TIỂU LUẬN:
Mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng
tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển
Việt Nam- Chi nhánh Đông Đô
LỜI MỞ ĐẦU.
Ngân hàng là một trung gian tài chính, là một kênh dẫn vốn quan trọng cho
toàn bộ nền kinh tế. Trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, việc hoàn thiện
CHƯƠNG II. Thực trạng cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt
Nam- Chi nhánh Đông Đô .
CHƯƠNG III. Giải pháp mở rộng cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Đầu tư và Phát
triển Việt Nam- Chi nhánh Đông Đô . CHƯƠNG I : Khái quát về hoạt động cho vay tiêu dùng tại NHTM.
1.1. Sự hình thành cho vay tiêu dùng của Ngân hàng thương mại.
1.1.1. Khái quát hoạt động cho vay tại NHTM.
Sau 22 năm đổi mới, Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc trên mọi
lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, từng bước thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa
hiện đại hóa đất nước. Từ những kết quả đó làm cho cuộc sống người lao động được
cải thiện vượt bậc, trước đây người dân chỉ ăn no mặc ấm thì nay là ăn ngon mặc
đẹp, nhu cầu về nhà ở được quan tâm rất nhiều. Nhất là những bạn trẻ mới ra trường
muốn tiêu dùng nhưng lại không có đủ số tiền ngay lúc này được vì vậy cầu tiêu
dùng là rất lớn.
Hiện nay chỉ cần có đầy đủ giấy tờ pháp lý chứng minh được rằng bạn đang
làm việc chính thức cho một doanh nghiệp, một cơ quan, một tổ chức nào đó được
hưởng lương là có thể dễ ràng vay tiền cho mua xe hơi, nhà đất…
Trước những nhu cầu này các tổ chức tín dụng mà chủ yếu là NHTM đã thực
hiện các khoản cho vay tiêu dùng dưới nhiều hình thức và quy mô khác nhau.Trong
đó nổi bật nhất phải kể đến Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng Sông Cửu Long với
các loại cung ứng cho vay về xây dựng, sửa chữa nhà, các Ngân hàng thương mại
khác như Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông Thôn, Ngân hàng Công
việc thỏa mãn những nhu cầu bịi giới hạn bởi khả năng thanh toán, chỉ có các nhu
cầu có khả năng thanh toán mới có thể thỏa mãn.Vì vậy để thỏa mãn những nhu cầu
mua nhà,mua ô tô,mua sắm các phương tiện phục vụ cuọcc sống…Người tiêu dùng
phải trải qua một quá trình tích lũy lâu dài để có tiền thanh toán thì mức độ thỏa mãn
nhu cầu bị giảm đi rất nhiều.Ví dụ sinh viên mới ra trường lương chưa cao trong khi
đã đến tuổi lấy chồng, lấy vợ để có một nơi ở một chút tiện nghi nếu để dành đồng
lương có thể rất nhiều năm sau bạn mới có được chúng, bằng dịch vụ của Ngân hàng
đã giúp cho các sinh viên này thỏa mãn ở hiện tại và sẽ trả dần vào tương lai.Với số
lượng người tiêu dùng đông đảo nên thị trường để sản phẩm này phát triển là vô
cùng rộng lớn.Không chỉ người tiêu dùng có nhu cầu mà các nhà sản xuất cũng
mong muốn tiêu thụ nhiều hàng hóa một cách nhanh chóng vì vậy Ngân hàng
thương mại tài trợ cho người tiêu dùng sẽ giúp họ thực hiện được mong muốn này.
Nền kinh tế thế giới đang phát triển mạnh mẽ, sự phát triển kinh tế góp phần
cải tạo con người, thu nhập của người dân ngày càng cao và ổn định, sự gia tăng thu
nhập không chỉ làm gia tangư tiêu dùng mà còn tạo ra một nguồn trả chắc chắn điều
này tạo niềm tin cho Ngân hàng vì không quá lo ngừoi vay không trả được nợ.
Trong giai đoạn toàn cầu hóa hiện nay trong xu thế hội nhập, sự cạnh tranh
không chỉ ở các Ngân hàng mà còn từ thị trường chứng khoán, việc thị trường chứng
khoán và công ty tài chính phát triển mạnh sẽ làm cho thị phần của Ngân hàng
thương mại bị thu hẹp đi, chính vì điều này đòi hởi các Ngân hàng thương mại nên
tích cực công tác thẩm đinh cho vay tiêu dùng nhằm làm cho lợi nhuận được ra tăng.
