Đề cương ôn thi cao học môn triết học - Pdf 19

Vật chất – ý thức
Câu 1: Nêu quan điểm khoa học về vật chất của Lênin
ý 1: Quan niệm về vật chất trong lịch sử triết học duy vật trước C. Mác
* Thời kỳ cổ đại:
- Đồng nhất vật chất với một dạng vật thể cụ thể:
+ Quan điểm triết học Phương Đông, triết học Trung Quốc cho rằng âm dương ngũ hành khí là thực thể
vật chất, Triết học ấn Độ cho rằng nguyên tử là thực thể của thế giới.
+ Quan điểm triết học Phương Tây, Talet cho rằng vật chất là nước, Hêracrít cho vật chất là lửa,
Anaximen cho rằng vật chất là không khí, Đêmôcrit cho rằng vật chất là nguyên tử, khẳng định nguyên tử là
nhỏ nhất, không thể phân chia thành yếu tố nhỏ hơn nữa

Quan niệm vật chất thời kỳ cổ đại mang tính trực quan, cảm tính, đồng nhất vật chất với 1 dạng vật
thể cụ thể.
* Thời kỳ cận đại thế kỷ XVII-XVIII
Người ta cho rằng vật chất là sự vật, hiện tượng có khối lượng, các kích thước dài, rộng, cao (mang tính
quảng tính).
VD: Niutơn: Cho rằng khối lượng là vật chất. Khối lượng không thay đổi

Quan điểm vật chất thời kỳ cận đại mang tính siêu hình, máy móc. Đồng nhất vật chất với thuộc tính
của vật chất.
ý 2: Các phát hiện khoa học
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, khoa học tự nhiên mà chủ yếu là vật lý học đã có một loạt những phát
minh quan trọng đem lại cho con người những hiểu biết mới về cấu trúc và tính chất của vật chất, nó đã làm
thay đổi căn bản quan niệm cổ truyền về vật chất.
+ Năm 1895, Rơnghen- người Đức đã phát hiện ra tia X.
+ Năm 1896, Beccơren- người Pháp phát hiện ra tia phóng xạ.
+ Năm 1897, Tômxơn- nhà vật lý học người Anh đã phát hiện ra điện tử, một trong những yếu tố cấu
tạo nên nguyên tử.
Nó chứng minh: nguyên tử không phải là nhỏ nhất và nguyên tử có thể thay đổi

1 sai


Quan trọng nhất
Câu 2- Trình bày quan niệm về ý thức của Lênin
Trong lịch sử triết học, vấn đề nguồn gốc, bản chất và vai trò của ý thức là trung tâm của cuộc đấu tranh giữa
CNDV và CNDT
ý 1: Nguồn gốc của ý thức (YT)
*Nguồn gốc tự nhiên
- Mọi dạng vật chất đều có thuộc tính phản ánh. Phản ánh là sự tái tạo những đặc điểm của một hệ
thống vật chất này ở hệ thống vật chất khác trong quá trình tác động qua lại giữa chúng. Năng lực phản ánh của
vật chất tuỳ thuộc vào tổ chức của vật chất. Tổ chức vật chất càng phức tạp thì năng lực phản ánh càng cao
(sáng tạo)
- Sự phát triển của thuộc tính phản ánh (các hình thức phản ánh):
+Phản ánh lý hoá: là hình thức phản ánh đơn giản nhất, đặc trưng cho giới tự nhiên vô sinh. Hình thức
phản ánh này có tính chất thụ động, chưa có định hướng sự lựa chọn.
+ Phản ánh sinh học: đặc trưng cho giới tự nhiên sống. Những hình thức phản ánh này đã có sự định
hướng, sự lựa chọn, nhờ đó các sinh vật thích nghi với môi trường để duy trì sự tồn tại của mình. Phản ánh sinh
học có nhiều cấp độ:
Tính kích thích: thể hiện ở thực vật và động vật bậc thấp, là phản ứng trả lời tác động của môi trường ở
bên ngoài có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình trao đổi chất của chúng.
Tính cảm ứng: là hình thức phản ánh của động vật bậc cao khi có hệ thần kinh trung ương và tính nhạy
cảm đối với sự thay đổi của môi trường.
Tâm lý: Là hình thức phản ánh ở động vật bậc cao khi có hệ thần kinh trung ương xuất hiện. Tâm lý
động vật là sự phản ánh có tính chất bản năng do nhu cầu trực tiếp của sinh lý cơ thể và do quy luật sinh học chi
phối.
ý thức: Là hình thức cao nhất của sự phản ánh thế giới hiện thực. ý thức là hình thức phản ánh chỉ có ở
con người.
Như vậy: ý thức là đặc tính riêng của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc con người.
Bộ não người và ý thức
- Bộ não người là một tổ chức sống đặc biệt có cấu trúc tinh vi và phức tạp. Bộ não người là cơ quan vật
chất của ý thức.

sáng tạo của YT thể hiện ra rất phong phú đa dạng. Tuy nhiên, sáng tạo của YT là sáng tạo trong giới hạn của
sự phản ánh, khác với xuyên tạc
- Phản ánh mang tính tích cực, tự giác
ý 3- Kết cấu của ý thức
*Theo chiều ngang: YT bao gồm: tri thức, tình cảm, niềm tin, lý chí… trong đó tri thức là yếu tố cơ
bản, cốt lõi.
* Theo chiều dọc: Bao gồm: tự ý thức, tiềm thức, vô thức.
Câu 3: Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức
ý 1: Khái niệm:
* Vật chất: Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người
trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm
giác”
Các đặc điểm tính chất:
- Vật chất là cái tồn tại bên ngoài ý thức,cảm giác, không phụ thuộc vào ý thức
`- Vật chất là cái gây nên cảm giác ở con người khi trực tiếp hay gián tiếp tác động đến các giác quan con người
- Cảm giác, tư duy, ý thức chỉ là hình ảnh của vật chất.
*ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người một cách năng động, sáng tạo.ý thức
là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.
Bản chất:
- Phản ánh YT là sự phản ánh sáng tạo
- Phản ánh mang tính tích cực, tự giác
ý 2: Mối quan hệ biện chứng
* Vật chất quyết định ý thức:
- Vật chất quyết định sự xuất hiện của ý thức, do đó vật chất là có trước, ý thức là có sau, ý thức chỉ là
sự phản ánh của vật chất. Nguyên lý này biểu hiện về mặt xã hội là tồn tại xã hội có trước, ý thức xã hội có sau
và do tồn tại xã hội quyết định.
- Vật chất là cái quy định nội dung của ý thức, vật chất thay đổi thì ý thức cũng thay đổi. Tồn tại xã hội
thay đổi thì sớm muộn ý thức xã hội cũng thay đổi theo.
*ý thức tác động trở lại vật chất ( Tính độc lập tương đối của ý thức)
- Mặc dù ý thức do vật chất quyết định nhưng nó không phụ thuộc hoàn toàn vào vật chất mà do có tính

