KHÁI QUÁT ĐỊA LÝ TỈNH HÀ GIANGNếu các bạn tìm trong Wikipedia, google, cổng - Pdf 19

KHÁI QUÁT ĐỊA LÝ TỈNH HÀ GIANG Nếu các bạn tìm trong Wikipedia, google, cổng thông tin điện tử Hà
Giang sẽ thấy nhưng rất chung chung, nay mình xin được dùng chút kiến
thức chuyên môn biên tập thêm cho các bạn cùng tìm hiểu, cảm ơn đã
dành thời gian đọc bài này.
Thân ái!

I. KHÁI QUÁT CHUNG

Lịch sử

Tỉnh Hà Giang được thành lập ngày 20/8/1891 và tái thành lập ngày
1/10/1991. Vị trí địa lý: Là tỉnh miền núi cao, nằm ở cực Bắc của tổ
quốc, phía bắc giáp với tỉnh Vân Nam và Quảng Tây – Trung Quốc với
đường biên giới dài 274km. Phía nam giáp tỉnh Tuyên Quang, phía
Đông giáp Cao Bằng, phía tây giáp Yên Bái và Lào Cai. Diện tích tự
nhiên là 7.884,37km2 Đất Hà Giang xưa thuộc bộ Tân Hưng, một trong 15 bộ của nước Văn
Lang. Về sau, Hà Giang nằm trong phạm vi thế lực của ba Tộc tướng xứ
Thái. Trong giai đoạn Minh thuộc đầu thế kỷ 15, được gọi là huyện Bình
Nguyên, đổi thành châu Bình Nguyên từ năm 1473, sau lại đổi tên thành
châu Vị Xuyên.

Vào cuối thế kỷ 17, tộc trưởng người Thái dâng đất cho Trung Hoa, đến
năm 1728, Trung Hoa trả lại cho Đại Việt một phần đất từ vùng mỏ Tụ
Long đến sông Lô. Năm 1895, ranh giới Hà Giang được ấn định lại như
trên bản đồ ngày nay.

trấn thành tỉnh, đổi một số châu thành huyện và sách động thành xã. Từ
lúc này trấn Tuyên Quang mới được gọi là tỉnh Tuyên Quang. Năm
1842 thì chia tỉnh Tuyên Quang thành 3 hạt bao gồm Hà Giang, Bắc
Quang và Tuyên Quang

Tuy địa danh Hà Giang được nhắc đến lần đầu tiên trong bài minh khắc
trên chuông chùa Sùng Khánh xã Đạo Đức – Vị Xuyên đúc trong dịp
trùng tu chùa từ đầu thời vua Lê Dụ Tông (năm 1705) nhưng t?nh Hà
Giang thì mới có vào ngày 20/8/1891 với quy?t định của toàn quyền
éông Dương Đờ Lanétxăng. Theo quyết định này, Hà Giang lúc đó gồm
có phủ Tường Yên và huyện Vĩnh Tuy. Năm 1928, theo tài liệu của Ngô
Vi Liễn, Hà Giang có hai châu (Bắc quang, Vị Xuyên), 2 đại lý (Đồng
Văn, Hoầng Su Phì) với 13 tổng và 80 xã.

Sau cách mạng tháng 8 - 1945, Hà Giang là một đơn vị hành chính cấp
tỉnh trong cơ cấu hành chính của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội khoá V, kỳ họp thứ hai, ngày 27-
12-1975, hai tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang được hợp nhất thành tỉnh
Hà Tuyên vào đầu tháng 4-1976. Sau đó, đến ngày 12-8-1991, tại kỳ họp
thứ 9, Quốc hội khoá VIII đã ra nghị quyết chia tỉnh Hà Tuyên thành Hà
Giang và Tuyên Quang. Tỉnh Hà Giang được tái lập từ đó và giữ nguyên
địa danh cho đến nay. Hiện tại Hà Giang có 11 huyện thị bao gồm: thị xã
Hà Giang, các huyện Bắc Mê, Bắc Quang, Đồng Văn, Hoàng Su Phì,
Quản Bạ, Quang Bình, Vị Xuyên, Xín Mần, và Yên Minh, với 195 xã
phường thị trấn.
Đơn vị hành chính

Tỉnh Hà Giang bao gồm 1 thành phố và 10 huyện:
Thành phố Hà Giang 5 phường và 3 xã

Với diện tích 7.884,37 km2. phía bắc và tây bắc giáp nước Cộng hoà
Nhân dân Trung Hoa, có đường biên giới dài 274 km; phía đông giáp
tỉnh Cao Bằng; phía tây giáp tỉnh Lào Cai, Yên Bái; phía nam giáp tỉnh
Tuyên Quang. Tại điểm cực bắc Lũng Cú của lãnh thổ thuộc tỉnh Hà
Giang có vĩ độ 23015’00”, điểm cực nam có vĩ độ 2101’0”. Điểm cực
tây tại Xín Mần có kinh độ 104024'05 và mỏm cực đông tại Mèo Vạc có
kinh độ l05030’04”.