Xuất phát từ những nhu cầu tất yếu không thể thiếu đã dẫn tới hoạt động cho
vay tiêu dùng. Sau chiến tranh thế giới thứ hai cho vay tiêu dùng ra đời và trở thành
loại hình tín dụng phát triển nhanh nhất ở các nước có nền kinh tế phát triển. Khi thu
nhập ra tăng làm cầu về tiêu dùng tăng.Nhiều ngân hàng phát triển thành ngân hàng
chuyên cho vay tiêu dùng ở các nước phát triển dư nợ cho vay tiêu dùng thường
chiếm 40 đến 50% trên tổng dư nợ.
các cá nhân như đầu tư mới phương tiện đi lại , chỗ ở, du học. Do mục đích đi vay
phụ thuộc vào nhu cầu, tính cách của từng đối tượng khách hàng và chu kỳ kinh tế
của người đi vay.
- Quy mô của từng hợp đồng cho vay thường nhỏ, dẫn đến chi phí tổ chức cho
vay cao, vì vậy lãi suất cho vay tiêu dùng thường cao hơn so với lãi suất của các loại
cho vay trong lĩnh vực thương mại và công nghiệp.
- Nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng thường phải phụ thuộc vào chu kỳ
kinh tế. Khi nền kinh tế thịnh vượng, đời sống của người dân được nâng cao thì nhu
cầu vay tiêu dùng lại càng cao. Vào các dịp lễ tết, nhu cầu mua sắm nhiều thì các số
lượng các khoản vay cũng tăng lên.
- Nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng phụ thuộc chặt chẽ vào mức thu nhập
và trình độ học vấn. Những người có thu nhập khá và tương đối đều sẽ tìm tới cho
vay tiêu dùng bởi họ có khả năng trả được nợ.
- Khách hàng vay tiêu dùng thường là các cá nhân nên việc chứng minh tài
chính thường khó. Nếu như các doanh nghiệp có bảng cân đối kế toán, báo cáo kết
quả kinh doanh để chứng minh nguồn thu nhập và chi tiêu của mình thì các cá nhân
vay tiêu dùng muốn chứng minh tài chính cùa mình thường phải dựa vào tiền lương,
sự suy đoán chứ không có bằng chứng rõ ràng.
- Cho vay tiêu dùng có độ rủi ro cao, theo nghiên cứu loại hình này có độ rủi
ro cao nhất bởi nguồn trả nợ của người vay có thể biến động lớn, nó phụ thuộc vào
quá trình làm việc, kinh nghiệm, tài năng và sức khỏe của người vay… Nếu người
vay bị chết, ốm hoặc mất việc làm ngân hàng sẽ rất kho thu lại được nợ. Do đó, các
ngân hàng thường yêu cầu lãi suất cao, yêu cầu người vay phải mua bảo hiểm thất
nghiệp, bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm hàng hóa đã mua…
- Tư cách, phẩm chất của khách hàng vay thường rất khó xác định, chủ yếu
dựa vào cách đánh giá, cảm nhận và kinh nghiệm của cán bộ tín dụng. Đây là điểu
thiết. Để có thể tìm được nguồn vốn lớn, thời gian dài và lãi suất hợp lý thì nguồn
vốn tín dụng Ngân hàng vẫn là khả thi nhất và được các Ngân hàng chọn lựa
Thông qua hoạt động cho vay của mình NH giúp các khách hàng cá nhân và
DN sử dụng vốn có hiệu quả hơn bởi vì với bất kỳ khoản vay nào NH cũng phải
luôn giám sát chặt chẽ để xem khách hàng sử dụng có đúng mục đích và có hiệu quả
hay không. Nếu ngân hàng phát hiện thấy khách hàng sử dụng sai mục đích thì ngân
hàng có thể thu hồi lại vốn hoặc ngừng giải ngân. Ngoài ra, việc vay vốn đòi hỏi
khách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi làm cho dự án làm ăn có hiệu quả hơn.