Hai nguyên lý của phép biện chứng duy vật
Thế giới khách quan tồn tại trong sự liên hệ phổ biến và trong sự phát triển. Từ đó ta có nội dung của 2 nguyên

Câu 1: Trình bày nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
ý 1: Khái niệm
* Về phép biện chứng (PBC)
- Sơ lược về sự hình thành và phát triển của PBC trong lịch sử triết học.
Thứ nhất: PBC tự phát thời cổ đại: Phản ánh tính chất chung của thế giới là vận động biến đổi không
ngừng nhưng chủ yếu dựa trên cơ sở quan sát mang tính trực quan, cảm tính.
Thứ hai: PBC của Hêghen trong triết học cổ điển Đức mang tính chất duy tâm thần bí, phản ánh sai lệch
hiện thực khách quan.
Thứ ba: PBC duy vật do Mác-Ăngghen xây dựng là sự thống nhất giữa thế giới quan duy vật và phương
pháp biện chứng, nó mang tính khoa học.
- Định nghĩa PBC:
+ Ăngghen: “PBC chẳng qua chỉ là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và sự
phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy”.
* Về mối liên hệ phổ biến
* Khái niệm về mối liên hệ phổ biến
- Quan điểm siêu hình về mối liên hệ: cho rằng sự vật hiện tượng tồn tại độc lập tách biệt với nhau, giữa
chúng không có sự liên hệ nếu thừa nhận có sự liên hệ thì đó chỉ là liên hệ bề ngoài, thụ động, một chiều, giữa
các hình thức liên hệ không có sự chuyển hoá lẫn nhau.
- Quan điểm duy vật biện chứng về mối liên hệ:
Mối liên hệ là phạm trù triết học dùng để chỉ sự quy định, sự tác động qua lại, sự chuyển hoá lẫn nhau
giữa các sự vật, hiện tượng hay các mặt sự vật, của một hiện tượng trong thế giới.
Như vậy là có liên hệ bên trong và liên hệ bên ngoài
ý 2 Tính chất của mối liên hệ: 3 tính chất
- Mối liên hệ mang tính khách quan, nó là cái vốn có của các sự vật, hiện tượng, không phụ thuộc vào ý
muốn, cảm giác, ý thức của con người.
- Mối liên hệ mang tính phổ biến, thể hiện: Có ở mọi lĩnh vực trong cả tự nhiên, xã hội và tư duy
- Mối liên hệ mang tính đa dạng và nhiều vẻ:

- Sự phát triển là kết quả của sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất là quá trình diễn ra theo
đường xoáy ốc.
- Sự phát triển là quá trình vận động thay đổi về chất, chất mới ra đời cao hơn chất cũ, phát triển có xu
hướng từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Sự phát triển không
phải lúc nào cũng đi theo một đường thẳng mà có lúc tụt lùi tạm thời
Khái niệm về sự phát triển gắn liền với khái niệm về sự vận động, do đó phát triển là sự vận động có
khuynh hướng
- Phát triển là khuynh hướng chung của thế giới.
ý 2 Tính chất của sự phát triển
- Phát triển mang tính khách quan, nó là cái vốn có của bản thân sự vật hiện tượng, không phụ thuộc vào
ý muốn chủ quan của con người. Nguồn gốc của sự phát triển là do mâu thuẫn ở bên trong bản thân SVHT,
trong quá trình tồn tại và vận động của SVHT luôn diễn ra quá trình giải quyết các mâu thuẫn bên trong nhờ đó
mà SVHT phát triển. Sự phát triển là quá trình khách quan, không phụ thuộc vào ý muỗn, nguyện vọng, ý chí
của con người.
- Phát triển mang tính phổ biến: phát triển ở mọi mặt, mọi khía cạnh, không chỉ là sự thay đổi về mặt số
lượng hay khối lượng mà nó còn là sự thay đổi về chất . Phát triển diễn ra ở mọi lĩnh vực trong tự nhiên, xã hội
và tư duy ở bất kì sự vật hiện tượng nào của TGKQ
- Phát triển mang tính đa dạng, nhiều vẻ: SVHT trong TGKQ rất phong phú và đa dạng, mỗi SVHT có
sự phát triển khác nhau. SVHT ở những không gian, thời gian khác nhau có sự phát triển khác nhau đồng thời
chịu sự tác động của các yếu tố, nhân tố khác nhau có thể thúc đẩy SVHT phát triển hoặc kìm hãm sự phát triển
- Phát triển mang tính kế thừa nhưng trên cơ êơr có sự phê phán, lọc bỏ, cải tạo và phát triển, không kế
thừa nguyên xi hay lắp ghép từ cái cũ sang cái mới một cánh máy móc, hình thức .
- Phát triển mang tính phức tạp: Tuỳ vào từng sự vật, hiện tượng, quá trình cụ thể, phát triển còn bao
gồm cả sự thụt lùi đi xuống nhưng khuynh hướng chung là đi lên, là tiến bộ. Theo quan điểm duy vật biện
chứng thì khuynh hướng của sự phát triển diễn ra theo đường xoáy ốc.
- Nguồn gốc của sự phát triển là ở trong bản thân sự vật hiện tượng, do mâu thuẫn của sự vật hiện tượng
quy định,
ý 3 ý nghĩa phương pháp luận
Khuynh hướng chung của SVHT là vận động và phát triển, do đó Khi xem xét sự vật, hiện tượng phải
có quan điểm phát triển. Quan điểm phát triển yêu cầu:

