
này, chúng ta hãy tiếp cận từ một số nội dung liên quan đến doanh nghiệp
trong nền KTTT.
Doanh nghiệp có thể được hiểu là một tổ chức kinh tế có tên riêng, có
tài sản, trụ sở ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật
nhằm mục đích thực hiện ổn định các hoạt động kinh doanh. Theo Luật doanh
nghiệpnăm 2005 của Lào, doanh nghiệp trong nền KTTT được chia thành ba
loại sau:
- Doanh nghiệp sở hữu tư nhân là doanh nghiệp do một hay một nhóm
tư nhân nắm quyền sở hữu. Loại doanh nghiệp này bao gồm: Công ty trách
nhiệm hữu hạn tư nhân, doanh nghiệp tư nhân (1 chủ sở hữu duy nhất)
- Công ty cổ phần là doanh nghiệp mà vốn chủ sở hữu thuộc sở hữu
của nhiều cổ đông, các cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân và không hạn chế
số lượng tối đa.
- Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu toàn
bộ vốn chủ sở hữu hoặc có cổ phần vốn góp chi phối [70, Điều 10].
Sự ra đời và phát triển của các DNNN ở mỗi nước trên thế giới đều do
những nguyên nhân kinh tế xã hội khách quan chi phối, vai trò của DNNN ở
mỗi nước cũng khác nhau. Tuy vậy, trong những giai đoạn lịch sử nhất định,
ở những lĩnh vực nhất định. DNNN luôn là một bộ phận quan trọng trong cơ
cấu của nền kinh tế mỗi nước. Tuy nhiên, cho đến thời điểm khi mà bối cảnh
kinh tế trong nước và thế giới thay đổi, DNNN không còn phát huy được vai
16
trò vốn có của mình và bắt đầu bộc lộ những hạn chế. Nguyên nhân chính là
do tính chất sở hữu độc quyền của Nhà nước không còn phù hợp với nền
KTTT tự do. Chính vì thế, trong những năm qua, các nước đang tìm các giải
pháp để cải cách DNNN, nhất là cải cách vai trò sở hữu của Nhà nước mà "Cổ
phần hóa " và "Tư nhân hóa" là giải pháp được quan tâm nhiều nhất.
Cổ phần hóa DNNN là quá trình chuyển DNNN thành công ty cổ
thể chuyển cho các thành phần kinh tế khác như: các tổ chức, cá nhân trong
và ngoài doanh nghiệp Cổ phần hóa chỉ có thể trở thành tư nhân hóa hoàn
toàn khi toàn bộ cổ phần của doanh nghiệp được chuyển trọn vẹn vào tay một
hoặc một nhóm nhỏ tư nhân. Như vậy, cổ phần hóa chỉ dẫn đến đa dạng hóa
quyền sở hữu đối với tài sản của doanh nghiệp nhưng không đồng nhất và tất
yếu dẫn đến chuyển vào tay tư nhân quyền này như kết quả của quá trình tư
nhân hóa.
NHTMNN là một loại hình của DNNN, vì vậy, cổ phần hóa NHTMNN là
tiến trình chuyển NHTMNN thành ngân hàng cổ phần, tức là chuyển một NHTM
sở hữu Nhà nước thành một NHTM có nhiều chủ sở hữu bao gồm các pháp nhân,
thể nhân thuộc nhiều thành phần kinh tế: Nhà nước, tập thể, cá nhân.
1.2.2. Mục tiêu về Cổ phần hóa Ngân hàng thương mại nhà nước
Cổ phần hóa NHTMNN là việc biến NHTMNN có một chủ sở hữu là
Nhà nước thành NHTM có nhiều chủ sở hữu với nhiều cổ đông khác nhau
thông qua quá trình chào bán các cổ phần chứng nhận quyền sở hữu NHTM
cho các cổ đông. Hay nói một cách khác, thông qua tiến trình thực hiện cổ
phần hóa NHTMNN mà NHTMNN trước đây thuộc sở hữu 100% của Nhà
nước thì nay được chuyển sang một loại hình NHTM cổ phần có nhiều chủ sở
hữu, trong đó Nhà nước có thể chỉ là một cổ đông. Cổ phần hóa NHTMNN
phải đạt được các mục tiêu sau:
18
Một là, nâng cao hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thích ứng với
nền KTTT.Cổ phần hóa là con đường tất yếu trong công cuộc xây dựng hệ
thống NHTM với mục tiêu đảm bảo tính an toàn, lành mạnh và hiệu quả của
hệ thống NH, góp phần tạo ra các NHTM hoặc các tập đoàn tài chính có quy
mô lớn, hoạt động đa năng, hiện đại, có sức cạnh tranh cao, đáp ứng được yêu
cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cũng như yêu cầu hội nhập kinh
tế quốc tế.
