ĐỀ TÀI: HOÀN
THIỆN CÔNG TÁC
CHO VAY TRUNG
VÀ DÀI HẠN TẠI
NGÂN HÀNG ĐẦU
TƯ VÀ PHÁT TRIỂN
VIỆT NAM -CHI
NHÁNH TP.HCM
GVHD: TS Lại Tiến Dĩnh Bài viết số 3
HV thực hiện:Lê Quý Hiếu lớp cao học ngân hàng 4 ngày 1 khóa 17
1
ĐỀ TÀI: HOÀN THIỆN CÔNG TÁC CHO VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN TẠI
NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM -CHI NHÁNH
TP.HCM.
CHƯƠNG I – CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.Khái niệm tín dụng trung và dài hạn:
Tín dụng trung hạn là những khoản tín dụng có thời hạn từ 1 đến 5 năm. Tín
dụng dài hạn là những khoản tín dụng có thời hạn trên 5 năm. Ngân hàng cấp tín
dụng trung hoặc dài hạn cho khách hàng nhằm mục đích tài trợ cho đầu tư vào tài
sản cố định hoặc đầu tư vào các dự án đầu tư
2. Khái niệm thẩm định dự án đầu tư:
Thẩm định dự án đầu tư là việc phân tích một loạt vấn đề có liên quan tới
thông số dự báo thị trường sử dụng rất khác nhau tùy theo từng ngành cũng như
từng loại sản hẩm. nhìn chung, các thông số thường gặp bao gồm:
dự báo tăng trưởng của nền kinh tế.
dự báo tỉ lệ lạm phát.
dự báo tỉ giá hối đoái.
dự báo kim ngạch xuất nhập khẩu.
dự báo tốc độ tăng giá.
dự báo nhu cầu thị trường về loại sản phẩm dự án sắp đầu tư.
ước lượng thị phần của doanh nghiệp.
ngoài ra còn có nhiều loại thông số dự báo khác nữa tùy theo từng dự
án, chẳng hạn như công suất máy móc thiết bị….
Các loại thông số này có thể chia làm 2 loại: các thông số có thể thu thập
được từ dự báo kinh tế vĩ mô và các thông số chỉ có thể thu thập từ kết quả nghiên
cứu thị trường. Từ những khó khăn khi phân tích các thông số trong thực tế mà
nhân viên tín dụng nên làm những việc sau:
GVHD: TS Lại Tiến Dĩnh Bài viết số 3
HV thực hiện:Lê Quý Hiếu lớp cao học ngân hàng 4 ngày 1 khóa 17
3
o Nhận thẩm định dự án thuộc những ngành nào mà mình có kiến thức và am
hiểu kĩ về tình hình thị trường của ngành đó.
o Tổ chức tốt cơ sở dữ liệu lưu trữ những thông tin liên quan đến ngành mà
mình phụ trách.
o Liên hệ các thông số của dự án đang thẩm định với các thông số tương ứng
ở các dự án đã triển khai hoặc cơ sở sản xuất tương tự đang hoạt động.
o Viếng thăm, quan sát, thảo luận và trao đổi thêm với các bộ phận liên quan
của doanh nghiệp để có thêm thông tin, hình thành kỳ vọng hợp lý về các
thông số đang thẩm định.
Thẩm định các thông số xác định chi phí:
Là những chi phí đã phát sinh trước khi có quyết định thực hiện dự án. Vì
vậy, dù dự án có được thực hiện hay không thì chi phí này cũng đã xảy ra rồi. Do
đó, chi phí chìm không được tính vào ngân lưu dự án. Chi phí chìm không được
tính vào ngân lưu dự án vì loại chi phí này không ảnh hưởng đến quyết định đầu tư
hay không đầu tư dự án.
Chi phí lịch sử:
Là chi phí cho những tài sản sẵn có của công ty, được sử dụng cho dự án.
Chi phí này có được tính vào ngân lưu của dự án hay không tùy thuộc vào chi phí
cơ hội của tài sản. Nếu chi phí cơ hội của tài sản bằng không thì không tính, nhưng
nếu tài sản có chi phí cơ hội thì sẽ được tính vào ngân lưu dự án như trường hợp chi
phí cơ hội. Khi thẩm định cần chú ý loại chi phí này thường bị khách hàng bỏ qua
khi ước lượng ngân lưu.