+ Chất là những quy định vốn có. Vàng: màu vàng, dẻo, ít hao mòn trong tự nhiện, kim loại…
+ Là sự thống nhất hữu cơ các thuộc tính, chứ không phải là một sự kết hợp máy móc hay hỗn hợp.
+ Sự thống nhất đó tạo cho sự vật thành một chỉnh thể cho phép phân biệt sự vật, hiện tượng này với sự
vật, hiện tượng khác.
- Phân biệt chất với thuộc tính:
Chất tồn tại khách quan bên trong của sự vật, bao gồm của các yếu tố giống nhau.
+ Chất là tổ hợp nhiều thuộc tính, mỗi thuộc tính là một bộ phận của chất, mỗi sự vật có nhiều chất.
+ Các thuộc tính bộc lộ theo một mối liên hệ cụ thể, khi thuộc tính cơ bản thay đổi thì chất mới thay đổi,
sự phân biệt giữa chất và thuộc tính chỉ là tương đối.
+ Chất gắn với kết cấu sự vật. Như : Than chì và kim cương.
- Khái niệm về lượng: Lượng là phạm trù triết học dùng để tính quy định vốn có của sự vật về mặt số
lượng, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển cũng như các thuộc tính của sự vật.
- Đặc điểm:
+ Lượng là khách quan, quy định về sự vật, bên trong sự vật mặt dù nhiều khi dường như là vẻ bề ngoài
+ Lượng gắn liền với cấu trúc, có tính phổ biến: dùng để chỉ kích thước (dài, ngắn, to, nhỏ….). Số lượng
(thuộc tính, số dân, số hành tinh, …). Mức độ ( phát triển kinh tế, tình cảm , tăng dân số )
+ Lượng không nói lên sự vật đó là cái gì, các thông số về lượng thường xuyên thay đổi trong quá trình
vận động phát triển của sự vật.
+ Phân biệt khái niệm giữa chất và lượng chỉ có ý nghĩa tương đối.
ý 2 Mối liên hệ giữa sự thay đổi về lượng và sự thay đổi về chất
- Thực chất, chất và lượng là hai mặt của sự vật; cho nên, chất bao giờ cũng thể hiện ra một lượng nhất
định, không có chất thuần tuý; và lượng bao giờ cũng là lượng quy định một chất nhất định, không có lượng
thuần tuý. Ví dụ: Mỗi kim loại khác nhau đều ứng với một bước sóng nhất định của ánh sáng chiếu vào để bứt
các điện tử ra khỏi bề mặt.
- Độ là phạm trù triết học dùng để chỉ khoảng giới hạn trong đó sự thay đổi về lượng của sự vật chưa
làm thay đổi chất căn bản của sự vật.
+ Độ là một khoảng (quá trình) thay đổi về lượng, chứ không phải một thời điểm (sự thay đổi từ 0
0c



- Các hình thức bước nhảy:
+ Bước nhảy toàn bộ
+ Bước nhảy bộ phận (cục bộ)
+ Bước nhảy đột biến
+ Bước nhảy dần dần
ý 3 ý nghĩa: (Một số kết luận về phương pháp luận )
- Cần có nhận thức để có tri thức đúng về sự vật, phải nhận thức cả mặt chất và mặt lượng của nó.
- Đối với hoạt động thực tiễn: Sự tích luỹ về lượng để dẫn tới sự thay đổi về chất là khách quan; cho
nên cần phải chống cả hai khuynh hướng tư tưởng:
Tả khuynh: lượng thay đổi nhưng chưa tới giới hạn mà đã nóng vội
Hữu khuynh: lượng thay đổi tới giới hạn nhưng không thay đổi về chất, bảo thủ.
- Trong xã hội con người có thể góp phần thúc đẩy tạo điều kiện về lượng để chuyển hoá về chất.
- Lựa chọn thời điểm thích hợp để thúc đẩy biến đổi về chất, nhất là trong hoạt động xã hội.
- Lựa chọn phương thức phù hợp từng loại kết cấu sự vật để tác động thay đổi sự vật.
ở VN việc thực hiện thành công quá trình đổi mới trên từng lĩnh vực đời sống xã hội sẽ tạo bước nhảy
về chất tại lĩnh vực đó, qua đó tạo điều kiện thực hiện thành công quá trình đổi mới toàn diện ở tất cả các lĩnh
vực trong đời sống sản xuất.
Câu 2: Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập
Quy luật này chỉ ra nguồn gốc động lực của sự vận động và phát triển.
ý 1 Một số khái niệm cơ bản:
- Quan điểm biện chứng đã khẳng định: Sự vật là một thể thống nhất nhiều mặt khác nhau, trong đó có ít
nhất hai mặt đối lập, như: nguyên tử (điện tử và hạt nhân); xã hội tư bản (vô sản và tư sản); tư duy (chưa biết và
biết)
- Mặt đối lập: là những mặt có những đặc điểm, những thuộc tính, những tính quy định có khuynh
hướng biến đổi trái ngược nhau tồn tại một cách khách quan trong tự nhiên, xã hội, tư duy. Hai mặt này cùng
tồn tại trong một sự vật nhưng có chiều hướng phát triển ngược nhau
+ Sự tồn tại các mặt đối lập là khách quan, tạo nên sự vật.
+ Sự tồn tại các mặt đối lập là phổ biến. Nếu sự vật không có mặt đối lập thì sự vật không tồn tại .
- Mâu thuẫn biện chứng: là các mặt đối lập liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau trong sự thống nhất, là
nguồn gốc, động lực của sự phát triển…

Muốn nhận thức đựơc bản chất của sự vật phải phát hiện ra mâu thuẫn, vì mau thuẫn quy định bản chất
của sự vật. Phải thừa nhận mâu thuẫn tồn tại khách quan, để nhận thức được đầy đủ sự vật phải nhận thức hình
thức được ít nhất hai mặt đối lập.
Sự vật khác nhau, quá trình khác nhau, bản chất khác nhau, thì mâu thuẫn cũng khác nhau, cho nên
cách giải quyết mâu thuẫn cũng khác nhau, tránh rập khuôn, máy móc.
Muốn thay đổi bản chất sự vật thì phải giải quyết mâu thuẫn, tránh cải lương, điều hoà. Không được
điều hoà giữa các mặt đối lập (mâu thuẫn) mà phải giải quyết bằng con đường đấu tranh
*** Vận dụng ở Việt Nam:
- Mâu thuẫn cơ bản trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở VN có thể nói là mâu thuẫn giữa một bên là
CNTB(với tư cách là một xu thế phát triển của cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, có sự tác động của các thế lực
phản động trong và ngoài nước) với một bên là xu hướng XHCN đang hình thành và thể hiện từng bước trong
quá trình đi lên từ một cơ sở kinh tế xã hội còn ở trình độ thấp (nền sản xuất nhỏ còn phổ biến)
- Cuộc đấu tranh ấy khi diễn ra gay gắt trên lĩnh vực tư tưởng (giai đoạn lựa chọn con đường). Khi thì
trên lĩnh vực kinh tế, khi thì trên lĩnh vực chính trị và có khi trên cả 3 lĩnh vực
- Mâu thuẫn cơ bản làm nảy sinh tất cả các mâu thuẫn trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội
(những mâu thuẫn trong đối nội cũng như đối ngoại) Chừng nào CNXH chưa thực sự được xác lập , nghĩa là
chưa hết thời kỳ quá độ, mâu thuẫn ấy vẫn tồn tại. Khi kinh tế XHCN đã giữ ưu thế tuyết đối (theo đúng nghĩa
của nó), mâu thuẫn trên sẽ mất đi hoặc nếu còn nó cũng không phải là mâu thuẫn của sự vật mới nữa
Lý luận nhận thức của triết học Mác - Lênin
Câu 1: Bản chất của nhận thức
ý 1 Quan niệm về nhận thức của trào lưu trước triết học Mác
- Quan điểm duy tâm chủ quan: Cho rằng nhận thức là phức hợp của các cảm giác con người. Vì vậy,
họ không có cơ sở khách quan để khẳng định con người có khả năng nhận thức được thế giới.
- Quan điểm duy tâm khách quan: Cho rằng nhận thức là sự hồi tưởng lại của linh hồn bất tử về thế giới
các ý niệm mà nó đã chiêm ngưỡng được nhưng bị lãng quyên.
- Quan điểm của chủ nghĩa duy vật trước Mác: Thừa nhận con người nhận thức được thế giới. Tuy
nhiên do hạn chế bởi tính trực quan và siêu hình, nên họ hiểu nhận thức là sự phản ánh đơn giản, sao chép máy
móc nguyên si sự vật.
ý 2 Quan điểm về bản chất nhận thức của chủ nghĩa duy vật biện chứng (4 kết luận của Lênin về nhận thức
hay các quan đỉêm của Lênin)