Bao đời nay, Hà Giang luôn là phên giậu phía bắc của Tổ quốc. Trong
tiến trình của lịch sử, vùng đất Hà Giang đã qua nhiều lần thay đổi về
cương vực và tên gọi. Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Hà
Giang có 4 châu và 1 thị xã (Bắc Quang, Vị Xuyên, Đồng Văn, Hoàng
Su Phì, Thị xã Hà Giang). Ngày nay, Hà Giang có 10 huyện thị; với 22
dân tộc anh em cùng sinh sống.

2. Điều kiện tự nhiên

Địa hình

Do cấu tạo địa hình phức tạp, thiên nhiên tạo ra và ưu đãi cho Hà Giang
một nguồn tiềm năng to lớn về khí hậu, đất đai, tài nguyên và khoáng
sản Từ những đặc điểm khí hậu, thổ nhưỡng, địa hình Hà Giang được
chia thành ba vùng với những điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội khác
biệt, mỗi vùng có tiềm năng và thế mạnh riêng đó là:

- Vùng I: Là vùng cao núi đá phía Bắc gồm 4 huyện: Đồng Văn, Mèo
Vạc, Yên Minh và Quản Bạ. Diện tích toàn vùng là 2.352,7 Km2, dân số
trên 20 vạn người chiếm xấp xỉ 34,3% dân số toàn tỉnh. Do điều kiện khí
hậu rét đậm về mùa đông, mát mẻ về mùa hè nên rất thích hợp với việc
phát triển các loại cây ôn đới như cây dược liệu thảo quả, đỗ trọng; Cây

Khí hậu: mang đặc điểm nhiệt đới gió mùa vùng cao, mang nhiều sắc
thái khí hậu ôn đới.
Là tỉnh miền núi cao nên khí hậu mang tính chất nhiệt đới gió mùa, lạnh
rõ rệt so với vùng thấp và trung du kế cận. Về nhiệt độ, tháng nóng nhất
(tháng 6 và 7), nhiệt độ trung bình năm 1999 là 28,10C (trạm Hà Giang),
28,30C (trạm Bắc Quang), 27,350C (trạm Bắc Mê). Nhiệt độ tháng thấp
nhất (tháng l): 15,60C (trạm Hoàng Su Phì). Dao động nhiệt ngày và
đêm ở các thung lũng diễn ra mạnh mẽ hơn vùng đồng bằng.

Chế độ mưa ở đây nhìn chung khá phong phú. Lượng mưa hàng năm đạt
2.860 mm. Bắc Quang là nơi có lượng mưa nhiều nhất, có khi vượt quá
mức 4000 mm và số ngày mưa cũng đạt tới 180 đến 200 ngày/năm.

Hà Giang là một trong những vùng có độ ẩm cao và duy trì hầu như các
mùa trong năm. Lượng mây trung bình khoảng 7,5/10, tập trung cao
nhất là cuối mùa đông lên tới 8 – 9/10 và tương đối ít nắng. Cả năm có
l.427 giờ nắng, tháng nhiều nhất chỉ đạt 181 giờ, tháng ít nhất 74 giờ.

Nơi đây có hiện tượng mưa phùn, sương mù và sương muối. Nét nổi bật
của khí hậu Hà Giang là duy trì độ ấm trong năm cao, mưa nhiều và kéo
dài, nhiệt độ mát và lạnh, ấm hơn vùng đông bắc nhưng lạnh hơn miền
Tây bắc.

Do đặc trưng khí hậu đã tạo điều kiện tốt giúp cây trồng phát triển. Bên
cạnh những thuận lợi, về mùa đông và mùa xuân vùng cao có nơi có
sương muối, băng giá, gió lạnh, không có mưa gây thiếu nước, vào mùa
hè lại có những đợt mưa kéo dài gây lũ quét làm ảnh hưởng đến sản xuất
và đời sống.