Nhu cầu vốn lưu động:
Là nhu cầu vốn của dự án cần phải chi để tài trợ cho nhu cầu tồn qũy tiền
mặt, các khoản phải thu, tồn kho sau khi trừ đi các khoản phải bù đắp từ các khoản
GVHD: TS Lại Tiến Dĩnh Bài viết số 3
HV thực hiện:Lê Quý Hiếu lớp cao học ngân hàng 4 ngày 1 khóa 17
5
phải trả. Khi thẩm định cần chú ý xem khách hàng có tính đến vốn lưu động hay
không.
Thuế thu nhập công ty:
Thuế thu nhập công ty được xác định dựa vào bảng dự báo kết quả kinh
doanh và được tính vào ngân lưu ra của dự án. Thuế thu nhập công ty chịu tác động
bởi phương pháp tính khấu hao và chính sách vay nợ của dự án vì khấu hao và lãi
vay là chi phí được trừ ra trước khi tính thuế nên làm giảm đi tiền thuế phải nộp
giúp dự án tiết kiệm được thuế.
Các chi phí gián tiếp:
Khi dự án được thực hiện có thể làm tăng chi phí gián tiếp của công ty, vì
vậy chi phí gián tiếp tăng thêm này cũng phải được tính toán xác định và đưa vào
mỗi bộ phận nguồn vốn là bao nhiêu?
- chi phí sử dụng vốn của mỗi bộ phận vốn là bao nhiêu?
Thẩm định các chỉ tiêu đánh giá dự án và quyết định đầu tư:
Thẩm định cách tính chỉ tiêu hiện giá ròng (NPV)
Thẩm định cách tính và sử dụng chỉ tiêu suất sinh lời nội bộ (IRR).
Suất sinh lời nội bộ là suất chiết khấu để NPV của dự án bằng 0.
Sử dụng chỉ tiêu IRR để đánh giá dự án đầu tư có ưu điểm là có tính đến thời
điểm tiền tệ, có thể tính IRR mà không cần biết suất chiết khấu và có tính đến toàn
bộ ngân lưu. Tuy nhiên, chỉ tiêu này có nhược điểm là có thể một dự án có nhiều
IRR.
Khi thẩm định, nhân viên tín dụng cần chú ý những sai sót có thể xảy ra như
sau:
- kết luận dự án có hiệu quả khi thấy IRR > 0. Tuy nhiên, IRR>0 chưa chắc
dự án có hiệu quả. Đứng trên quan điểm ngân hàng hay quan điểm tổng đầu tư, tỷ
suất ngưỡng phù hợp được chọn chính là chi phí sử dụng vốn trung bình WACC.
GVHD: TS Lại Tiến Dĩnh Bài viết số 3
HV thực hiện:Lê Quý Hiếu lớp cao học ngân hàng 4 ngày 1 khóa 17
7
- chấp nhận đầu tư dự án khi IRR lớn hơn lãi suất ngân hàng. Thật ra, dự án
đầu tư thường có rủi ro hơn là rủi ro gửi tiền vào ngân hàng, cho nên sẽ sai lầm khi
sử dụng lãi suất ngân hàng làm tỷ suất ngưỡng để ra quyết định đầu tư dự án.
Thời gian hoàn vốn (PP)
Phân tích và kiểm soát rủi ro của dự án:
Phân tích độ nhạy:
Phân tích tình huống:
Phân tích mô phỏng:
5. Khái niệm về thẩm định tài chính:
Thẩm định tài chính là việc xem xét tính hiện thực của dự án tạo cơ sở để ra
- Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh TP.HCM (viết tắt là
BIDV.HCMC) là một trong những chi nhánh có qui mô hoạt động lớn nhất trong hệ
thống BIDV. Qua hơn 30 năm hoạt động, BIDV.HCMC luôn là chi nhánh tiên
phong và năng động trong hệ thống BIDV với việc phát triển sản phẩm dịch vụ mới
trên cơ sở ứng dụng công nghệ hiện đại và theo định hướng khách hàng.
- Cùng với sự phát triển của đất nước, BIDV.HCMC kinh doanh đa tổng hợp,
hoạt động đầy đủ các chức năng của ngân hàng thương mại - kinh doanh tiền tệ, tín
dụng, dịch vụ ngân hàng và phi ngân hàng phục vụ các khách hàng thuộc mọi thành
phần kinh tế.