+Thực tiễn đề ra nhu cầu, nhiệm vụ, cũng như khuynh hướng phát triển của nhận thức. Chính con
người có nhu cầu khách quan là phải giải thích thế giới và cải tạo thế giới đó, cho nên đã buộc con người trực
tiếp tác động và các sự vật, hiện tượng bằng hoạt động thực tiễn của mình. Nhờ đó làm cho các sự vật bộc lộ
những thuộc tính, đặc điểm của mình, đem lại tài liệu cho nhận thức. Cho nên xét đến cùng không có lĩnh vực
tri thức nào lại không xuất phát từ thực tiễn.
+Nhờ hoạt động thực tiễn mà các giác quan con người ngày càng phát triển, năng lực tư duy lôgíc nâng
cao; hơn nữa con người còn toạ ra những phương tiện hỗ trợ cho các giác quan đó cho phép nhận thức được
chính xác và sâu sắc hơn về sự vật.
- Thực tiễn là mục đích của nhận thức
Mục đích của nhận thức đầy đủ hiện thực khách quan là để áp dung vào hiện thực, cải tạo hiện thực. Sự
áp dụng đó không còn cách nào khác là phải thông qua thực tiễn, đó là sự vật chất hoá những qui luật, tính tất
yếu đã nhận thức được. Điều đó không chỉ là mục đích của con người, mà còn là mục đích nói chung của các
ngành khoa học. Các qui luật, định luật của khoa học khái quát được nhờ hoạt động thực tiễn, mà còn là vì thực
tiễn nó mới tồn tại .
- Thực tiễn là tiêu chuẩn kiểm tra chân lý
Thực tiễn là nguồn gốc, cơ sở, động lực của nhận thức, hình thành nên quá trình nhận thức, cho nên
việc kiểm tra tính đúng đắn của tri thức là phải dựa vào thực tiễn, chứ không phải theo lối lập luận chủ quan.
+Lý luận tác động trở lại thực tiễn theo 2 hướng:
Tích cực: Với những lý luận khoa học giúp con người có thêm công cụ để khám phá, cải tạo tự nhiên để
phục vụ cho lợi ích của con người
Tiêu cực: Lý luận không đúng làm sai lệch nhận thức về thế giới khách quan
Lý luận chỉ tác động vào thực tiễn thông qua hoạt động thực tiễn của con người, khi nó thâm nhập vào
quần chúng
ý 3: ý nghĩa
Luôn quán triệt quan điểm thực tiễn trong nhận thức và hành động. Nhận thức phải xuất phát từ thực tiễn, từ
yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn. Khi xây dựng biện pháp. chủ trương nào đó cũng phải căn cứ vào thực tiễn, phải
huy động công cụ, phương tiện để giải quyết những vấn đề cuộc sống đặt ra. Mỗi thời kì, mỗi giai đoạn phải
tổng kết thực tiễn. Kịp thời loại bỏ những chính sách lạc hậu lỗi thời, từ trong thực tiễn phải biết đúc rút những
bài học kinh nghiệm trên cơ sở đó khái quát thành lí luận. lí luận phải liên hệ với thực tiễn, phải có tác động với
thực tiễn

dựa trên cơ sở hoạt động thực tiễn và quá trình đó được Lê- nin diễn tả qua luận điểm “Từ trực quan sinh
động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn là con đường biện chứng của sự nhận
thức chân lí, của nhận thức hiện thực khách quan”
Nhận thức không phải là một sự phản ánh nguyên xi, sao chép máy móc hiện thực mà là một quá trình phát
triển theo từng giai đoạn, những giai đoạn này liên hệ với nhau và giai đoạn này là tiền đề của giai đoạn kia.
Theo như luận điểm trên của Lênin, quá trình nhận thức trải qua hai khâu:
- Khâu 1: Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng
* Nhận thức cảm tính (trực quan sinh động): Là giai đoạn đầu của quá trình nhận thức, con người nhận thức
thế giới khách quan thông qua các giác quan của mình trong sự phong phú của sự vật, hiện tượng. Cấp độ nhận
thức thể hiện bằng ba hình thức, trình độ từ thấp đến cao.
- Cảm giác: là hình thức đầu tiên trong nhận thức của con người, là sự phản ánh những thuộc tính riêng lẻ của
các sự vật ,hiện tượng khi chúng tác động đến các giác quan của con người.
- Tri giác: là hình ảnh tương đối toàn vẹn về sự vật, khi nó đang tác động trực tiếp đến các giác quan. Tri giác là
sự tổng hợp cảm giác nhưng có hệ thống, đầy đủ hơn, phong phú hơn.
- Biểu tượng: là hình thức phản ánh cao nhất, là bước nhảy vọt trong nhận thức cảm tính, có tính gián tiếp; là
hình ảnh được tái tạo, lưu giữ khi đối tượng khách thể không còn tác động trực tiếp vào giác quan chủ thể
- Đặc điểm của giai đoạn nhận thức cảm tính:
Là sự phản ánh trực tiếp đối tượng bằng các giác quan của chủ thể nhận thức.
Là sự phản ánh bề ngoài, phản ánh cả cái tất nhiên và ngẫu nhiên, cả cái bản chất và không bản chất. Giai đoạn
này có thể có trong tâm lí động vật.
* Nhận thức lí tính (Tư duy trừu tượng): Đây là giai đoạn cao trong quá trình nhận thức, phản ánh các sự vật,
hiện tượng một cách gián tiếp, khái quát trên cơ sở những tài liệu do giai đoạn cảm tính đem lại. Giai đoạn này
đi sâu vào bản chất, quy luật của các sự vật. Thể hiện ở ba hình thức phản ánh
- Khái niệm: Là hình thức cơ bản của tư duy trừu tượng, phản ánh những đặc tính bản chất của sự vật. Khái
niệm là sự phản ánh tổng hợp về một lớp sự vật, nó là cơ sở, tiền đề cho tư duy trừu tượng, là phương thức tồn
tại tri thức của con người về thế giới khách quan.
- Phán đoán: Là hình thức của tư duy liên kết khái niệm với nhau để khẳng định hoặc phủ định một đặc điểm,
một thuộc tính nào đó của đối tượng. Có ba trình độ phán đoán: phán đoán đơn nhất, phán đoán đặc thù và phán
đoán phổ biến
- Suy luận: là hình thứuc của tư duy liên kết các phán đoán lại với nhau để rút ra tri thức mới. Đây là hình thức