1.2.3.2. Đối với NHTM
Với NHTM khoản mục cho vay là khoản mục quan trọng nhất trong tài sản
của NH, nó luôn chiếm một nửa giá trị tổng tài sản và tạo ra từ 1/2 đến 2/3 nguồn
thu của NH nhưng đồng thời khoản mục cho vay cũng chứa đựng nhiều rủi ro cho
NH. NHTM là một trung gian tài chính nên để có nguồn vốn cho khách hàng vay thì
NH cũng phải huy động vốn từ dân cư và các tổ chức kinh tế xã hội. Để kinh doanh
có lãi đòi hỏi NH phải cố gắng và tích cực để thực hiện tốt việc cho vay, làm sao để
hoạt động cho vay diễn ra nhanh chóng, an toàn và có hiệu quả cao. Thông qua hoạt
động cho vay đã giúp ngân hàng thu được lợi từ chi phí và thu nhập.
Cùng với xu hướng phát triển hiện nay việc mở rộng cho vay với khách hàng
cá nhân và DN giúp ngân hàng tận dụng được nguồn vốn huy động, vừa mở rộng
khách hàng vừa đa dạng hoá được các sản phẩm dịch vụ của mình. Qua đó, giúp
ngân hàng phân tán rủi ro trong hoạt động cho vay đồng thời nâng cao thu nhập cho
ngân hàng.
1.2.3.3. Đối với kinh tế xã hội
Mặc dù hoạt động cho vay của ngân hàng không trực tiếp thúc đẩy kinh tế
phát triển nhưng nó lại tác động gián tiếp thông qua việc cho vay đáp ứng nhu cầu
vay vốn của khách hàng cá nhân và DN. Từ đó, góp phần làm cho hoạt động của DN
được liên tục và ổn định qua đó tạo ra sự ổn định và phát triển của nền kinh tế.
Loại tài sản: Đối với các loại tài sản có mức độ giảm giá nhanh thì số
tiền trả trước nhiều và ngược lại, đối với các loại tài sản có mức độ
giảm giá chậm thì số tiền trả trước ít hơn.
Thị trường tiêu thụ tài sản sau khi sử dụng: yếu tố này rất quan trọng.
Nếu đó là tài sản thuộc loại dễ bán thì số tiền trả trước sẽ ít hơn loại tài
sản khó bán sau khi sử dụng.
Môi trường kinh tế
Năng lực tài chính của người đi vay
* Chi phí tài trợ
Chi phí tài trợ là chi phí mà người đi vay phải trả cho ngân hàng trong việc sử
dụng vốn. Chi phí tài trợ chủ yếu là tiền lãi và một số khoản chi phí khác. Chi phí tài
trợ phải trang trải được chi phí vốn tài trợ, chi phí hoạt động, rủi ro và mang lại một
phần lợi nhuận thỏa đáng cho ngân hàng.
Điều khoản thanh toán
Số tiền thanh toán mỗi định kỳ phù hợp về khả năng thu nhập, chi tiêu của
khách hàng.
Giá trị của tài sản tài trợ không được thấp hơn số tiền tài trợ chưa được thu
hồi.
Kỳ hạn trả nợ phải thuận lợi cho việc trả nợ của khách hàng nhưng
không nên quá dài vì nếu quá dài, giá trị của tài sản tài trợ sẽ bị giảm
mạnh và việc thu hồi nợ có thể gặp rắc rối.
+ Cho vay tiêu dùng phi trả góp
Theo phương thức này, tiền vay được khách hàng thanh toán cho ngân hàng
một lần khi đến hạn, áp dụng với các khoản vay có giá trị nhỏ, thời hạn ngắn.
+ Cho vay tiêu dùng tuần hoàn.
Là các khoản cho vay tiêu dùng trong đó ngân hàng cho phép khách hàng sử
dụng thẻ tín dụng hoặc phát hành loại sec được phép thấu chi dựa trên tài khoản
1.2.4.2. Căn cứ vào mục đích cho vay có thể phân loại tín dụng tiêu dùng có 2
loại.
+ Cho vay tiêu dùng cư trú: các khoản cho vay này nhằm phục vụ nhu cầu
mua sắm nhà cửa, cải tạo nhà của hộ gia đình cá nhân. Những khoản cho vay này có
đặc điểm là thời gian dài và quy mô lớn, mức lãi suất trong trường hợp này là lớn và
thường áp dụng là lãi suất thả nổi.
+ Cho vay tiêu dùng không cư trú:Đây là các khoản cho vay phục vụ nhu cầu
mua sắm thiết bị nội thất, đò dùng, dụng cụ, du học…Những khoản vay này thường
có quy mô nhỏ bé chính vì vậy độ rủi ro của nó là thấp.các khoản vay này thường áp
dụng lãi suất cố định.