Một số kết quả đạt được của BIDV.HCMC giai đoạn 2005 – 2008
Đơn vị: tỷ đồng
Chỉ tiêu 2005 2006 2007 2008
% tăng/giảm
năm 2008 so
năm 2007
Tổng tài sản 6400 7200 9400 11200 19,1%
Nguồn vốn huy động 4900 5800 6700 9100 35,8%
Tổng dư nợ cho vay 5000 5400 5700 5800 1,8%
Tỷ lệ nợ quá hạn/Tổng dư
nợ
1% 0,9% 2,7% 1,9% -31%
Lợi nhuận trước thuế 88 86 139 61,6%
(Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của BIDV.HCMC)
GVHD: TS Lại Tiến Dĩnh Bài viết số 3
HV thực hiện:Lê Quý Hiếu lớp cao học ngân hàng 4 ngày 1 khóa 17
9
Tình hình dư nợ của BIDV.HCMC giai đoạn 2005-2008
Đơn vị: tỷ đồng, %
+ Trung dài hạn: 2200 44% 2430 45% 2679 47% 2320 40%
C) Theo tài sản đảm
bảo: + Không TSĐB 3250 65% 3348 62% 3135 55% 2842 49%
+ Có TSĐB 1750 35% 2052 38% 2565 45% 2958 51%
- Tỷ lệ TDN/Tổng
tài sản
78% 75% 61% 52%
- Nợ quá hạn 50 1% 48 0,9% 154 2,7% 110 1,9%
- Nợ xấu
(*)
100 2% 97 1,8% 741 13% 116 2%
(Nguồn: Các báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của BIDV.HCMC)
2. Những mặt đạt được trong tác tín dụng trung dài hạn
Rất nhiều dự án đầu tư trung và dài hạn được Ngân hàng Đầu tư và Phát triển
Chi nhánh TP.HCM xem xét thẩm định cho vay trong các năm qua đã phát huy
được hiệu quả, vực được sản xuất đi lên, sản xuất được nhiều hàng hoá cho đất
nước và cho xuất khẩu, góp phần xây dựng nền kinh tế đất nước ngày một giàu
mạnh theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.
Trong đó phải kể đến vai trò tín dụng thẩm định hiệu quả kinh tế, nó thật sự
là đòn bẩy thúc đẩy việc sử dụng vốn có hiệu quả, hạn chế việc sử dụng vốn sai mục
đích, kém hiệu quả và rủi ro. Nghiệp vụ tín dụng thẩm định hiệu quả kinh tế dự án
thường xuyên được quan tâm và không ngừng nâng cao chất lượng. Các dự án trước
GVHD: TS Lại Tiến Dĩnh Bài viết số 3
HV thực hiện:Lê Quý Hiếu lớp cao học ngân hàng 4 ngày 1 khóa 17
những vấn đề liên quan đến dư án, mà họ lại là những người ra quyết định sau cùng.
GVHD: TS Lại Tiến Dĩnh Bài viết số 3
HV thực hiện:Lê Quý Hiếu lớp cao học ngân hàng 4 ngày 1 khóa 17
11
Vì vậy việc ra quyết định đầu tư đôi khi không được khách quan, hiệu quả, chính
xác.
Quy trình thẩm định dự án bao gồm hai công đoạn:
Thứ nhất: Thu thập tài liệu, thông tin cần thiết cho việc đánh giá phân tích.
Thứ hai: Tiến hành sắp xếp, phân loại các thông tin, áp dụng các phương pháp đối
chiếu, so sánh để xử lý, đánh giá phân tích thông tin một cách có hệ thống theo các
nội dung thẩm định.
Thực tế Ngân hàng thiếu thông tin cả về vĩ mô và vi mô, nguồn thông tin duy
nhất hiện có là do khách hàng cung cấp vì vậy thông tin có được không cân xứng.
Khi chủ đầu tư muốn vay một món tiền họ thường tạo ra những thông tin tốt về lợi
tức dự án mang lại so với thực tế. Như vậy thông tin không cân xứng sẽ tạo sự lựa
chọn đối nghịch xảy ra trong hoạt động tín dụng của ngân hàng.
Bằng chứng thực tế, bên cạnh các dự án ngân hàng cho vay vốn đã làm ăn có
hiệu quả, phát huy được thế mạnh và có một số dự án bị thất bại giữa chừng, không
có khả năng trả nợ ngân hàng.
3.2 Những khó khăn khách quan từ khách hàng
Không chỉ cung cấp cho ngân hàng những bản báo cáo tài chính không trung
thực, không phản ánh đúng thực trạng sản xuất kinh doanh của chính doanh nghiệp
hoặc nếu có cung cấp thì cũng không đầy đủ. Do vậy ngân hàng khó có thể đi sâu
vào vào từng lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp. Như vậy, thực trạng công tác
thẩm định hiện nay là thiếu thông tin chính xác từ phía khách hàng dẫn đến ngân
hàng thiếu chính xác đi đến quyết định cho vay. Bên cạnh đó, nước ta mới thay đổi
chính - tín dụng, ngoại hối và thanh toán quốc tế, hải quan, bảo hiểm, kiểm dịch,
giám định có liên quan đến các phương diện của dự án. Nhưng thực tế sẽ không có
cán bộ nào đáp ứng được đủ những tố chất trên. Để đạt được điều này ngân hàng
cần có những biện pháp cụ thể:
- Để đảm bảo cho chất lượng của công tác thẩm định ngân hàng cần phải
nâng cao trình độ của cán bộ tín dụng kết hợp với việc xin ý kiến của các
chuyên gia đối với các vấn đề chuyên môn khó.