Những thuận lợi và bất lợi về thời tiết, khí hậu trong tỉnh diễn ra có tính

vào kinh tế địa phương đồng thời cũng là tiềm năng để xây dựng những
khu bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học. Hà Giang được xếp vào hệ
thống các khu bảo tồn thiên nhiên điển hình của hệ rừng núi đá điển hình
của đông bắc Việt Nam.

Bên cạnh những thảm động thực vật phong phú ở những huyện vùng
thấp tạo nên dáng vẻ và cảnh quan hấp dẫn cho du khách khi mới lên tới
Hà Giang thì cảnh quan vùng cao ở Hà Giang cho đến nay vẫn mang
đậm nét hoang sơ, thuần khiết.

Đấy là một địa hình karst tiêu biểu với bạt ngàn những dãy núi đá tai
mèo nhấp nhô ở các huyện phía Bắc, hay những dãy núi đất hùng vĩ với
những thửa ruộng bậc thang nối tiếp nhau ở những huyện miền Tây và
cùng cả một hệ thống những thác nước, hang động đẹp không chỉ có giá
trị về cảnh quan mà còn chứa đựng những dấu ấn di tích lịch sử, khảo cổ
học.

Bên cạnh đó Hà Giang nổi tiếng được biết đến với những cổng trời cao
vời vợi mà đến đó ta có cảm giác như đang cưỡi mây cưỡi gió và thấy
minh thật nhở bé trước thiên nhiên hùng vĩ nơi đây. Tất cả đang chờ đợi
du khách khám phá khi đến với Hà Giang

3. Tài nguyên thiên nhiên

Tài nguyên đất

Bên cạnh đó thổ nhưỡng ở Hà Giang khá phong phú với 9 nhóm đất
chính, trong đó nhóm đất xám chiếm diện tích lớn nhất với 585.418 ha
(chiếm 74,28%) diện tích tự nhiên. Đấy là nhóm đất thích hợp để trồng
và phát triển các loại cây ăn quả cây công nghiệp và cây dược liệu.

Do đặc trưng khí hậu đã tạo điều kiện tốt giúp cây trồng phát triển. Bên
cạnh những thuận lợi, về mùa đông và mùa xuân vùng cao có nơi có
sương muối, băng giá, gió lạnh, không có mưa gây thiếu nước, vào mùa
hè lại có những đợt mưa kéo dài gây lũ quét làm ảnh hưởng đến sản xuất
và đời sống.

Những thuận lợi và bất lợi về thời tiết, khí hậu trong tỉnh diễn ra có tính
quy luật khách quan mà con người chưa đủ khả năng chế ngự để thay
đổi các điều kiện tự nhiên, chỉ có lợi dụng tối đa những thuận lợi và hạn
chế mức độ thiệt hại do điều kiện bất lợi để bố trí có hiệu quả kế hoạch
sản xuất và tổ chức tốt đời sống cho nhân dân trên địa bàn.

Những đặc điểm về địa hình và khí hậu khiến cho Hà Giang có các loại
rừng nhiệt đới. Sử sách ghi chép rằng, cho đến cuối thế kỷ XIX, trên đất
Hà Giang rừng rậm phủ kín mọi khu vực từ vùng thấp đến vùng cao.
Rừng có nhiều loại cây cho gỗ quý như đinh, lim, sến, táu, dược liệu
quý như Tam thất, Đỗ trọng, Xuyên khung, . nhiều loại cây cho củ,
cho quả, có thể nuôi sống con người, có loại cây cho nhựa làm chất gắn,
chất thắp sáng, làm chất nhuộm cùng với các loại tre, trúc, mây.

Các động vật quý hiếm như hổ, báo, sơn dương cùng nhiều loại chim
quý. Như vậy, rừng Hà Giang là cả một quần thể thực vật, động vật
phong phú. Song các loại rừng kể trên đến nay chỉ còn lại rất ít, được
phân bố không đều ở vùng cao, vùng xa dân cư, ở những nơi núi thấp
chỉ còn lại các vạt rừng tre, nứa, hoặc được bao phủ bởi lau, sậy, cỏ
tranh.

