ĐỀ CƯƠNG ÔN THI CAO HỌC
MÔN: TRIẾT HỌC
Câu 1: Vấn đề cơ bản của triết học và các trường phái triết học?
a) Vấn đề cơ bản của triết học
Triết học là một trong những hình thái ý thức xã hội, là học thuyết nghiên cứu về những vấn
đề chung nhất của thế giới tự nhiên, XH và con người, nghiên cứu và giải quyết mối quan hệ của
con người nói chung, của tư duy con người nói riêng với thế giới xung quanh.
- Đối tượng nghiên cứu của Triết học :
+ Những quy luật chung, phổ biến, có trong cả tự nhiên, XH, tư duy.
+ Nghiên cứu về mối quan hệ giữa con người nói chung và tư duy con người nói riêng với thế
giới xung quanh họ.
+ Nghiên cứu về phương pháp suy nghó , phương pháp tư duy của con người.
- Vấn đề cơ bản của mọi học thuyết, mọi trường phái triết học từ trước đến nay là giải quyết
mối quan hệ giữa tâm và vật, giữa vật chất và ý thức . ngen đã chỉ rõ:”Vấn đề cơ bản lớn của
mọi triết học, đặc biệt là triết học hiện đại là vấn đề giữa tư duy và tồn tại”.
Sự khẳng đònh dựa trên những căn cứ, lý do chủ yếu sau đây:
+ Các học thuyết, các trường phái triết học dù khác nhau đến mấy thì câu hỏi trước hết cần
giải quyết là: thế giới trong tư duy con người có quan hệ như thế nào với thế gới bên ngoài, và tư
duy con người có khả năng nhận biết được thế giới bên ngoài hay không. Những tri thức mà con
người có được bắt nguồn từ đâu.
+ Việc giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức vừa là điểm xuất phát vừa là cơ sở để
giải quyết mọi vấn đề trong triết học, đặc biệt là những vấn đề thuộc lòch sử về đới sống XH của
con người.
+ Thông qua việc giải quyết mối quan hệ vật chất-ý thức để có sự phân đònh về sự khác nhau
giữa các hệ thống triết học trong lòch sử.
- Nội dung giữa vấn đề cơ bản gồm 2 mặt:
+ Giải quyết vật chất và ý thức cái nào có trước cái nào có sau? Cái nào giữ vai trò quyết
đònh.
+ Ý thức con người có thể phản ánh trung thực thế giới bên ngoài, con người có khả năng
nhận thức được thế giới bên ngoài hay không.
b) Các trường phái triết học
thế giới vật chất. Hai đại biểu lớn nhất của trường phái đó là: Platôn và Hêgen.
+ Chủ nghóa duy tâm chủ quan: với quan niệm cho rằng cảm giác là cái có trước và tồn tại sẵn
trong con người. Các sự vật hiện tượng bên ngoài chỉ là phức hợp của cái cảm giác đó mà thôi.
Hai đại biểu của trường phái duy tâm chủ quan là: Hium và Bécơly.
Căn cứ vào giải quyết mặt thứ hai của vấn đề cơ bản:
Trong triết học xuất hiện các trường phái triết học khác nhau, những người cho rằng con người
và loài người có khả năng nhận thức được sự vật hiện tượng nói riêng và thế giới vật chất nói
chung thì được gọi là những nhà theo trường phái khẳng đònh lạc quan. Những người cho rằng
con người và loài người không thể nhận biết được bản chất sự vật hiện tượng cũng như thế giới
vật chất thì được xếp vào những nhà hoài nghi chủ nghóa hoặc thậm chí những nhà không thể
biết (bất khả tri)./.
Câu 2: Quan niệm của các nhà duy vật trước Mác về vật chất.
-Việc tìm hiểu để khám phá bản chất và cấu trúc của sự tồn tại của thế giới xung quanh là
một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu trong lòch sử nhận thức của nhân loại. Hầu hết
các trường phái của triết học đều bằng cách này hay cách khác đều quan tâm giải quyết vấn đề
này. Vì vậy, trong triết học phạm trù vật chất đã được đặt ra từ rất sớm, xung quanh việc lý giải
về vật chất, về sự tồn tại và vận động của nó, ngay từ đầu đã diễn ra một cuộc đấu tranh quyết
liệt giữa CNDT và CNDV.
Những người theo CNDT tìm mọi cách để phủ nhận sự tồn tại của vật chất, họ khẳng đònh cơ
sở của sự tồn tại của thế giới là từ yếu tố tinh thần hoặc do một lực lượng siêu nhiên hay ý muốn
của chúa trời
Chủ nghóa duy vật khẳng đònh cơ sở của thế giới là vật chất, nó tồn tại vónh cửu tạo nên sự vật
cùng với những thuộc tính của chúng. Tuy nhiên, việc lập luận và lý giải về vật chất của các nhà
triết học duy vật thời lỳ trước Mác là không đồng nhất với nhau.
a. Vào thời kỳ cổ đại ở phương Tây, các nhà triết học duy vật có xu hướng đồng nhất vật
chất nói chung với một dạng cụ thể nào đó của nó, chẳng hạn như nước, lửa, không khí. Và
bằng cảm tính con người có thể nhận biết được.
2
Ví dụ:
Talét cho rằng vật chất là nước.
Kim là tượng trưng cho chất trắng, khô, cay, phía Tây.
Mộc tượng trưng cho tính chất xanh, chua, phía Đông.
Thủy tương trưng cho tính đen, mạnh, phía Bắc.
Hỏa tượng trưng cho màu đỏ, đắng, phía Nam.
Thổ tượng trưng cho tím vàng, ngọt, ở giữa.
Năm yếu tố trên không tồn tại biệt lập mà trong hệ thống tương sinh, tương khắc với nhau tạo
nên vạn vật
Những tư tưởng về âm-dương, ngũ hành tuy còn có hạn chế nhất đònh nhưng đó là những triết
lý đặc sắc mang tính duy vật và biện chứng để lý giải về vật chất, về cấu tạo của vũ trụ. Nó có
ảnh hưởng to lớn đến thế giới quan triết học sau này không những chỉ ở n Độ, Trung Hoa mà cả
những nước chòu ảnh hưởng của những nền triết học đó
b. Thời kỳ cận đại thế kỷ XVII-XVIII:
Nền khoa học tự nhiên thực nghiệm ở Châu u đã có sự phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là trên
lónh vực vật lý với những phát minh của Niutơn. Phương pháp nghiên cứu là phân tích tách biệt
3
sự vật thành các bộ phận nhỏ hơn của vật lý học đã ảnh hưởng lớn và xâm nhập vào triết học.