quan và phục vụ cho hoạt động nhằm biến đổi thế giới.
ý 3: ý nghĩa:
- Đứng trên lập trường khoa học về con đường biện chứng của sự nhận thức chân lí ta tránh được quan điểm sai
lầm có khuynh hướng tách rời và tuyệt đối hoá một trong hai giai đoạn nhận thức. Vì nếu tuyệt đối hoá nhận
thức cảm tính sẽ dẫn đến chủ nghĩa duy cảm: đề cao vai trò của nhận thức cảm tính. còn nếu tuyệt đối hoá nhận
thức lí tính sẽ dẫn đến chủ nghĩa duy lí: đề cao vai trò của nhận thức lí tính.
- Xác định nguyên tắc cơ bản của quá trình nhận thức khách quan là sự thống nhất biện chứng giữa nhận thức
và thực tiễn- trên cơ sở đó tạo hướng đi, những giải pháp phù hợp với cuộc sống cũng như trong sự nghiệp xây
dựng đất nước hiện nay. Tránh rập khuôn, máy móc, bảo thủ, trì trệ. Các chính sách, đường lối phải được thực
tế kiểm nghiệm.
Biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
Câu: Biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
ý 1Các khái niệm cơ bản: 3 khái niệm
* Khái niệm phương thức sản xuất: là cách thức con người thực hiện trong quá trình sản xuất vật chất ở
những giai đoạn lịch sử nhất định của xã hội loài người.
- Sự thay đổi phương thức sản xuất bao giờ cũng là sự thay đổi có tính chất cách mạng, làm cho các quá
trình kinh tế, xã hội . được chuyển sang một chất mới.
- Phương thức sản xuất quyết định sự phát triển của xã hội loài người từ thấp đến cao
- Kết cấu: Phương thức sản xuất chính là sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất ở một trình độ nhất định
và quan hệ sản xuất tương ứng.
* Khái niệm lực lượng sản xuất: Là biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong quá trình
sản xuất
- Lực lượng sản xuất thể hiện năng lực thực tiễn của con người trong quá trình sản xuất ra của cải vật
chất
- Kết cấu của lực lượng sản xuất bao gồm:
+ Người lao động
+ Tư liệu sản xuất / Công cụ lao động
/ Đối tượng lao động - có sẵn trong tự nhiên
- đã qua chế biến
/ Phương tiện lao động

trình độ chinh phục tự nhiên của con người trong các giai đoạn lịch sử.
- Trình độ của lực lượng sản xuất được đánh giá (biểu hiện) ở trình độ của:
+ Công cụ lao động
+ Kinh nghiệm và kỹ năng lao động của con người
+ Tổ chức và phân công lao động xã hội
+ ứng dụng khoa học vào sản xuất
*. Sự vận động và phát triển của lực lượng sản xuất quyết định và làm thay đổi quan hệ sản xuất phù
hợp với nó
- Mỗi một phương thức sản xuất mới ra đời chính là sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất. Đó chính là trạng thái mà các yếu tố cấu thành của quan hệ sản xuất “tạo địa bàn
đầy đủ” cho lực lượng sản xuất phát triển.
Như vậy ở trạng thái phù hợp thì cả ba mặt của quan hệ sản xuất phù hợp, thích ứng với trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất nên sẽ là cơ sở cho lực lượng sản xuất phát triển hết khả năng của nó.
- Khi lực lượng sản xuất phát triển đến một trình độ nhất định làm cho quan hệ sản xuất từ chỗ phù hợp
trở thành không phù hợp, đó là trạng thái mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, mâu thuẫn
này ngày càng gay gắt làm cho quan hệ sản xuất “trở thành xiềng xích của lực lượng sản xuất”.
- Song do yêu cầu khách quan của sự phát triển của lực lượng sản xuất tất yếu dẫn đến thay thế quan hệ
sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới cho phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất để thúc đẩy
lực lượng sản xuất tiếp tục phát triển. Khi thay thế quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới tức là
phương thức sản xuất cũ mất đi, phương thức sản xuất mới ra đời để thay thế.
* Quan hệ sản xuất cũng có tính độc lập tương đối và tác động trở lại sự phát triển của lực lượng sản
xuất
- Quan hệ sản xuất không phụ thuộc hoàn toàn vào lực lượng sản xuất mà nó quy định mục đích của sản
xuất, có tác động đến thái độ của người lao động, đến tổ chức phân công lao động xã hội, đến sự phát triển và
ứng dụng của khoa học và công nghệ . nên từ đó tác động đến sự phát triển của lực lượng sản xuất
- Nếu quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất thì nó trở thành động lực thúc đẩy
lực lượng sản xuất phát triển. Ngược lại, nếu quan hệ sản xuất lỗi thời, lạc hậu, hay “tiên tiến” một cách giả tạo
so với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất thì sẽ kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất.
- Tuy nhiên, việc giải quyết mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất không phải giản đơn
mà phải thông qua nhận thức và hoạt động cải tạo xã hội của con người, trong xã hội có giai cấp thì phải thông