Cho đến nay, nhờ nhiều nỗ lực, diện tích rừng tự nhiên của tỉnh là
262.956,9 ha, rừng trồng 21579,7 ha góp phần đưa diện tích tự nhiên
được che phủ lên 36, 1%.

ha, rừng trồng 21579,7 ha góp phần đưa diện tích tự nhiên được che phủ
lên 36, 1%.

Diện tích đất trống đồi núi trọc có khả năng sản xuất nông lâm nghiệp
còn tới 326.887,3 ha. Kế hoạch và khả năng tái sinh rừng đang được
thực hiện tích cực, trồng mới 19.157 ha và 18,5 triệu cây phân tán, chú
trọng trồng cây công nghiệp, cây ăn quả, đưa độ che phủ lên 50% vào
những năm tới là một hiện thực góp phần bảo vệ môi trường sinh thái
của địa phương.

Tài nguyên khoáng sản

Do cấu tạo địa chất phức tạp, trong quá trình thành tạo lòng đất, Hà
Giang đã hình thành nhiều mỏ khoáng. Nguồn khoáng sản trong đất Hà
Giang tuy chưa được điều tra có hệ thống toàn diện và chưa có mỏ nào
được thăm dò chi tiết.

Với tiềm năng cho thấy trữ lượng khoáng sản nhiên liệu, gồm có sắt ở
dạng manhetit - hematit - sunfua ở Tùng Bá (Bắc Mê), mănggan ở vùng
Đồng Tâm, chì ở Bằng Lang (Bắc Quang), thiếc còn ở dạng sa khoáng,
còn mỏ thì tìm thấy ở Việt Lâm và Nà Moi; chì - kẽm ở Tùng Bá (Bắc
Mê); mỏ than ở Phố Bảng (Đồng Văn); vàng sa khoáng tập trung ở
nhiều nơi, gặp nhiều ở sông Lô và sông Gâm các tài nguyên này hiện
nay chưa có điều kiện khai thác và, chưa xác định được trữ lượng.

II. DÂN CƯ VÀ ĐIỀU KIỆN KINH TẾ XÃ HỘI

1.Dân cư

Dân số: Trên 680.000 người.

Các nhóm ngôn ngữ và các dân tộc tiêu biểu của Hà Giang bao gồm:
- Nhóm ngôn ngữ Mông Dao, gồm các dân tộc: Mông, Dao, Pà thẻn
- Nhóm ngôn ngữ Tày – Thái, gồm các dân tộc: Tày, Nùng, Giáy, Bố Y
- Nhóm ngôn ngữ Ka - Đại, gồm các dân tộc: La chí, Cờ lao, Pu Péo
- Nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến, gồm các dân tộc: Lô Lô, Phù Lá
- Nhóm ngôn ngữ Hán, gồm dân tộc: Hoa
- Nhóm ngôn ngữ Việt - Mường, gồm dân tộc: Kinh

Cũng như các dân tộc thiểu số ở nước ta, các dân tộc thiểu số ở Hà
Giang có đặc điểm là cư trú phân tán và xen kẽ. Mỗi dân tộc có thể phân
bố ở nhiều điạ phương khác nhau trong tỉnh, nhưng cũng có nhưng dân
tộc chỉ phân bố ở những khu vực nhất định.

Đời sống dân cư: Tăng trưởng GDP đạt tốc độ tăng trưởng cao, giai
đoạn 2001-2005 đạt bình quân 10,3%/năm, thu nhập bình quân đầu
người năm 2005 khoảng 2,4 triệu đồng/năm, hệ thống điện- đường -
trường - trạm được tập trung đầu tư đáp ứng được nhu cầu của người
dân. Phấn đấu đến năm 2010 sẽ giảm tỷ lệ nghèo từ 26% xuống còn
15%.

2.Điều kiện kinh tế xã hội

tỷ Cơ cấu kinh tế: Đang chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng nông –
lâm nghiệp, tăng trọng công nghiệp và dịch vụ.

Hà giang là vùng miền núi nên dân số trong tỉnh không đông, đồng bào
Kinh chiếm đa số, còn lại là đồng bào các sắc dân Thổ, Mèo, Tày, Dao,
Mán, Nùng, Giấy và Lô Lô. Phần đông đều thờ cúng tổ tiên, thần linh;
và đều có những sắc thái văn hóa đặc thù.


phía nam. Đây là nơi có nhiều phong cảnh, nhiều hang động tự nhiên.
Các loại quả đặc sản: mận, lê, cam, táo và các loại chè tuyết san cổ thụ
mọc trên độ cao 900 m (2.700 ft).