Quan điểm siêu hình máy móc đã chi phối quan điểm triết học về vật chất. Người ta đã giải thích
mọi hiện tượng của tự nhiên chỉ bằng sự tác động của lực hút và lực đẩy của các phần tử trong
vật thể. Theo đó, các phần tử của vật trong quá trình vận động là bất biến, các thay đổi chỉ là về
trạng thái không gian và tập hợp của chúng. Mọi sự phân biệt về chất giữa các vật thể đều bò
quy giản thành sự phân biệt về lượng. Vì vậy các nhà triết học thời kỳ này đã đồng nhất vật chất
với khối lượng, coi vận động của vật chất chỉ còn là vận động cơ học. Nguồn gốc của vận động
ấy là do tác động từ bên ngoài.
Vào thế kỷ XIX xuất hiện một nền triết học rất có ý nghóa đối với lòch sử triết học đó là nền
triết học cổ điển Đức. Một trong hai đại biểu lớn nhất của nền triết học này đó là nhà triết học
Phoiơbăc(Phơ bách). Ông đã chứng minh thế giới là vật chất, theo ông, vật chất là toàn bộ giới tự
nhiên, nó không do ai sáng tạo ra, tồn tại độc lập với ý thức và không phụ thuộc vào bất kỳ một
ý niệm hay một thực thể tinh thần nào đó. Cơ sở tồn tại của giới tự nhiên nằm ngay trong bản
thân nó.
Mặc dù còn có những hạn chế nhất đònh song những quan điểm duy vật của Phoiơbăc đã có ý
chính xác.
Năm 1897, Tômxơn phát hiện ra điện tử và chứng minh được rằng điện tử là yếu tố cấu thành
nên nguyên tử. Như vậy quan niệm nguyên tử là nhỏ bé nhất, không thể phân chia được, không
còn chính xác nữa.
Năm 1901, Kaufman đã chứng minh được khối lượng của điện tử không bất biến mà thay đổi
theo vận tốc vận động của điện tử. Điều này chứng tỏ khối lượng không phải là một đại lượng
tónh bất biến.
Như vậy khoa học tự nhiên đặc biệt là vật lý học bằng những phát minh của mình đã bác bỏ
một cách trực diện những quan điểm siêu hình về vật chất trước đây. Những tính chất như nhỏ bé
nhất, không thể xuyên thấu, bất biến về khối lượng … của vật chất đã không thể đứng vững được
nữa. Điều này đã gây ra sự hoang mang cho các nhà khoa học tự nhiên và làm xuất hiện cuộc
khủng hoảng “ vật lý” đầu thế kỷ 20.
+ Về mặt triết học: những người theo chủ nghóa duy tâm đã lợi dụng những phát minh mới
của khoa học để tấn công chủ nghóa duy vật hòng phủ nhận và bac bỏ triết học mác xít. Họ cho
rằng vật chất đã tiêu tan và như vậy chủ nghóa duy vật không còn cơ sở để đứng vững và tồn tại;
Chỉ có Chúa-ý thức mới là cái vónh viễn và tạo nên vạn vật.
+ Về lónh vực lòch sử - xã hội: Vào đầu thế kỷ XX trung tâm cách mạng thế giới đã dòch
chuyển từ Tây u về Đông Âu và tập trung ở Nga. Những mâu thuẫn về dân tộc, về giai cấp, về
xã hội được thể hiện rõ nét và gay gắt ở Nga. Điều kiện khách quan, chủ quan của cuộc cách
mạng vô sản đang tới gần Cuộc đấu tranh trên bình diện tư tưởng, lý luận chống lại chủ nghóa cơ
hội, CNDT bảo vệ Chủ nghóa Mac nói chung, đònh hướng cho CMVS Nga nói riêng đang đặt ra
một cách trực tiếp và đòi hỏi phải giải quyết cấp bách.
Từ trong hoàn cảnh lòch sử đó và nhắm đáp ứng đòi hỏi của sự phát triển của KHTN, của việc
bảo vệ triết học Mác, của yêu cầu CMXH Nga, Lênin đã viết một tác phẩm mang tên “Chủ
nghóa duy vật và chủ nghóa kinh nghiệm phê phán”. Chính trong tác phẩm này Lênin đã đưa ra
một đònh nghóa hoàn chỉnh về vật chất :
“Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ tồn tại khách quan được đem lại cho con
người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại
không lệ thuộc vào cảm giác”.
b) Những nội dung cơ bản trong đònh nghóa vật chất của Lênin:
lập giữa vật chất và ý thức có ý nghóa hết sức đẹp trong vấn đề nhận thức luận cơ bản là thừa
nhận cái gì có trước cái gì có sau. Ngoài ra không còn nghi ngờ gì nữa sự đối lập đó chỉ là tương
đối”.
c)Ý nghóa khoa học của đònh nghóa vật chất:
- Đònh nghóa vật chất của Lênin đã khắc phục được nhược điểm, khiếm khuyết trong quan
niệm về vật chất của Chủ nghóa trước Mác, khắc phục tính trực quan, siêu hình, máy móc của
CNDV siêu hình trước Mác, làm cho CNDV phát triển lên một trình độ mới, CNDV biện chứng.
- Bảo vệ chủ nghóa Mác, trong thời kỳ mới, tạo thành cơ sở khoa học và vũ khí tư tưởng để
đấu tranh chống chủ nghóa duy tâm khách quan, chủ nghóa duy tâm chủ quan cùng những thuyết
không thể biết.
- Khắc phục được cuộc khủng hoảng trên lónh vực vật lý học, đònh hướng hoạt động cho các
nhà khoa học tự nhiên trong việc nghiên cứu, tìm kiếm, phát hiện các dạng, các hình thức mới
của vật chất.
- Xác đònh rõ hơn các dạng cơ bản của, đặc biệt là dạng vật chất trong đời sống xã hội (Vật
chất được thể hiện trong cuộc sống dưới các dạng như : vật thể, các loại trường, tồn tại xã hội).
*Tóm lại: Mặc dù một thế kỷ đã trôi qua (1908) nhưng KN VC của Lênin vẫn còn nguyên giá
trò…
Câu 4: Quan điểm Macxit về vận động
1)Một số quan điểm khác nhau về vận động :
a) Quan điểm của chủ nghóa duy tâm:
Xuất phát từ việc phủ nhận sự tồn tại của vật chất, chủ nghóa duy tâm đã phủ nhận luôn cả sự
vận động của vật chất, họ chỉ thừa nhận có sự vận động của tinh thần và tư tưởng mà thôi.
b) Quan điểm của chủ nghóa duy vật siêu hình trước Mác :
6
Tuy có sự thừa nhận về sự vận động của vật chất nhưng lại cho rằng sự vận động đó chỉ đơn
giản là sự dòch chuyển vò trí trong không gian do những nguyên nhân bên ngoài.