Đại hội đảng IX xác định phát triển LLSX hiện đại gắn liền với xây dựng QHSX mới phù hợp trên cả 3
mặt sở hữu, quản lý và phân phối, tiêu chuẩn căn bản để đánh giá hiệu quả xây dựng QHSX theo định hướng
XHCN là thúc đẩy phát triển LLSX, cải thiện đời sống nhân dân, thực hiện công bằng xã hội
Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
Câu hỏi: Biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
ý 1- Khái niệm
* Khái niệm cơ sở hạ tầng: Là toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của một xã hội
nhất định
Cơ sở hạ tầng của một xã hội cụ thể được hình thành một cách khách quan
- Những đặc trưng của cơ sở hạ tầng
+ Cơ sở hạ tầng của một xã hội cụ thể bao gồm những quan hệ sản xuất thống trị, những quan hệ sản
xuất tàn dư của xã hội cũ và quan hệ sản xuất là mầm mống của xã hội tương lai.
+ Cơ sở hạ tầng của một xã hội cụ thể được đặc trưng bởi quan hệ sản xuất thống trị của xã hội đó vì cơ
sở hạ tầng của một xã hội bao giờ cũng do quan hệ sản xuất thống trị giữ vai trò chủ đạo, chi phối các quan hệ
sản xuất khác, nó quy định xu hướng chung của đời sống kinh tế – xã hội.
- Như vậy: xét trong tổng thể các quan hệ xã hội thì quan hệ sản xuất hợp thành cơ sở kinh tế của xã hội
tức là trên đó hình thành nên kiến trúc thượng tầng tương ứng.
* Khái niệm kiến trúc thượng tầng: là toàn bộ những quan điểm chính trị, pháp quyền, triết học, đạo
đức, nghệ thuật, tôn giáo . cùng với những thiết chế xã hội tương ứng như: nhà nước, đảng phái, giáo hội, các
đoàn thể xã hội được hình thành trên cơ sở hạ tầng nhất định.
- Đặc trưng của kiến trúc thượng tầng:
+ Các yếu tố của kiến trúc thượng tầng có đặc điểm riêng, có quy luật vận động phát triển riêng nhưng
chúng liên hệ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau và đều hình thành trên một cơ sở hạ tầng nhất định.
+ Trong kiến trúc thượng tầng, mỗi yếu tố khác nhau có quan hệ khác nhau đối với cơ sở hạ tầng. Có
yếu tố như chính trị, pháp luật có quan hệ trực tiếp với cơ sở hạ tầng nhưng cũng có những yếu tố như triết học,
tôn giáo, nghệ thuật chỉ có quan hệ gián tiếp với cơ sở hạ tầng.
+ Trong xã hội có giai cấp thì kiến trúc thượng tầng mang tính giai cấp vì nó phản ánh cuộc đấu tranh về
mặt chính trị, tư tưởng của các giai cấp đối kháng, trong đó đặc trưng là sự thống trị về mặt chính trị - tư tưởng
của giai cấp thống trị.
+ Trong kiến trúc thượng tầng của xã hội có giai cấp, nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng vì nó tiêu

Tuy cơ sở hạ tầng có vai trò quyết định đối với kiến trúc thượng tầng nhưng toàn bộ kiến trúc thượng
tầng cũng như những yếu tố cấu thành nó đều có tính độc lập tương đối và tác động mạnh mẽ đối với cơ sở hạ
tầng.
- Sự tác động của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng thể hiện ở chức năng xã hội của kiến trúc
thượng tầng là duy trì, bảo vệ và củng cố cơ sở hạ tầng đã sinh ra nó, đấu tranh xóa bỏ cơ sở hạ tầng cũ và kiến
trúc thượng tầng cũ.
- Sự tác động của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng diễn ra theo hai chiều:
+ Tích cực: Nếu kiến trúc thượng tầng tác động phù hợp với quy luật kinh tế khách quan thì nó thúc đẩy
mạnh mẽ sự phát triển kinh tế.
+ Tiêu cực: Nếu tác động ngược lại thì nó sẽ kìm hãm sự phát triển của xã hội
Tuy kiến trúc thượng tầng có tác động mạnh mẽ đối với sự phát triển kinh tế nhưng xét đến cùng thì
không làm thay đổi được tiến trình phát triển khách quan của xã hội.
***Các biểu hiện của cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng ở nước ta hiện nay
- Cơ sở hạ tầng: có 5 thành phần kinh tế là: Sở hữu nhà nước, tập thể, tư bản nhà nước, tư bản tư nhân,
có vốn đầu tư nước ngoài tạo nên cơ cấu kinh tế đa dạng, phong phú
- Kiến trúc thượng tầng:
+ Về tư tưởng: lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng HCM là kim chỉ nam cho hành động và tư tưởng
của mình
+ Dưới sự lãnh đạo của Đảng xây dựng nhà nước của dân. do dân và vì dân
+ Các thiết chế xã hội khác: hội cựu chiến binh, hội phụ nữ, đoàn thanh niên…
*** Quan hệ giữa CSHT và KTTT trong quá trình đổi mới theo định hướng XHCN (nền kinh tế hàng
hoá nhiều thành phần) ở nước ta hiện nay
- Trong quá trình đổi mới kinh tế, xây dựng theo nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo
cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN, chúng ta từng bước xây dựng CSHT của
CNXH. CSHT trong thời kỳ quá độ ở nước ta chính là một cơ cấu kinh tế nhiều thành phần: Kinh tế nhà nước,
kinh tế tập thể, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản có sự đầu tư của nước ngoài.
Trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Các thành phần đó vừa khác nhau về vai trò, chức năng, về tính
chất lại vừa thống nhất với nhau, vừa liên hệ với nhau, bổ sung cho nhau. Các thành phần kinh tế đó vận hành
theo cơ chế thị trường. Song bản thân cơ chế thị trường lại có tính chất 2 mặt nên cần phải tăng cường sự quản
lý của nhà nước để phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực, hơn nữa sự quản lý của nhà nước ở nước ta còn