1.2.4.3 Căn cứ vào hình thức cho vay tiêu dùng có 2 loại:
+ Cho vay tiêu dùng gián tiếp.
Là hình thức cho vay, trong đó ngân hàng mua các khoản nợ phát sinh của các doanh
nghiệp đã bán chịu hàng hoá hoặc đã cung cấp các dịch vụ cho người tiêu dùng, hình
thức này ngân hàng cho vay thông qua các doanh nghiệp bán hàng.
(1)
Công ty bán lẻ Ngân hàng
(4)
(5)
(6) (2) (3) Sơ đồ cho vay tiêu dùng theo hình thức gián tiếp
(1): Ngân hàng và công ty bán lẻ ký kết hợp đồng mua bán nợ. Trong hợp đồng,
ngân hàng thường đưa ra các điều kiện về đối tượng khách hàng được bán chịu, số
tiền bán chịu tối đa và loại tài sản bán chịu…
(3) (1) (5) (2) (4)
(1): Ngân hàng và người tiêu dùng ký kết hợp đồng
(2): Người tiêu dùng trả trước một phần số tiền mua tài sản cho công ty bán lẻ
(3): Ngân hàng thanh toán số tiền mua tài sản còn thiếu cho công ty bán lẻ
(4): Công ty bán lẻ giao tài sản cho người tiêu dùng
(5): Người tiêu dùng thanh toán tiền vay cho ngân hàng
So với cho vay tiêu dùng gián tiếp thì cho vay tiêu dùng trực tiếp có một số ưu điểm
sau:
Công ty bán lẻ
Ngân hàng
Người tiêu
dùng
Ngân hàng có thể sử dụng triệt để trình độ, kiến thức kinh nghiệm và kỹ năng
của cán bộ tín dụng, do đó các khoản cho vay thường chất lượng cao hơn so
với cho vay thông qua các doanh nghiệp bán lẻ.
Do khi quan hệ trực tiếp với khách hàng, ngân hàng sẽ xử lý tốt hơn các vấn
Ngân hàng có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để xác định mức lãi
suất thực tế đối với cho vay phục vụ nhu cầu tiêu dùng. Song phần lớn lãi suất được
xác định dựa trên lãi suất cơ bản cộng phần lợi nhuận cận biên và phần bù đắp rủi ro,
có thể đưa ra công thức tính tổng quát như sau:
Lãi suất cho vay tiêu dùng= Chi phí huy động vốn + Rủi ro tổn thất dự kiến +
Phần bù kỳ hạn với các khoản cho vay dài hạn+ Lợi nhuận cận biên
Hiện nay, mỗi ngân hàng thương mại có những phương pháp tính lãi riêng,
song nhìn chung, tập trung vào những phương pháp như: Phương pháp lãi đơn,
phương pháp lãi gộp, phương pháp tỷ lệ chiết khấu, phương pháp lãi suất biến đổi…
Lãi suất tín dụng phải do giám đốc Ngân hàng thông qua và được phổ biến
đến mọi cán bộ tín dụng. Nhiều ngân hàng đưa ra chính sách lãi suất linh hoạt cho
phép cán bộ tín dụng được thay đổi lãi suất trong khung cho phép và cho phép khách
hàng được lựa chọn hình thức của lãi suất.
1.2.5.4. Thời hạn tín dụng và kỳ hạn nợ.
Thời hạn tín dụng luôn được quan tâm đối với các nhà quản lý Ngân hàng vì
kỳ hạn trả nợ liên quan đến khả năng thanh toán và rủi ro của Ngân hàng.chính sách
này cho biết Ngân hàng sẵn sàng cho vay với thời hạn như thế nào và mức giới hạn
là bao nhiêu.
Ngân hàng thường dựa trên hỳ hạn của nguồn để quyết định thời hạn cho vay
nếu khả năng tìm kiếm nguồn và chuyển hoán kỳ hạn của nguồn của Ngân hàng
không cao.Việc chuyển hóa kỳ hạn của nguồn sẽ tiềm ẩn khả năng thanh toán và rủi
ro lãi suất bởi vì nó tạo ra khe hở lãi suất.
1.2.5.5.Các khoản đảm bảo.