2) Quan điểm của triết học Mác xít:
Trước hết là khẳng đònh vận động là mọi sư biến đổi và biến hóa nói chung. ngen đã khẳng
đònh:” Vận động hiểu theo nghóa chung nhất bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình
diễn ra trong vũ trụ kể từ sự thay đổi vò trí đơn giản cho đến tư duy”.
vận động gắn liền với vật chất vì vậy nó cũng vô cùng vô tận như thế giới vật chất. Vận động
được bảo toàn cả mặt lượng và mặt chất của nó; Nếu một hình thức vận động nào đó kết thúc thì
đồng thời nó cũng mở ra một hình thức vận động mới thay thế cho nó. Điều đó có nghóa là các
hình thức khác nhau của vật chất có khả năng chuyển hóa cho nhau và điều này đã được khoa
học tự nhiên đặc biệt là đònh luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng chứng minh. Anghen đã
nhận xét : cần phải hiểu tính bất điệt của vận động không chỉ đơn thuần về mặt số lượng, mà cả
về mặt chất lượng.
-Vận động của vật chất là đa dạng, nhiều vẻ, khái quát lại Triết học ML phân chia vận động
thành năm hình thức vận động chủ yếu sau:
7
+Vận động cơ học thể hiện sự di chuyển vò trí của các vật thể trong không gian.
+Vận động vật lý thể hiện sự biến đổi của các phân tử của các loại hạt cơ bản, các loại trường,
quá trình nhiệt, điện, quang.
+Vận động hóa học: thể hiện sự biến đổi của các nguyên tố, các phản ứng hóa học, các quá
trình hóa hợp và phân giải các chất.
+Vận động sinh học thể hiện qua các quá trình trao đổi chất giữa cơ thể và môi trường, quá
trình đồng hóa-dò hóa, hấp thụ bài tiết, quá trình biến dò –di truyền, tiến hóa…
+Vận động xã hội: biểu hiện qua sự thay thế lẫn nhau các hình thái kinh tế xh, các chế độ xh
trong lòch sử loài người.
*Chú ý:
- Các hình thức vận động trên có sự khác nhau về chất, từ vận động cơ giới đến vận động xã
thể hiện sự phát triển về mặt trình độ của vận động và trình độ đó tương ứng với tính chất, kết
cấu của các dạng vật chất. Kết cấu càng chặt chẽ, càng phức tạp và hoàn thiện thì trình độ vận
động của đối tượng vật chất đó càng ở mức độ cao hơn .
- Trình độ vận cao có thể bao hàm trong nó trình độ vận động thấp hơn nhưng trình độ vận
động thấp hơn thì không thể bao hàm trong nó sự vận động cao. Vì vậy không thể quy giản hình
thức vận động cao thành hình thức vận động thấp.
- Một kết cấu vật chất có thể tham gia nhiều hình thức vận động khác nhau song bản thân sự
tồn tại của một kết cấu vật chất bao giờ cũng được đặc trưng bằng một hình thức vận động cơ
bản. Đối với con người và xh loài người thì hình thức vận động xh là đặc trưng.( Học thuyết
nghiệm, tri thức lý luận, tri thức tiền khoa học, tri thức khoa học….
Tri thức là phương thức tồn tại của ý thức. Sự hình thành và phát triển của tri thức có liên quan
mật thiếtvới quá trình con người tiếp nhận, tích lũy những hiểu biết của mình về thế giới trong tự
nhiên và đời sống XH. Tri thức về sự vật càng phong phú bao nhiêu thì ý thức về nó càng sâu
sắc bấy nhiêu. Nếu ý thức mà không bao hàm không dựa và tri thức thì đó chỉ là sự trừu tượng
trống rỗng, không giúp gì được cho hoạt động thực tiễn. Mác có nhận xét:
“ Tri thức là phương thức mà theo đó ý thức tồn tại, và theo đó một cái gì đó nảy sinh ra đối
với ý thức. Cho nên một cái gì đó nảy sinh ra đối với ý thức chừng nào mà ý thức biết được cái
đó”.
Ngày nay, vai trò động lực của tri thức đối vớisự phát triển của XH ngày càng nổi bật, loài
người đang bước vào nền kinh tế tri thức trong đó sự sản sinh ra, sự phổ cập và sử dụng tri thức
có vai trò quyết đònh đối vớisự phát triển kinh tế. Đa số các ngành đều dựa vào tri thức, đều áp
dụng những thành tựu mới nhất của khoa học và công nghệ… Vì vậy đầu tư vào tri thức trở thành
yếu tố then chốt cho sự tăng trưởng dài hạn
Tình cảm là sự cảm động của con người trong quan hệ giữa người và người, giữa con người
với thực tại xung quanh. Tình cảm là một trạng thái đặc biệt của ý thức hình thành trong q/trình
con người tiếp xúc với con người, với tự nhiên và xã hội. Tình cảm tham gia vào mọi hoạt động
của con người và giữ một vò trí quan trọng trong việc điều chỉnh hoạt động của con người. Tình
cảm có thể mang tính chất chủ động, chứa đựng những cảm xúc tích cực nhưng cũng có thể mang
t/c thụ động, chứa đựng cảm xúc tiêu cực. Tình cảm tích cực có vai trò to lớn, là một động lực để
nâng cao năng lực và hoạt động sống của con người.
Tri thức và tình cảm có quan hệ chặt chẽ với nhau tạo thành niềm tin, ý chí từ đó thúc đẩy
hoạt động thực tiễn của con người, trong đó tri thức là cơ bản và cốt lõi nhất. Nếu niềm tin, ý chí
mà không có tri thức thì chỉ xây dựng nên niềm tin mù quáng, sự tưởng tượng chủ quan. Ngược
lại nếu tri thức không được biến thành tình cảm, niềm tin, ý chí của con người, thôi thúc con
người hành động thì tri thức tự nó đánh mất vai trò đối với hiện thực, mất phương hướng và
không bền vững. Sự hiểu biết của con người phải biến thành tình cảm mãnh liệt … tất cả những
điều đó hòa quyện với nhau để hướng dẫn, dìu dắt con người trong hoạt động thực tiễn cải tạo
thế giới.
+ Nếu tiếp cận từ góc độ chiều sâu của thế giới nội tâm của con người (lát cắt chiều dọc) thì ý
- Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là sự phản ảnh của thế giới bên ngoài
vào trong bộ óc con người. Ý thức có kết cấu phức tạp bao gồm nhiều thành tố có quan hệ chặt
chẽ với nhau. Tùy theo góc độ nghiên cứu có thể phân chia ý thức thành những kết cấu khác nhau.
+ Nếu tiếp cận từ góc độ yếu tố cấu thành hay theo lát cắt chiều ngang thì ý thức gồm: tri thức,
tình cảm và ý chí.
+ Nếu tiếp cận từ góc độ chiều sâu của thế giới nội tâm của con người (lát cắt chiều dọc) thì ý
thức bao gồm : tự ý thức, tiềm thức và vô thức.
Để hiểu rõ hơn về bản chất của ý thức trước tiên chúng ta đi vào tìm hiểu nguồn gốc của ý
thức.
a)Nguồn gốc của ý thức:
Dự trên thành tựu của các ngành khoa học tự nhiên và xã hội, Triết học M-L khẳng đònh ý
thức được ra đời từ 2 nguồn gốc : nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội.