Hang Chui: cách thành phố Hà Giang 7 km (4,38 dặm) về phía nam.
Hang ăn sâu vào lòng núi khoảng 100 m (300 ft). Cửa hang hẹp phải
lách người mới qua được. Vào trong lòng hang mở rộng, vòm hang cao
vút, nhiều nhũ đá rủ xuống đủ mọi hình thù. Đặc biệt hang có nhiều dơi,
có dòng suối dâng cao đổ xuống thành thác.

Động Tiên và Suối Tiên: Động cách thành phố Hà Giang 2 km (1.25
dặm). Động có Suối Tiên rất đẹp. Tương truyền xưa, các tiên nữ vẫn
thường xuống động này để tắm vào dịp Tết nên được đặt tên là Động
Tiên. Nhân dân quanh vùng vẫn thường đến Động Tiên lấy nước và cầu
may mắn vào lúc giao thừa.

Động Én: Động cách thành phố Hà Giang 60 km (37,5 dặm) thuộc địa
phận huyện Yên Minh. Từ thành phố Hà Giang qua cổng trời Quản Bạ,
qua những cách rừng thông sẽ tới động Én. Hang động còn mang nhiều
nét hoang sơ nhưng đẹp.

Đồng Văn - "Cổng Trời": Là một huyện vùng cao biên giới của Hà
Giang. Độ cao vùng khoảng 1.000 m (3.000 ft) so với mặt biển, địa hình
hầu như chỉ thấy núi đá. Huyện lỵ cách thành phố Hà Giang 146 km
(91,25 dặm) giao thông rất khó khăn. 9 trong 19 xã thuộc huyện có
đường biên giới với Trung Quốc.

Mùa đông nhiệt độ có lúc xuống đến 1 °C, nhưng mùa hè nóng nhất chỉ
khoảng 24 °C. Bầu trời hầu như quanh năm mưa và mù nên ở đây người
dân có câu: "thấy nhau trong tầm mắt, gặp nhau mất nửa ngày" và "đất

Đá Đôlômít bị phong hóa (do quá trình tự vỡ) thành các hạt sạn và cát
rất dễ dàng di chuyển theo sườn xuống dưới chân do trọng lực và nước
chảy tràn trong mùa mưa. Đặc biệt, còn đóng vai trò trọng trong việc
hình thành hình nón của Núi Đôi nói riêng và của các ngọn núi có hình
chop nón nói chung là có sự đan xen của các đứt gãy, hướng khác nhau
làm đá bị phá hủy dễ dàng hơn.

Núi Đôi thuộc kỷ Đệ Tứ - có niên đại cách ngày nay khoảng 1,6 triệu
đến 2 triệu năm trở lại đây. Ngoài Núi Đôi ra còn có một mực cao hơn
gồm các đồi dạng nón được hình thành theo con đường tương tự nhưng
ở giai đoạn cổ hơn, thể hiện rõ nhất là ba ngọn núi đang tồn tại ở khu
vực thị trấn Tam Sơn hiện nay. Danh thắng Núi Đôi Quản Bạ xếp hạng
quốc gia ngày 16/11/2009.

Thành phố Hà Giang: Thành phố Hà Giang là một thành phố đẹp nằm
trong một thung lũng, bốn bên là núi, có dòng sông Lô chảy qua thành
phố. Thành phố Hà Giang là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của
tỉnh. Thành phố có khu di chỉ khảo cổ học Đồi Thông nằm ngay trong
lòng thành phố, nơi đây đã tìm thấy hàng ngàn di vật từ thời tiền sử và
được xác định là một trong những vùng văn hóa sớm nhất của Việt Nam.

Di tích kiến trúc nghệ thuật phố cổ Đồng Văn (Thị trấn Đồng Văn,
huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang) Từ thành phố Hà Giang ngược lên
phía Bắc theo đường quốc lộ 4C (Hà Giang – Đồng Văn) 155km là đến
phố cổ. Phố cổ Đồng Văn nằm ở thị trấn Đồng Văn, huyện Đồng Văn,
tỉnh Hà Giang.

Phố cổ phân bố trên diện tích hơn 10.000 km2, bao gồm khu chợ và
những ngôi nhà thuộc hai thôn Quyết Tiến và Đồng Tâm. Trước đây, khi
chưa hình thành Phố cổ, mảnh đất thung lũng hình lòng chảo này cây cối


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status