Hai là, tăng cường tiềm lực tài chính và phát triển kinh doanh ổn định,
bền vững. Trong tình hình Ngân sách Nhà nước hạn chế, thì việc cổ phần hóa
được cổ phần hóa .
Ngân hàng thương mại nhà nước được cổ phần hóa tuy hình thức chủ
sở hữu có sự thay đổi nhưng vai trò chủ đạo trong việc triển khai thực hiện
chính sách tiền tệ vẫn không thay đổi mà vẫn tiếp tục phát huy dưới hình thức
mới được điều hành bởi một Hội đồng quản trị theo cơ chế quản lý phù hợp.
Vì vậy, nhất thiết NHTMNN được cổ phần hóa thì vốn nhà nước tham gia
phải nắm vai trò chi phối với tỷ lệ tối thiểu 51%.
Hai là, về quy mô vốn chủ.
Ngân hàng thương mại nhà nước được cổ phần hóa phải đạt quy mô
vốn ít nhất phải tương xứng với một NHTM trung bình trên thế giới. Số vốn
chủ sở hữu của NHTMNN sau cổ phần hóa phải đạt 8.000 tỷ LAK trở lên
(tương đương 512 triệu USD) trong đó, vốn chủ sở hữu của Nhà nước đạt tối
thiểu 4.080 tỷ LAK, phần còn lại gọi vốn từ cổ đông trong và ngoài nước.
Ba là, về góp vốn của cổ đông nước ngoài.
Tỷ lệ tham gia của các cổ đông nước ngoài không quá 30% vốn chủ sở
hữu. Trong đó, nên tập trung ưu đãi cho các cổ đông nước ngoài là các ngân
hàng nước ngoài với tỷ lệ góp vốn tối đa không quá 20% vốn chủ sở hữu.
20
Bốn là, về vai trò chủ đạo trong thực hiện chính sách tiền tệ của
NHTMNN được cổ phần hóa .
Việc cổ phần hóa NHTMNN phải bảo đảm ổn định được hoạt động
tiền tệ - tín dụng của hệ thống ngân hàng đối với nền kinh tế. Hơn nữa,
NHTMNN sau khi được cổ phần hóa phải trở thành một ngân hàng cùng với
hệ thống NHTMNN là lực lượng nòng cốt trong lĩnh vực ngân hàng thực hiện
tốt chính sách tiền tệ của NHNN.
Năm là, về tình hình tài chính
Xây dựng một NHTMNN sau cổ phần hóa đủ thực lực tài chính cạnh
tranh trên thị trường quốc tế. Muốn thực hiện được điều này, cần xác định chính
xác giá trị thực tế của NHTMNN được cổ phần hóa. Trước hết NHTMNN được
cổ phần hóa phải xử lý dứt điểm các khoản nợ xấu, nợ tồn đọng.
1.2.4. Nội dung thực hiện Cổ phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước
Các nội dung chính khi thực hiện cổ phần hóa các ngân hàng thương
mại nhà nước như sau:
1.2.4.1. Thành lập tổ chức Cổ phần hóa
Khi nhận được quyết định thực hiện cổ phần hóa của cơ quan có thẩm
quyền, NHTMNN có trách nhiệm thành lập ra một tổ chức hay một ban chỉ
đạo cổ phần hóa bao gồm các thành viên chủ chốt của ngân hàng và mời đại
diện của NHNN, Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp, Bộ Kế hoạch và đầu tư, Ban Chỉ
đạo đổi mới và Phát triển doanh nghiệp, v.v… tham dự. Đồng thời cũng phải
phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên trong Ban Chỉ đạo.