-Về nguồn gốc tự nhiên :
Dựa trên cơ sở những thành tựu của khoa học tự nhiên , đặc biệt là của sinh lý học thần kinh,
Triết học Mác xít khẳng đònh rằng: “ý thức là thuộc tính của vật chất nhưng không phải của bất
kỳ một dạng vật chất nào mà chỉ có ở một dạng vật chất có tổ chức cao với cấu trúc tinh vi và
hoàn thiện nhất đó là bộ óc người”. Hoạt động ý thức chỉ có thể diễn ra trên cơ sở hoạt động sinh
lý thần kinh của bộ óc. Ý thức phụ thuộc vào bộ óc do vậy nếu bộ óc bò tổn thương thì hoạt động
ý thức sẽ bò rối loạn. Tuy nhiên quá trình ý thức không đồng nhất hay diễn ra song song với quá
trình hoạt động sinh lý thần kinh. Thực chất đây chỉ là hia mặt của một vấn đề, một quá trình, tức
là hoạt động sinh lý thần kinh mang nội dung ý thức.
Cần nhấn mạnh rằng không có bộ óc người thì không có ý thức. Tuy nhiên chỉ riêng bộ óc
người thôi thì con người cũng chưa hình thành nên được ý thức, nó mới chỉ là điều kiện cần
nhưng chưa đủ.
Sự hình thành của ý thức có liên quan mật thiết đến thuộc tính phản ánh của thế giới vật chất.
Phản ánh trở thành một yếu tố trong nguồn gốc tự nhiên hình thành nên ý thức. Triết học Mác
cho rằng ý thức không phải có nguồn gốc siêu tự nhiên, cũng không phải là cái sinh ra vật chất
10
mà nó chỉ là kết quả của sự phát triển đến đỉnh cao của một thuộc tính phổ biến của vật chất, đó
là thuộc tính phản ánh.
Ý thức là sản phẩm của sự phát triển XH , phụ thuộc vào XH và ngay từ đầu đã mang tính
XH. Quá trình hình thành ý thức không chỉ nhờ vào tác động thuần tuý của thế giới tự nhiên vào
trong bộ óc con người mà chủ yếu nhờ vào hoạt động thực tiễn của con người đặc biệt là hoạt
động sản xuất cải tạo thế giới tự nhiên. Nhờ có hoạt động này mà con người đã bắt thế giới tự
nhiên phải bộc lộ những thuộc tính, những kết cấu, những quy luật vận động… thành những hiện
tượng nhất đònh để con người nắm bắt chúng. Như vậy, hoạt động thực tiễn, đặc biệt là hoạt động
lao động sản xuất đã giúp con người thu được 2 giá trò: thu được của cải vật chất phục vụ cuộc
sống đồng thời quá trình đó cũng làm con người tích lũy ngày càng nhiều hơn những tri thức về
thế giới bên ngoài. Như vậy để quá trình ý thức diễn ra một cách năng động, tích cực chủ thể cần
phải tăng cường hoạt động thực tiễn của mình.
Cũng trong quá trình lao động ở con người đã xuất hiện nhu cầu phải trao đổi kinh nghiệm, tư
tưởng, tình cảm cho nhau. Từ đó dẫn đến sự ra đời của ngôn ngữ. Ngôn ngữ chính là một hệ
thống tín hiệu vật chất mang nội dung ý thức; Nó vừa là phương tiện giao tiếp đồng thời là công
cụ của tư duy. Nhờ có nó mà con người có thể phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa,
11
tức là tiến hành ý thức về sự vật. Mặt khác, nhờ ngôn ngữ mà tri thức của loài người được gìn
giữ, chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác và qua đó ý thức của loài người là một quá trình
liên tục, không đứt quãng và ngày càng phát triển. Rõ ràng, ý thức không phải là một hiện tượng
mang tính chất cá nhân mà là một hiện tượng mang tính xã hội và chỉ nảy nở khi con người sống
trong môi trường XH. Không có ngôn ngữ thì không thể phát triển ý thức. Anghen đã nhận đònh :
“Trước hết là lao động, sau lao động và đồng thời với lao động là ngôn ngữ, đó là 2 kích thích tố
chủ yếu để làm xuất hiện và phát triển ý thức”.
Tóm lại, để ý tức ra đời, hình thành và phát triển thì những tiền đề, nguồn gốc tự nhiên là rất
quan trọng và không thể thiếu được nhưng là chưa đủ, nguồn gốc trực tiếp và quan trọng nhất
của sự hình thành nên ý thức là lao động sản xuất, là môi trường xã hội trong đó con người đang
sinh sống và hoạt động. Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc con người thông
qua lao động, ngôn ngữ và các quan hệ xã hội, nó là sản phẩm xã hội và là một hiện tượng xã
hội.
b) Bản chất của ý thức :
Ý thức là sự phản ánh của hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người một cách năng
12
Trước Mac các trường phái triết học cũng lý giải mối quan hệ giữa vật chất và ý thức nhưng
hoặc là duy tâm phản động hoặc là duy vật siêu hình…Đến triết học Mac, mối quan hệ VC-YT
được lý giải khoa học và đầy đủ.
Thứ nhất là đònh nghóa vật chất. Đònh nghóa phạm trù vật chất của Lênin được diễn đạt như
sau:” Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con
người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không
lệ thuộc vào cảm giác”. Như vậy đònh nghóa vật chất của Lênin bao gồm những nội dung cơ bản
sau:
- Vật chất là cái tồn tại khách quan bên ngoài ý thức và không phụ thuộc vào ý thức.
- Vật chất là cái gây nên cảm giác ở con người khi bằng cách nào đó (trực tiếp hoặc gián tiếp)
tác động lên các giác quan của con người.
-Vật chất -cái mà cảm giác, tư duy, ý thức chẳng qua là sự phản ánh của nó.
Không phải mọi hiện tượng vật chất tác động lên giác quan của con người đều được con người
nhận biết một cách trực tiếp, với đònh nghóa này Lênin khẳng đònh thuộc tính chung nhất của vật
chất là sự tồn tại khách quan ở bên ngoài ý thức. Tất cả những gì tồn tại bên ngoài và không phụ
thuộc vào ý thức (con người và loài người) đều thuộc phạm trù vật chất.
Thứ hai là đònh nghóa về ý thức của chủ nghóa duy vật Mác xít. Chủ nghóa duy vật Mác xít
đònh nghóa về ý thức như sau:” Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc
người một cách năng động, sáng tạo”
Như vậy, điểm xuất phát để hiểu bản chất của ý thức là phải thừa nhận ý thức là sự phản ánh,
là cái phản ánh, còn vật chất là cái được phản ánh. Ý thức không phải là bản sao giản đơn, thụ
động , máy móc của sự vật. Ý thức là của con người, mà con người là một thực thể năng động,
sáng tạo. Ý thức phản ánh thế giới khách quan trong quá trình con người tác động cải tạo thế
giới. Do đó, ý thức con người là sự phản ánh năng động, sáng tạo. Như vậy ý thức là hình ảnh
chủ quan của thế giới khách quan.