- Ngân hàng thường xuyên thực hiện đào tạo và đào tạo lại cán bộ tín
dụng, mở các cuộc kiểm tra trình độ cán bộ một cách thường xuyên, tổ
GVHD: TS Lại Tiến Dĩnh Bài viết số 3
HV thực hiện:Lê Quý Hiếu lớp cao học ngân hàng 4 ngày 1 khóa 17
13
chức các buổi trao đổi kinh nghiệm trong nội bộ ngân hàng và với các
ngân hàng bạn, tìm các nguồn tài liệu tham khảo của nước ngoài
Những vấn đề trên thực sự là cần thiết và cấp bách trong thực tế hiện nay khi
mà ngày càng có nhiều dự án đầu tư lớn và phức tạp. Việc đào tạo cán bộ và nâng
cao trình độ cán bộ thẩm định là công việc có thể làm được và phải làm thường
xuyên.
HOÀN THIỆN HỆ THỐNG VĂN BẢN VÀ CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ DỰ
ÁN:
Các Ngân hàng đều có ban hành những văn bản hướng dẫn thẩm định các dự
án đầu tư trung, dài hạn của ngân hàng, trong các văn bản này nội dung thẩm định
đã được trình bày tương đối đầy đủ, rõ ràng. Nhưng thực tế, trong báo cáo thẩm
định mà ngân hàng đang làm còn thấy quá sơ sài về việc đánh giá các dự án.
Vì vậy việc hoàn thiện, chi tiết hoá những vấn đề cần thiết trong các văn bản
hướng dẫn thẩm định cũng như các báo cáo thẩm định là điều cần thiết. Các văn bản
thì an toàn và đạt kết quả nhất.
ĐỔI MỚI HOÀN THIỆN QUÁ TRÌNH THU THẬP THÔNG TIN VÀ XỬ LÝ
THÔNG TIN :
Một trong những yêu cầu của công tác thẩm định nhằm tiếp cận khả năng trả
nợ và bảo đảm an toàn vốn vay là phải có đầy đủ thông tin về đơn vị xin vay vốn.
Nguyên nhân của hiệu quả công tác thẩm định dự án đầu tư chưa cao là do yếu tố
này quyết định. Hiện nay, nguồn thông tin duy nhất mà ngân hàng có được là do
khách hàng cung cấp nhưng nguồn này lại không chính xác.
Do đó ngân hàng có thể lấy thông tin bằng cách:
- Phỏng vấn trực tiếp người xin vay và điều tra trực tiếp cơ sở sản xuất kinh doanh.
Khi phỏng vấn phải biết làm rõ những thông tin về: mục đích, yêu cầu vay vốn, tính
chân thật và khả năng trả nợ của người vay, vị thế của doanh nghiệp trên thị trường.
GVHD: TS Lại Tiến Dĩnh Bài viết số 3
HV thực hiện:Lê Quý Hiếu lớp cao học ngân hàng 4 ngày 1 khóa 17
15
- Tiến hành thu thập thông tin từ những nguồn từ bên ngoài do bộ phận thông tin
phòng ngừa rủi ro cung cấp; sử dụng thông tin từ việc điều tra trực tiếp các đơn vị
có liên quan trong hoạt động của doanh nghiệp
Ngân hàng nên thiết lập mối quan hệ với khách hàng lâu dài thì chi phí
tập hợp thông tin và xử lý thông tin để đưa ra các kết luận cho vay chính
xác sẽ giảm.
Khi thông tin thu được, Ngân hàng phải có cách xử lý kịp thời, đúng đắn.
Điều này đòi hỏi ngân hàng phải hiểu rõ hiểu đúng việc sử dụng phương
pháp hiện đại thẩm định dự án.
Tóm lại thông tin là vấn đề sống còn của hiệu quả công tác thẩm định.
Nâng cao chất lượng thẩm định không thể tách rời với việc nâng cao chất
lượng thông tin. Do đó cán bộ tín dụng phải triệt để tận dụng các nguồn