Chính sách đảm bảo gồm các quy định về các trường hợp tài trợ cần đảm bảo
bằng tài sản, các loại tài sản đảm bảo cho mỗi loại hình tín dụng tiêu dùng, danh
mục các đảm bảo được ngân hàng chấp nhận, tỷ lệ phần trăm cho vay trên đảm bảo,
đánh giá và quản lý đảm bảo.
có cho vay tiêu dùng không, tuy nhiên ở đây chúng ta chỉ xét đến những chỉ tiêu
quan trọng như tỷ lệ cho vay tiêu dùng trong tổng dư nợ cho vay, cơ cấu dư nợ tiêu
dùng theo mục đích vay vốn, tỷ trọng thu lãi và lợi nhuận cho vay tiêu dùng trong
tổng thu lãi và lợi nhuận từ hoạt động cho vay và tỷ lệ nợ quá hạn cho vay tiêu dùng
trên tổng dư nợ cho vay tiêu dùng.
+Chỉ tiêu tỷ lệ cho vay tiêu dùng trong tổng dư nợ cho vay.
Chỉ tiêu này cho chúng ta thấy được khoản cho vay tiêu dùng chiếm bao nhiêu
phần trăm trong số cho vay của ngân hàng, Ngân hàng này có quan tâm đến mảng
cho vay tiêu dùng không. Nếu như chỉ tiêu này lớn thì sẽ phản ánh được là ngân
hàng này có thế mạnh trong cho vay tiêu dùng. Và nó còn thể hiện cho chúng ta thấy
rằng đối tượng khách hàng mà ngân hàng này đang hướng tới là các cá nhân và hộ
gia đình. Ngược lại nếu như chỉ tiêu này có giá trị nhỏ thì nó thể hiện rằng ngân
hàng này không có tiềm lực trong cho vay tiêu dùng, hay cũng có thể khoản cho vay
tiêu dùng không nằm trong chính sách cho vay của ngân hàng. Tại đây có thể đối
tượng mà ngân hàng hướng tới là những người đến vay nhằm mục đích kinh
doanh.Tỷ lệ này cho ta biết
+Chỉ tiêu cơ cấu dư nợ tiêu dùng theo mục đích vay vốn.
Dựa vào chỉ tiêu này mà ngân hàng xác định được khách hàng đến vay vốn
phục vụ cho mục đích gì là nhiều nhất. Nắm bắt được nhu cầu của khách hàng sẽ
làm cho ngân hàng có thể hoàn thiện được danh mục cho vay tiêu dùng. Chẳng hạn
như ngân hàng nhìn vào chỉ tiêu này thấy rằng dư nợ tiêu dùng theo mục đích mua
thiết bị chiếm phần trăm lớn trong tổng số dư nợ tiêu dùng thì chúng ta thấy rằng
nhu cầu khách hàng đến vay tiền của ngân hàng chủ yếu là phục vụ mục đích mua
thiết bị. Tuy nhiên, không chỉ thế mà ngân hàng chỉ tập trung vào các sản phẩm cho
vay mua nhà,mua ô tô mà ngân hàng vẫn phải tiếp tục cải thiện để tạo ra sự khác biệt
giữa sản phẩm ngân hàng của mình với các đối thủ cạnh tranh.
+Tỷ trọng thu lãi và lợi nhuận cho vay tiêu dùng trong tổng thu lãi và lợi
quy định về thời hạn tín dụng và kỳ hạn nợ, tài sản đảm bảo, phương thức giải ngân
và thanh toán. Thủ tục xin vay vốn có phức tạp hay đơn giản, thời gian thẩm định hồ
sơ vay vốn kéo dài bao lâu, nếu thời gian thẩm định quá dài thì khách hàng sẽ không
muốn chờ đợi và tìm tới các ngân hàng khác.
Trình độ, thái độ cán bộ tín dụng của ngân hàng cũng mang tính quyết định
thành công của cho vay tiêu dùng. Cán bộ tín dụng cần có trình độ chuyên môn tốt
thì mới thẩm định chính xác khách hàng và dự án vốn, từ đó đưa ra các quyết định
đúng đắn. Cán bộ tín dụng cũng cần có đạo đức nghề nghiệp, tận tâm với công việc,
nhiệt tình giúp đỡ năng động và sáng tạo, chi bảo khách hàng các thủ tục cần thiết.