Tính sáng tạo của ý thức được thể hiện ra rất phong phú. Trên cơ sở những cái đã có, ý thức
có thể tạo ra tri thức mới về sự vật, có thể tưởng tượng ra cái không có trong thực tế. Ngoài ra ý
thức còn có thể tiên đoán, dự báo tương lai…
Triết học Mác-Lênin trên cơ sở tiếp thu, kế thừa những tư tưởng triết học duy vật đã có trong
thứ hai, vật chất bao giờ cũng quyết đònh ý thức.
b) Trong khi nhấn mạnh vật chất quyết đònh ý thức thì triết học Mác-Lênin đồng thời cũng
khẳng đònh ý thức cũng có tác động mạnh mẽ trở lại đối với vật chất, thể hiện :
- Sau khi được hình thành thì ý thức có tính độc lập tương đối của mình và nó tác động trở lại
đối với thế giới vật chất theo cả hai chiều hướng :
+ Những ý thức đúng đắn, khoa học và cách mạng phản ánh đúng bản chất, quy luật vận động
của thế giới vật chất sẽ có tác động tích cực thúc đẩy sự vận động, phát triển của thế giới vật
chất.
+Những ý thức, tư tưởng phản khoa học, phản ánh xuyên tạc bản chất, quy luật vận động thế
giới khách quan sẽ có tác động tiêu cực, kìm hãm sự phát triển của thế giới vật chất.
Chú ý:
Sự tác động của ý thức đối với vật chất bao giờ cũng phải thông qua hoạt động thực tiễn của
con người. Còn bản thân ý thức tự nó không trực tiếp làm thay đổi được gì trong hiện thực. Vì
vậy nói tới vai trò của ý thức về thực chất là nói đến vai trò của con người, ý thức chỉ đạo hành
động của con người hình thành mục tiêu kế hoạch, biện pháp cho hoạt động của con người. Bác
Hồ từng nói: “chủ trương 1, biện pháp 10, thực hiện 20”
Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất bao giờ cũng diễn ra trên cơ sở vật chất là tính
thứ nhất, ý thức là tính thứ hai. Trong bất kỳ trường hợp nào ý thức cũng chỉ là sự phản ánh thế
giới vật chất và sáng tạo của ý thức là sự sáng tạo của phản ánh và sáng tạo trong khuôn khổ của
sự phản ánh.
c)Ý nghóa phương pháp luận:
- Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng thực
tế khách quan và lấy nó làm căn cứ, cơ sở cho việc hoạch đònh mọi chủ trương, chính sách.
Lênin đã nhấn mạnh:” Không được lấy ý muốn chủ quan của mình là chính sách, không được
lấy tình cảm làm điểm xuất phát cho chiến lược và sách lược của cách mạng. Nếu chỉ xuất phát
từ ý muốn chủ quan, lấy ý chí áp đặt cho thực tế, lấy ảo tưởng thay cho hiện thực thì sẽ mắc bệnh
chủ quan duy ý chí”.
Thực tế ở Việt Nam trước thời lỳ đổi mới chúng ta cũng phạm phải sai lầm chủ quan duy ý
chí. Tại Đại hội Đảng CSVN đã rút ra bài học:” Đảng đã phạm phải sai lầm duy ý chí, vi phạm
quy luật khách quan” và Đại hội VII rút ra bài học:” Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải
chúng tồn tại không phải trong một trạng thái biệt lập tách rời tuyệt đối với các sự vật khác.
Trong hiện thực khách quan không có sự vật, hiện tượng nào cô lập, không nhận tác động và
không tác động đến sự vật khác. Ngược lại, các sự vật vừa tách biệt nhau vừa phụ thuộc nhau, đó
chính là hai mặt của một quá trình tồn tại, vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng.
ngen đã khẳng đònh:” Tất cả thế giới mà chúng ta có thể nghiên cứu được là một hệ thống,
một tập hợp gồm các tập thể khăng khít với nhau, việc các vật thể ấy đều có mối liên hệ qua lại
với nhau đã có nghóa là các vật thể này tác động lẫn nhau và sự tác động qua lại ấy chính là sự
vận động”.
+ Nếu xét về mặt cấu tạo, cấu trúc bên trong của mỗi sự vật, hiện tượng : các yếu tố, các bộ
phận cấu thành nên một sự vật nào đó đều tồn tại trong một tổ chức nhất đònh, đều được sắp xếp
theo một trật tự nhất đònh. Các bộ phận đó không thể tồn tại trong một trạng thái hỗn độn hoặc
hoàn toàn tách rời nhau không có liên hệ với nhau. Giữa các bộ phận, các yếu tố đó có mối liên
hệ, trong đó mỗi bộ phận, mỗi yếu tố vừa đảm trách phần việc của mình vừa tạo điều kiện cho
những bộ phận khác. Do vậy, sự biến đổi của một bộ phận nào đó trong cấu trúc của sự vật sẽ
gây ảnh hưởng đến những bộ phận khác cũng như đối với toàn bộ chỉnh thể sự vật.
+ Nếu xét về mặt thời gian: mỗi một sự vật, hiện tượng nói riêng và cả thế giới nói chung
trong quá trình tồn tại, phát triển của mình đều phải trải qua những giai đoạn, những thời kỳ khác
15
nhau, thể hiện rõ nhất là giai đoạn phát sinh, giai đoạn phát triển, giai đoạn suy tàn và giai đoạn
chuyển hóa thành cái khác. Các giai đoạn, các thời kỳ đó có mối liên hệ không tách rời nhau mà
làm tiền đề cho nhau, sự kết thúc của giai đoạn này lại là điểm mở đầu cho giai đoạn tiếp sau.
Như vậy giữa quá khứ, hiện tại và tương lai có mối liên hệ với nhau. có sự chuẩn bò cho nhau.
- Mối liên hệ phổ biến giữa các sự vật, hiện tượng được thể hiện rất phong phú, rất đa dạng.
Khi nghiên cứu về hiện thực khách quan có thể phân chia chúng ra thành từng loại khác nhau tùy
theo tính chất phức tạp hay đơn giản, phạm vi rộng hay hẹp, trình độ nông hay sâu…. Khái quát
lại có những mối liên hệ chính phổ biến sau đây:
+Mối liên hệ bên trong và liên hệ bên ngoài.
+Mối liên hệ chủ yếu và thứ yếu.
+Mối liên hệ chung và riêng.
+Mối liên hệ trực tiếp và gián tiếp.
khác.
Trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam, Đảng CSVN xác đònh: đổi mới toàn diện, mọi mặt đời
sống XH trong đó trọng tâm là đổi mới kinh tế.
16
Tại Đại hội Đảng lầ thứ VIII, Đảng CSVN đã khẳng đònh:” Xét trên tổng thể Đảng ta đã bắt
đầu công cuộc đổi mới từ đổi mới về tư duy chính trò trong việc hoạch đònh đường lối đối nội và
đối ngoại, không có sự đối nội đó thì không có mọi sự đổi mới khác. Song Đảng ta đã đúng khi
tập trung trước hết và việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đổi mới kinh tế, khắc phục khủng hoảng
kinh tế- XH, tạo tiền đề cần thiết về vật chất và tinh thần để giữ vững ổn đònh chính trò, xây
dựng và củng cố niềm tin của nhân dân, tạo điều kiện để đổi mới các mặt khác của đời sống
XH”.
Câu 9 :Nguyên lý về sự phát triển và ý nghóa phương pháp luận
1) Nội dung nguyên lý:
*Khái niệm : Phát triển là một phạm trù của phép biện chứng duy vật dùng để khái quát quá
trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn
thiện hơn.
- Phát triển là một trường hợp đặc biệt của vận động, không phải mọi sự vận động đều là phát
triển mà chỉ có quá trình vận động nào làm nảy sinh những tính quy đònh mới cao hơn về chất,
qua đó làm tăng cường tính phức tạp của sự vật, làm cho cơ cấu tổ chức, phương thức tồn tại của
sự vật cùng những chức năng vốn có của nó ngày càng hoàn thiện hơn mới gọi là phát triển.
- Trong hiện thực khách quan, sự phát triển được thực hiện khác nhau tùy thuộc vào hình thức
tồn tại cụ thể của các dạng vật chất. Đối với giới hữu cơ sự phát triển thể hiện ở khả năng thích
nghi của cơ thể, khả năng tiến hóa của cơ thể, khả năng ngày càng hoàn thiện, quá trình trao đổi
chất giữa cơ thể với môi trường.
Đối với XH, sự phát triển thể hiện ở năng lực chinh phục giới tự nhiên cải tạo XH, nâng cao
đời sống mọi mặt của con người, mức độ, trình độ giải phóng con người, những điều kiện để con
người phát triển toàn diện những phẩm chất, năng lực vốn có của mình.
Đối với tư duy, sự phát triển thể hiện ở khả năng nhận thức ngày càng sâu sắc hơn, đầy đủ
hơn, chính xác hơn đối với thế giới xung quanh và XH.
- Sự phát triển được thực hiện theo con đường quanh co phức tạp, trong đó có thể bao hàm cả
phải xây dựng quan điểm vận động và phát triển, khắc phục tư tưởng bảo thủ trì trệ. Yêu cầu cơ
bản của quan điểm đó là : khi xem xét sự vật hiện tượng phải đặt nó trong trạng thái vận động và
phát triển. Lênin đã khẳng đònh:” Lôgic biện chứng đòi hỏi phải xem xét sự vật trong sự phát
triển, trong sự tự vận động, trong sự biến đổi của nó”.
- Nghiên cứu sự vật, hiện tượng không chỉ với tư cách là cái đang tồn tại mà cần phải nắm
được khuynh hướng phát triển trong tương lai của nó, dự báo sự xuất hiện của nhân tố mới, cái
mới, chuẩn bò những điều kiện thuận lợi cho sự ra đời của cái mới.
- Cần có thái độ lạc quan, tin tưởng vào sự chiến thắng tất yếu của cái mới đồng thời phải có
nhận thức rõ quá trình phát triển là quá trình biện chứng đầy mâu thuẫn. Chiến thắng của cái
mới đối với cái cũ là rất khó khăn, phức tạp thậm chí còn có những thất bại tạm thời.
- Để có một sự phát triển trong hiện thực cần có quá trình tích lũy về lượng, một sự chuẩn bò
cho những bước nhảy vọt nhằm thay đổi về chất qua những lần phủ đònh. Mặt khác, cần biết phát
hiện ra mâu thuẫn và tổ chức để các mâu thuẫn đó được giải quyết.
- Cần đấu tranh khắc phục và chống lại mọi biểu hiện của trì trệ, bảo thủ, không dám đổi mới
để phát triển đồng thời phải chống thái độ nóng vội, chủ quan muốn đốt cháy giai đoạn.
-N/C mối liên hệ phổ biến và sự phát triển đòi hỏi phải xây dựng và quán triệt quan điểm lòch
sử- cụ thể trong hoạt động nhận thức và thực tiễn với một số yêu cầu sau:
+Khi nhận thức và tác động vào sự vật cần chú ý đến điều kiện hoàn cảnh cụ thể, môi trường
cụ thể trong đó sự vật sinh ra, tồn tại và phát triển.
+Đối với mỗi SVHT hay vấn đề cụ thể khác nhau, cần có những biện pháp, giải pháp khác
nhau để giải quyết chúng một cách khác nhau.
+trong mỗi thời kỳ lòch sử khác nhau, điều kiện hoàn cảnh đã thay đổi thì phải kòp thời điều
chỉnh, bổ sung biện pháp, giải pháp cho phù hợp.
+Cần nhận thức sâu sắc bản chất và linh hồn sống của chủ nghóa Mác đó là: “Phân tích cụ thể
mỗi tình hình cụ thể để đề ra chủ trương chính sách cụ thể cho mỗi lónh vực, mỗi vấn đề cụ thể”
từ đó vận dụng vào công tác của bản thân.
Câu 10: Thế nào là sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập ? Liên hệ với cuộc đấu
tranh chống tiêu cực và vai trò của người thi hành pháp luật ?
a)Vò trí, ý nghóa của quy luật:
- Đây là một trong 3 quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật.
Nội dung
-Đấu tranh giữa các mặt đối lập là sự tác động qua lại theo xu hướng bài trừ và phủ đònh lẫn
nhau giữa các mặt đó.
Đấu tranh giữa các mặt đối lập diễn ra dưới nhiều hình thức đa dạng tùy thuộc vào tính chất
của các mặt đối lập cũng như mối quan hệ qua lại giữa chúng, phụ thuộc vào lónh vực tồn tại của
các mặt đối lập, vào điều kiện mà trong đó diễn ra cuộc đấu tranh giữa chúng, phụ htuộc vào
môi trường, điều kiện trong đó diễn ra cuộc đấu tranh. Vì vậy, không nên hiểu đơn giản đấu
tranh chỉ còn là sự thủ tiêu lẫn nhau. Thực ra sự thủ tiêu lẫn nhau chỉ là một trong nhiều hình
thức đấu tranh, chẳng hạn như sự ảnh hưởng làm biến đổi lẫn nhau, cải tạo nhau, chế ước, thúc
đẩy và chuyển hóa cho nhau.