Câu 2- Vì sao nói sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên
ý 1- Khái niệm hình thái kinh tế - xã hội: Hình thái kinh tế - xã hội là một phạm trù của CNDVLS, dùng để
chỉ xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định, với một kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng cho xã hội đó phù hợp
với một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất và với một kiến trúc thượng tầng tương ứng được xây dựng
trên những quan hệ sản xuất ấy.
ý 2- Sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên
- Xã hội phát triển qua nhiều giai đoạn nối tiếp nhau từ thấp đến cao. Tương ứng với mỗi giai đoạn nhất
định là một hình thái kinh tế - xã hội. Bao gồm 5 hình thái sau:
Cộng sản nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản, cộng sản chủ nghĩa
- Sự vận động thay thế các hình thái kinh tế - xã hội trong lịch sử do các quy luật khách quan chi phối.
Đó là các quy luật:
+ Quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất.
*. Sự vận động và phát triển của lực lượng sản xuất quyết định và làm thay đổi quan hệ sản xuất phù
hợp với nó
- Mỗi một phương thức sản xuất mới ra đời chính là sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất. Đó chính là trạng thái mà các yếu tố cấu thành của quan hệ sản xuất “tạo địa bàn
đầy đủ” cho lực lượng sản xuất phát triển.
- Khi lực lượng sản xuất phát triển đến một trình độ nhất định làm cho quan hệ sản xuất từ chỗ phù hợp
trở thành không phù hợp, đó là trạng thái mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, mâu thuẫn
này ngày càng gay gắt làm cho quan hệ sản xuất “trở thành xiềng xích của lực lượng sản xuất”.
- Song do yêu cầu khách quan của sự phát triển của lực lượng sản xuất tất yếu dẫn đến thay thế quan hệ
sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới cho phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất để thúc đẩy
lực lượng sản xuất tiếp tục phát triển. Khi thay thế quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới tức là
phương thức sản xuất cũ mất đi, phương thức sản xuất mới ra đời để thay thế.
* Quan hệ sản xuất cũng có tính độc lập tương đối và tác động trở lại sự phát triển của lực lượng sản
xuất
- Quan hệ sản xuất không phụ thuộc hoàn toàn vào lực lượng sản xuất mà nó quy định mục đích của sản
xuất, có tác động đến thái độ của người lao động, đến tổ chức phân công lao động xã hội, đến sự phát triển và
ứng dụng của khoa học và công nghệ . nên từ đó tác động đến sự phát triển của lực lượng sản xuất
- Nếu quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất thì nó trở thành động lực thúc đẩy

1
+ Tích cực: Nếu kiến trúc thượng tầng tác động phù hợp với quy luật kinh tế khách quan thì nó thúc đẩy
mạnh mẽ sự phát triển kinh tế.
+ Tiêu cực: Nếu tác động ngược lại thì nó sẽ kìm hãm sự phát triển của xã hội
+ Quy luật đấu tranh giai cấp trong xã hội có giai cấp đối kháng.
Đỉnh cao của đấu tranh giai cấp tất yếu dẫn đến cách mạng xã hội. Giải quyết mâu thuẫn giữa lực lượng
sản xuất và quan hệ sản xuất, thay thế phương thức sản xuất cũ bằng một phương thức sản xuất mới tiến bộ
hơn. sản xuất phát triển sẽ là động lực thúc đẩy sự phát triển của toàn bộ đời sống xã hội. Đấu tranh giai cấp
làm cho tất cả mọi mặt đời sống xã hội phát triển nhanh chóng.
C.Mác viết: “Tôi coi sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên”.
1
- Nguồn gốc sâu xa của sự vận động và phát triển của xã hội là do sự phát triển của lực lượng sản xuất
- Quy luật chung của nhân loại đi lên từ thấp đến cao. Song mỗi dân tộc đều có thể bị chi phối bởi các
điều kiện về tự nhiên, chính trị, truyền thống, văn hóa và điều kiện quốc tế . do đó có những dân tộc có thể
“bỏ qua” một số hình thái kinh tế - xã hội nào đó. Song sự “bỏ qua” đó cũng diễn ra theo một quá trình lịch sử
tự nhiên chứ không theo ý muốn chủ quan.
Câu 3- Vận dụng học thuyết hình thái kinh tế - xã hội vào sự nghiệp xây dựng CNXH ở Việt Nam
ý 1 Việc lựa chọn con đường tiến lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN ở nước ta như một quá trình lịch sử tự
nhiên
Việt Nam chưa qua giai đoạn phát triển TBCN song với điều kiện lịch sử nhất định có thể quá độ lên
CNXH không qua giai đoạn phát triển TBCN, điều đó hoàn toàn phù hợp với quy luật lịch sử tự nhiên.
- Chủ nghĩa xã hội ra đời là một tất yếu lịch sử bởi những nguyên nhân bên trong của xã hội tư bản.
- Trong thời gian qua chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ đó chỉ là sụp đổ mô hình kế hoạch
hoá tập trung, chứ không phải sụp đổ một hình thái kinh tế - xã hội chủ nghĩa với nghĩa là một hình thái kinh tế
– xã hội cao hơn về chất so với xã hội tư bản.
- Con đường chúng ta đã chọn là mục tiêu của Đảng ta từ khi thành lập. Con đường bỏ qua gia đoạn
phát triển tư bản đi thẳng lên xây dựng CNXH phù hợp với nguyện vọng của quần chúng nhân dân.
ý 2 Xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
- Kinh tế thị trường là thành tựu chung của văn minh nhân loại, đồng thời là động lực mạnh mẽ thúc đẩy
lực lượng sản xuất phát triển.

trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội lấy đổi mới kinh tế làm trung tâm. Những thành tựu trong đổi mới kinh tế
là điều kiện căn bản để đổi mới hệ thống chính trị và các lĩnh vực khác.
- Đại hội Đảng IX đưa ra cơ cấu kinh tế với sáu thành phần:
. Kinh tế nhà nước
. Kinh tế tập thể
. Kinh tế cá thể, tiểu chủ ở nông thôn và thành thị.
. Kinh tế tư bản tư nhân
. Kinh tế tư bản nhà nước
. Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
- Đi đôi với phát triển kinh tế, xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, đẩy mạnh CNH,
HĐH phải không ngừng đổi mới hệ thống chính trị, nâng cao vai trò lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, xây
dựng nhà nước pháp quyền XHCN, nâng cao vai trò của các tổ chức quần chúng, phát huy sức mạnh đại đoàn
kết toàn dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc XHCN. Đồng thời phải xây dựng nền văn hoá tiên tiến
đậm đà bản sắc dân tộc, không ngừng nâng ca đời sống tinh thần của nhân dân.
Tồn tại xã hội và ý thức xã hội
Câu 1: Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội
ý 1- Khái niệm
- Khái niệm tồn tại xã hội là sinh hoạt vật chất và những điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội
Các yếu tố cơ bản của tồn tại xã hội:
+ Phương thức sản xuất vật chất
+ Điều kiện tự nhiên
+ Dân số và mật độ dân số
Trong đó phương thức sản xuất vật chất là yếu tố cơ bản nhất
- Khái niệm ý thức xã hội là mặt tinh thần của đời sống xã hội bao gồm những quan điểm, tư tưởng
cùng những tình cảm, tâm trạng, truyền thống . của một cộng đồng xã hội, nảy sinh từ tồn tại xã hội và phản
ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn phát triển nhất định.
ý thức xã hội biểu hiện thông qua ý thức cá nhân. ý thức cá nhân là biểu hiện độc đáo của ý thức xã hội,
không bao hàm nội dung đầy đủ của ý thức xã hội, nó phản ánh tồn tại xã hội ở các mức độ khác nhau.
Kết cấu của ý thức xã hội
- ý thức xã hội thông thường và ý thức lý luận