Muốn hoạt động cho vay tiêu dùng được nhiều khách hàng biết tới thì ngân
hàng cần có chính sách marketing phù hợp. Ngân hàng cần tăng cường các hoạt
động thông tin quảng cáo trên báo đài, tờ rơi, quảng bá hình ảnh của Ngân hàng nói
chung cũng như lợi ích, chính sách về cho vay tiêu dùng nói riêng.
Công nghệ ngân hàng và khả năng quản lý có tác động tới hoạt động cho vay
tiêu dùng. Một ngân hàng có công nghệ hiện đại, có tính chuyên nghiệp trong việc
thẩm định sẽ dấn tới việc giải quyết các thủ tục được nhanh chóng, chính xác, việc
quản lý hồ sơ khách hàng cũng được thuận tiện hơn. Bên cạnh vấn đề về công nghệ,
ngân hàng cần có các quy định, nội quy làm việc thưởng phạt nghiêm minh, quản lý
tốt để tạo động lực làm việc cho cán bộ nhân viên ngân hàng, tác động đến phong
cách làm việc của nhân viên.
Tất cả các nhân tố trên đều là những nhân tố thuộc về nội tại ngân hàng có tác
động tới cho vay tiêu dùng. Ngoài những nhân tố đó còn phải kể tới nhân tố khách
quan bên ngoài ngân hàng cũng ảnh hưởng tới cho vay tiêu dùng, đó là đạo đức
khách hàng cũng như rủi ro của hoạt động cho vay tiêu dùng. Nếu như khách hàng là
người có đạo đức tốt, ý thức trả nợ tốt như trả nợ đúng hạn, tuân thủ các quy định mà
ngân hàng đề ra thì rủi ro cho vay tiêu dùng thấp thì sẽ kích thích ngân hàng tiến
hành mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng, các quy định cho vay cũng sẽ không quá
1.3.2.3. Những nguyên nhân thuộc về khách hàng.
Các yếu tố xuất phát từ bản thân khách hàng của ngân hàng khi thực hiện hoạt
động CVTD có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong hoạt động CVTD. CVTD là hình
thức cho vay tiềm ẩn rủi ro rất cao, những rủi ro này thường xuất phát từ phía khách
hàng. Các nhân tố thuộc về bản thân khách hàng gồm có: Khả năng tài chính của
khách hàng, đạo đức khách hàng, tài sản đảm bảo của khách hàng…
Khả năng tài chính của khách hàng chính là nguồn tài trợ cho các khoản vay
của ngân hàng. Thu nhập của người vay là nguồn trả nợ chủ yếu của các khoản vay
tiêu dùng. Nếu một khách hàng có thu nhập thường xuyên và ổn định sẽ luôn được
chào đón sử dụng các dịch vụ của ngân hàng trong đó có dịch vụ cho vay tiêu dùng.
Như vậy, khả năng tài chính của khách hàng là một sự đảm bảo cho ngân hàng khi
cung cấp tín dụng tiêu dùng, nó đảm bảo cho ngân hàng sự an toàn và tránh rủi ro.
Đạo đức khách hàng bao gồm các yếu tố liên quan đến uy tín của khách hàng,
năng lực pháp lý của khách hàng…Các yếu tố này có ý nghĩa vô cùng quan trọng khi
ngân hàng tiến hành xem xét các khoản vay nói chung và khoản vay tiêu dùng nói
riêng. Nếu một khách hàng có khả năng tài chính tốt, nguồn tài chính dùng trả nợ
cho ngân hàng được đảm bảo, nhưng đạo đức của khách hàng này không được đảm
bảo thì khả năng trả nợ của khách hàng này là rất thấp. Đạo đức khách hàng còn thể
hiện ở việc cung cấp cho ngân hàng những thông tin cá nhân đầy đủ và chính xác, sự
thiện chí muốn trả nợ cho ngân hàng và sự trung thực trong việc thực hiện hợp đồng
tín dụng kí kết với ngân hàng.
Tài sản đảm bảo chính là nguồn trả nợ thứ hai sau là nguồn thứ nhất là thu
nhập cuả người vay trong tín dụng tiêu dùng. Trong trường hợp có rủi ro xảy ra, tài
sản đảm bảo chính là tấm đệm cho các ngân hàng giúp ngân hàng có thể thu hồi lại
phần cho vay mà khách hàng không trả được nợ. Ngân hàng có thể giảm thiểu rủi ro
cho cho mình khi người vay không trả được nợ bằng cách phát mại tài sản đảm bảo