- Mối quan hệ giữa thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập:
Sự thống nhất có quan hệ hữu cơ với trạng thái đứng im, ổn đònh tạm thời của sự vật; còn sự
đấu tranh có quan hệ gắn bó với trạng thái vận động, phát triển của sự vật. Do đó, sự thống nhất
của các mặt đối lập là tương đối, tạm thời, thoáng qua, có điều kiện, còn đấu tranh giữa chúng
mới là tuyệt đối, cũng như sự vận động, phát triển là tuyệt đối Lênin đã từng khẳng đònh : “Sự
thống nhất của các mặt đối lập là có điều kiện tạm thời, thoáng qua, tương đối, sự đấu tranh giữa
các mặt đối lập bài trừ lẫn nhau là tuyệt đối cũng như sự phát triển, sự vận động là tuyệt đối”
Thống nhất của các mặt đối lập tạo nên mâu thuẫn biện chứng ở trong sự vật và làm cho sự
vật đó có một sự ổn đònh tương đối nhất đònh, đó chính là điều kiện cho đấu tranh, là môi trường
thuận lợi để triển khai cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập. Như vậy thống nhất làm cho sự vật là
19
chính nó, phân biệt nó với sự vật khác, còn đấu tranh làm cho sự vật dần biến đổi, chuyển hoá
thành cái khác.
Bản thân các mặt đối lập đã chứa đựng trong nó những đặc điểm, những tính chất có khuynh
hướng vận động trái chiều nhau. Do đó, sự cân bằng hay sự tác động ngang bằng nhau giữa
chúng chỉ là tạm thời trong điều kiện, thời điểm nhất đònh. Khi hai mặt đó xung đột với nhau gay
gắt mâu thuẫn giữa chúng trở nên căng thẳng thì nhất đònh đến lúc nào đó chúng sẽ chuyển hóa
cho nhau. Kết quả là sự thống nhất cũ bò phá hủy, mâu thuẫn cũ được giải quyết, sự thống nhất
mới được thiết lập cùng mâu thuẫn mới và cuộc đấu tranh giữa hai mặt đối lập lại tiếp tục diễn
ra.
trên từng lónh vực. Từ đó tìm ra phương thức, biện pháp, phương tiện bố trí lực lượng giải quyết
mâu thuẫn và cần linh hoạt trong việc sử dụng, kết hợp đồng bộ các biện pháp để giải quyết mâu
thuẫn, từ giáo dục thuyết phục, cảm hóa đến trừng phạt cưỡng bức; từ hành chính đến pháp luật.
*Vai trò của người cán bộ công an: (tự nghiên cứu)
20
Câu 11: Mâu thuẫn là gì? Nêu các loại mâu thuẫn. Vận dụng lý luận này để phân tích mâu
thuẫn cơ bản trên thế giới và ở nước ta hiện nay. Phương thức giải quyết mâu thuẫn ở Việt Nam.
1/ Mâu thuẫn là gì?
Mâu thuẫn là một phạm trù của phép biện chứng duy vật dùng để chỉ sự thống nhất và đấu
tranh của hai mặt đối lập trong một chỉnh thể tạo thành sự vật, hiện tượng.
Mâu thuẫn là một hiện tượng khách quan và phổ biến, nó tồn tại trong tất cả các sự vật từ
phát sinh, phát triển đến chuyển hóa của sự vật, hiện tượng, thuộc tất cả các lónh vực từ tự nhiên
đến xã hội đến tư duy. Tuy nhiên, ở mỗi sự vật khác nhau, mỗi lónh vực khác nhau, mỗi giai đoạn
khác nhau thì mâu thuẫn thể hiện dưới những hình thức khác nhau. Tính đa dạng, phong phú của
mâu thuẫn được quy đònh một cách khách quan bởi đặc điểm của các mặt đối lập, bởi điều kiện
mà trong đó diễn ra sự tác động qua lại giữa các mặt đối lập được triển khai bởi trình độ tổ chức
của hệ thống vật chất mà trong đó mâu thuẫn tồn tại.
2/ Các loại mâu thuẫn:
Tùy theo góc độ nghiên cứu, đánh giá thì mâu thuẫn được phân chia thành những dạng chính
sau đây:
a/ Nếu căn cứ vào quan hệ giữa các mặt đối lập đối với một sự vật thì mâu thuẫn được chia
thành hai loại: mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài.
- Mâu thuẫn bên trong: là sự tác động qua lại giữa các mặt, các khuynh hướng đối lập trong
cùng một sự vật.
- Mâu thuẫn bên ngoài: là sự tác động qua lại giữa sự vật này với sự vật khác.
Thực ra sự phân chia mâu thuẫn bên trong, mâu thuẫn bên ngoài chỉ là tương đối tùy thuộc
vào phạm vi xem xét cụ thể. Cùng trong một mâu thuẫn thì trong phạm vi này là mâu thuẫn bên
trong , nhưng trong một phạm vi khác lại trở thành mâu thuẫn bên ngoài. (Chẳng hạn xem xét ở
Việt Nam thì mâu thuẫn trong nước là mâu thuẫn bên trong; nhưng đặt Việt Nam trong phạm vi
với TG thì mâu thuẫn đó là mâu thuẫn bên ngoài).
d/ Nếu căn cứ vào tính chất của các quan hệ lợi ích trong xã hội thì các mâu thuẫn xh được
chia thành 2 loại: mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng.
- Mâu thuẫn đối kháng: là mâu thuẫn giữa những giai cấp, những tập đoàn người, những xu
hướng xh có lợi ích cơ bản đối lập nhau (như mâu thuẫn giữa đòa chủ với nông dân, giữa tư sản
với công nhân).
- Mâu thuẫn không đối kháng: là mâu thuẫn giữa những lực lượng, những khuynh hướng xh có
lợi ích cơ bản là thống nhất với nhau, chỉ đối lập về những lợi ích không cơ bản, cục bộ, tạm thời
( lao động trí óc - lao động chân tay, lao động nông thôn – thành thò, công nhân và nông dân ); vì
vậy có chính sách giải quyết để kéo xích lại gần nhau với khoảng cách giữa các lực lượng. Nếu
không có chính sách phù hợp thì sẽ biến thành mâu thuẫn đối kháng ( Điều này cần hết sức tránh
)
( Ví dụ : Sự kiện ở Thái Bình và sự kiện ở Tây nguyên. Ở Thái Bình : mâu thuẫn không đối
kháng nên không sử dụng quân đội. Ở Tây nguyên : mâu thuẫn đối kháng nên sử dụng lực lượng
quân đội).
Cần chú ý 2 mâu thuẫn này chỉ xuất hiện trong thế giới loài người kể từ khi có sự phân chia
giai cấp. Và việc xác đònh rõ mâu thuẫn trong xã hội là cực kỳ quan trọng trong việc lựa chọn
những biện pháp, phương pháp khác nhau để giải quyết mâu thuẫn đó.