sắc tồn tại xã hội
- ý thức xã hội có tính kế thừa trong sự phát triển của mình
+ Kế thừa trong sự phát triển của ý thức xã hội thể hiện những quan điểm, lý luận của mỗi thời đại đều
dựa trên cơ sở tài liệu lý luận của thế hệ trước. Kế thừa thể hiện tính tất yếu khách quan, tính tiến lên trong sự
phát triển
+ Do ý thức có tính kế thừa trong sự phát triển nên không thể giải thích được một tư tưởng nào đó, nếu
chỉ dựa vào những quan hệ kinh tế hiện có mà không chú ý đến các giai đoạn phát triển tư tưởng trước đó.
+ Trong xã hội có giai cấp , tính chất kế thừa của ý thức xã hội gắn với tính chất giai cấp của nó. Những
giai cấp khác nhau kế thừa những nội dung ý thức khác nhau của các thời đại trước. Các giai cấp tiên tiến tiếp
nhận những di sản tư tưởng tiến bộ của xã hội cũ để lại. Giai cấp lỗi thời thì tiếp thu những khôi phục những tư
tưởng phản tiến bộ của thời kỳ lịch sử trước.
- Sự tác động qua lại giữa các hình thái ý thức xã hội trong sự phát triển của chúng
+ Các loại hình thái ý thức xã hội: ý thức chính trị, ý thức pháp quyền, ý thức đạo đức, ý thức khoa học,
ý thức nghệ thuật, ý thức tôn giáo.
+ Mỗi hình thái ý thức xã hội phản ánh một mặt, một đối tượng nhất định, một phạm vi nhất định của
tồn tại xã hội. Trong quá trình phản ánh hiện thực, các hình thái ý thức xã hội không thể thay thế cho nhau
nhưng ảnh hưởng, xâm nhập vào nhau và đều tác động trở lại tồn tại xã hội.
+ Tùy theo hoàn cảnh lịch sử cụ thể có những hình thái ý thức xã hội nào đó nổi lên hàng đầu và tác
động mạnh đến các hình thái ý thức xã hội khác tạo nên sự phát triển không đồng nhất với tồn tại xã hội . Vì
vậy, khi xem xét một hình thái ý thức xã hội nào đó chúng ta không chỉ chú ý đến các điều kiện kinh tế - xã hội
mà còn phải chú ý đến sự tác động của hình thái ý thức xã hội khác.
- ý thức xã hội tác động trở lại tồn tại xã hội
+ Sự tác động trở lại của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội là một biểu hiện quan trọng của tính độc lập
tương đối của ý thức xã hội. Sự tác động đó có thể theo hai khuynh hướng đối lập nhau: tư tưởng khoa học và
tiến bộ góp phần thúc đẩy tồn tại xã hội phát triển. Nếu ý thức xã hội lạc hậu, phản động sẽ cản trở sự phát triển
tồn tại xã hội.
+ Mức độ tác động của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội phụ thuộc vào:
Điều kiện lịch sử cụ thể; Tính chất các mối quan hệ kinh tế làm nảy sinh những tư tưởng đó;Vai trò của
giai cấp đề ra tư tưởng đó
Mức độ phản ánh đúng đắn của tư tưởng đó và mức độ triển khai thực hiện tư tưởng đó trong quần

Đại hội 9 đó nhấn mạnh “xõy dựng nền văn húa tiờn tiến mang đậm đà bản sắc dõn tộc vừa là mục tiờu,
động lực phỏt triển thỳc đẩy kinh tế, phỏt triển văn húa trở thành nhõn tố thỳc đẩy con người hỡnh thành nhõn
cỏch, kế thừa truyền thống cỏch mạng của dõn tộc, phỏt huy tinh thần yờu nước, ý trớ tự lập tự cường, tiếp thu
tinh hoa và gúp phần làm phong phỳ thờm nền văn hoỏ nhõn loại, đấu tranh chống sự thõm nhập văn húa đồi
bại” . Cũng trong Đại hội 9 của Đảng về đường lối phỏt triển kinh tế thỡ ĐCS VN đó xỏc định được đẩy mạnh
cụng nghiệp hoỏ, hiện đại hoỏ, xõy dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, ưu tiờn phỏt triển LLSX đồng thời xõy
dựng QHSX phự hợp theo định hướng XHCN tăng trưởng kinh tế đi lờn với phỏt triển XH từng bước cải thiện
đời sống vật chất, tinh thần của nhõn dõn thực hiện toàn bộ cụng bằng xó hội bảo vệ và cải thiện mụi trường.
Câu hỏi: Để lực lượng sản xuất phát triển cần tác động vào những yếu tố cơ bản nào? Vận dụng ở nước
ta?
Chúng ta thấy LLSX là động lực của sự phát triển xã hội nên để XH phát triển cần có những tác động làm cho
LLSX phát triển.
* Trước hết cần có tác động vào các yếu tố bên trong của LLSX bao gồm:
+ Người lao động
+ Tư liệu sản xuất: công cụ lao động, đối tượng lao động (có sẵn trong tự nhiên hoặc đã qua chế biến), phương
tiện lao động (bao gồm các yếu tố, điều kiện hỗ trợ cho sản xuất: đường sá, giao thông,…)
+ Khoa học công nghệ
Sau đó là tác động vào các yếu tố bên ngoài có liên quan bao gồm:
+ QHSX với các yếu tố:
Quan hệ sở hữu đối với các TLSX (có hai hình thức: Sở hữu công cộng và sở hữu tư nhân)
Quan hệ trong tổ chức và quản lí sản xuất
Quan hệ trong phân phối sản phẩm lao động
+ KTTT: Yêu cầu điều chỉnh:
Các quan điểm chính trị, tư tưởng, tôn giáo, pháp quyền, …
Các thiết chế xã hội: Nhà nước, Đảng, giáo hội, đoàn thể xã hội, …
* Vận dụng ở nước ta:
- LLSX
+ Người lao động: Chấn hưng nền giáo dục, thường xuyên cải cách, đổi mới GD, coi GD là quốc sách hàng đầu
+ Tư liệu sản xuất:
Công cụ lao động: tiến hành CNH-HĐH đất nước


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status