Để đảm bảo thực hiện dự án tuân thủ quy trình, quy định của pháp luật
về đầu tư dự án và đấu thầu, NHTMNN phải thành lập các Tổ tư vấn độc lập
như: Tổ tư vấn đấu thầu dự án tư vấn cổ phần hóa và Tổ tư vấn thẩm định dự
22
án tư vấn cổ phần hóa để đề xuất, tư vấn cho Ban Chỉ đạo cổ phần hóa các
vấn đề liên quan đến việc lựa chọn tư vấn cổ phần hóa.
1.2.4.2. Lựa chọn nhà tư vấn Cổ phần hóa
Sau khi hoàn thiện việc xử lý tài chính thì việc lên kế hoạch đấu thầu
để lựa chọn tư vấn cổ phần hóa phải được tiến hành nhanh chóng để trình Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt. Trên cơ sở kết quả đánh giá, lựa chọn các nhà
thầu đủ trình độ chuyên môn cũng như năng lực thực tế từng ngân hàng sẽ
công bố Danh sách ngắn do ngân hàng lựa chọn. Tiếp đó phải hoàn thiện và
phê duyệt Hồ sơ mời thầu tư vấn cổ phần hóa trên cơ sở có sự hỗ trợ của tư
vấn luật. Việc phát hành hồ sơ mời thầu và thời gian chuẩn bị hồ sơ dự thầu
theo thông lệ quốc tế tối thiểu là 30 ngày. Tiếp theo là việc đóng thầu, mở
thầu và xét thầu kỹ thuật.
Trên cơ sở thẩm định kết quả xét thầu kỹ thuật và phê duyệt kết quả
xét thầu kỹ thuật từng ngân hàng sẽ công bố kết quả xét thầu kỹ thuật và mở
đề xuất tài chính. Bước tiếp theo ngân hàng sẽ đánh giá đề xuất tài chính và
xếp hạng chung nhà thầu để đưa ra thẩm định kết quả chấm thầu tài chính và
thường. Đối với các khoản nợ phải thu quá hạn khác doanh nghiệp phải tiếp
tục đòi nợ hoặc bán nợ cho công ty mua bán nợ.
+ Đối với các khoản nợ phải trả nhưng không phải thanh toán được
hạch toán tăng vốn nhà nước. Còn đối với khoản nợ tồn đọng về thuế và các
khoản phải nộp ngân sách nhà nước có thể lập hồ sơ đề nghị giãn nợ, hoặc
xóa nợ.
+ Riêng đối với khoản nợ bảo hiểm xã hội, nợ người lao động, NH có
trách nhiệm thanh toán dứt điểm trước khi chuyển thành NH Cổ phần để đảm
bảo quyền lợi cho người lao động.
24
1.2.4.4. Xác định giá trị của NHTMNN khi Cổ phần hóa
Khi tiến hành cổ phần hóa thì khâu định giá là quan trọng nhất. Định
giá hay đánh giá ngân hàng là quá trình xác định giá trị của ngân hàng. Việc
định giá ngân hàng được tiến hành nhằm mục đích xác định giá trị các cổ
phiếu, khối lượng cổ phiếu phát hành khi ngân hàng tiến hành cổ phần hóa.
- Trên thế giới có nhiều phương pháp xác định giá trị khác nhau. Các
nước có nền kinh tế thị trường phát triển thường áp dụng phương pháp sau:
1.2.4.4.1 Phương pháp giá trị tài sản thuần
Phương pháp giá trị tài sản thuần là phương pháp xác định giá trị doanh
nghiệp dựa trên giá trị thị trường của các loại tài sản của doanh nghiệp tại thời
điểm tiến hành đánh giá.
Nguồn vốn doanh nghiệp công ty được cấu thành bởi vốn sở hữu của
cổ đông và vốn vay. Các nguồn vốn này tạo cho công ty các tài sản như: máy
móc, thiết bị, nhà xưởng… và các tài sản lưu động khác phục vụ cho hoạt
động sản xuất, kinh doanh hàng ngày. Do đó, khi công ty có vốn cổ đông (hay
gọi là vốn điều lệ) thấp, nhưng tài sản thể hiện bên ngoài lớn thì chưa chắc đó
là tài sản hình thành từ vốn cổ đông đóng góp, mà có thể một phần từ vốn
vay. Nguồn vốn sở hữu của cổ đông được gọi là giá trị tài sản thuần của công
ty (Net Asset Value), viết tắt là NAV.
Như vậy, giá trị tài sản thuần bao gồm; vốn cổ đông (vốn điều lệ), vốn