3/ Mâu thuẫn cơ bản trên thế giới và ở nước ta hiện nay:
a/ Trên thế giới hiện có 4 mâu thuẫn sau:
- Mâu thuẫn giữa CNXH và CNTB: đây là mâu thuẫn cơ bản bao trùm và xuyên suốt thời đại
quá độ lên CNXH trên phạm vi TG, được mở đầu bằng thắng lợi của cuộc cách mạng tháng
Mười Nga.
- Mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản với giai cấp công nhân và các tầng lớp lao động khác. Mâu
thuẫn này tồn tại ở trong lòng tất cả các nước tư bản (mâu thuẫn bên trong).
- Mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc đòa và phụ thuộc với chủ nghóa thực dân và chủ nghóa đế
quốc. Hiện nay, mâu thuẫn này đang dần chuyển thành mâu thuẫn giữa các nước chậm phát triển
với các nước đế quốc phát triển.
- Mâu thuẫn giữa các nước TBCN, các nước Đế quốc với nhau. Đây là mâu thuẫn bên trong
của CNTB trong việc giành giật thò trường.
* Tại Đại hội IX Đảng ta đã xác đònh: “Các mâu thuẫn cơ bản trên thế giới biểu hiện dưới
- Mâu thuẫn giữa hai khuynh hướng, hai con đường XHCN và TBCN. Mâu thuẫn này phát
sinh từ hai mặt, hai khuynh hướng đối lập : Một mặt từ quá trình cải tạo xây dựng CNXH trên
các mặt kinh tế, chính trò, văn hoá tạo thành khuynh hướng XHCN. Mặt khác bắt nguồn từ nền
sản xuất nhỏ, từ nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thò trường làm nảy sinh
những nhân tố đôí lập, khuynh hướng tự phát đi lên tư bản.
- Loại mâu thuẩn giữa mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH với các thế lực cản trở con đường
phát triển của nước ta theo mục tiêu đó ( thế lực thù đich trong và ngoài nước, vấn đề tội phạm
tề nan tham nhũng-thế giới xét Việt Nam là một trong số các nước có nạn tham nhũng nặng
nhất).
- Loại mâu thuẩn giữa mặt nhân tố chủ quan và khách quan trong quá trình đi lên CNXH.
Loại mâu thuẩn này xuất từ yêu cầu nhận thức những quy luật những điều kiện khả năng khách
quan với một bên là trình độ năng lực, nhận thức và hoạt động thực tiễn của đảng, của nhà nước
trong quá trình lãnh đạo Loại mâu thuẫn này thể hiện trong tư tưởng, lý luận, tổ chức, lãnh đạo
chỉ đạo của nhà nước.
4/ Hình thức giải quyết mâu thuẫn ở Việt Nam :
Trong cuộc đấu tranh giai cấp ở Việt Nam có thể và cần thiết sử dụng kết hợp linh hoạt các
hình thức đấu tranh, kết hợp đối đầu và đối thoại hợp tác và cạnh tranh, mềm dẻo về sách lược,
cứng rắn lập trường về chính trò và quân sự, kinh tế và ngoại giao, bỏ qua và kế thừa
23
Câu 12 : Quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng và thay đổi về chất . Ý nghóa
phương pháp luận của quy luật này
a) Quy luật những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại.
Đây là một trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật nói lên cách thức của sự
vận động và phát triển thông qua sự tác động qua lại giữa chất và lượng của sự vật.
- Chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy đònh khách quan vốn có của sự vật, hiện
tượng, là sự thống nhất hữu cơ của các thuộc tính của sự vật làm cho sự vật nào đó là nó mà
không phải là cái khác.
+ Mỗi một sự vật có nhiều thuộc tính và mỗi một thuộc tính lại có đặc trưng riêng của mình.
Vì vậy mỗi một thuộc tính lại trở thành một chất và như thế sự vật không phải chỉ có một chất
mà là có nhiều chất. Tuy nhiên, ở trong mỗi sự vật có những thuộc tính cơ bản và những thuộc
này không tồn tại mãi mãi. So với chất, lượng thường xuyên biến đổi, quá trình này diễn ra một
cách tiệm tiến theo cách thức tăng dần hay giảm dần. Khi sự thay đổi đó đạt đến 1 giới hạn, 1
trình độ nhất đònh thì sẽ làm cho chất thay đổi. Điểm giới hạn cuối cùng của sự thống nhất giữa
chất và lượng là điểm nút.
24
Điểm nút là một phạm trù triết học dùng để chỉ thời điểm mà tại đó sự thay đổi về lượng đã
đủ làm thay đổi vể chất của sự vật. Chất của sự vật được thay đổi do lượng của nó đã đạt đến
giới hạn điểm nút và sự thay đổi về chất được thực hiện thông qua những bước nhảy.
Bước nhảy là một phạm trù triết học dùng để sự chuyển hóa về chất của sự vật do những thay
đổi về lượng từ trước đó gây ra. Bất kỳ một sự thay đổi nào về chất cũng đều thực hiện thông
qua bước nhảy, đó là sự đứt đoạn trong tính liên tục, sự nhảy vọt trong tiệm tiến, trong xã hội đó
là là cuộc CM trong quá trình tiến hoá. Đó là sự cần thiết của sự phát triển, là tiền đề của sự liên
tục và sự liên tục chỉ là những kế tiếp của hàng loạt gián đoạn. Lênin đã chỉ rõ:” Tính tiệm tiến
mà không có bước nhảy vọt thì không giải thích được gì cả”.
Sự thay đổi về chất của sự vật diễn ra hết sức đa dạng với nhiều hình thức bước nhảy khác
nhau tuỳ thuộc vào tính chất của bản thân sự vật, những mâu thuẫn vốn có trong bản thân nó và
tùy thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh mà ở đó bước nhảy được thực hiện.
Triết học ML khái quát và đưa ra những hình thức chủ yếu sau đây của bước nhảy :
- Nếu dựa trên nhòp điệu thực hiện bước nhảy của bản thân sự vật thì có thể phân chia bước
nhảy thành bước nhảy đột biến và bước nhảy dần dần.
Bước nhảy đột biến là bước nhảy được thực hiện trong thời gian ngắn làm thay đổi chất của
toàn bộ kết cấu cơ bản của sự vật.
Bước nhảy dần dần là bước nhảy được thực hiện từng bước bằng cách tích luỹ dần những
nhân tố của chất mới và loại bỏ dần những nhân tố của chất cũ.
- Nếu căn cứ vào quy mô thực hiện bước nhảy có thể phân chia thành bước nhảy toàn bộ và
bước nhảy cục bộ.
Bước nhảy toàn bộ là loại bước nhảy làm thay đổi về chất ở tất cả các mặt, các yếu tố cấu
thành sự vật.
Bước nhảy cục bộ là loại bước nhảy là thay đổi chất của những mặt, những yếu tố riêng lẻ
của sự vật.