KHÁI QUÁT ĐỊA LÝ TỈNH
THÁI BÌNH
Vị trí địa lý: là một tỉnh ven biển, thuộc khu vực đồng bằng sông
Hồng, nằm trong vùng ảnh hưởng trực tiếp của tam giác tăng trưởng
kinh tế: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh. Tọa độ địa lý khoảng 20,17 -
20,44 độ vĩ bắc; 106,06 - 106,39 độ kinh đông. Phía bắc giáp tỉnh
Hưng Yên, Hải Dương và Thành phố Hải Phòng. Phía tây và tây nam
giáp tỉnh Nam Định và Hà Nam. Phía đông giáp vịnh Bắc Bộ.
Diện tích tự nhiên: 1.545,4 km2 chiếm 0,5% diện tích đất đai của cả
nước. Từ Tây sang Đông dài 54 km, từ Bắc xuống Nam dài 49 km.
Dân số Thái Bình năm 2005 là 1860,6 nghìn người.
Đơn vị hành chính: Tỉnh có 7 huyện (Đông Hưng, Hưng Hà, Kiến
Xương, Quỳnh Phụ, Tiền Hải, Thái Thụy, Vũ Thư) và 01 thành phố
(Thành phố Thái Bình) trong đó có 284 xã, phường, thị trấn.
Khí hậu: Thái Bình nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa. Nhiệt độ
trung bình hàng năm là 23-24oC (thấp nhất là 4oC, cao nhất là
38oC). Lượng mưa trung bình 1.400mm - 1.800mm. Số giờ nắng
trong năm khoảng 1.600 - 1.800 giờ. Độ ẩm trung bình vào khoảng
85-90%.
Địa hình: Thái Bình là một tỉnh đồng bằng có địa hình tương đối
bằng phẳng với độ dốc nhỏ hơn 1%; cao trình biến thiên phổ biến từ
1-2m so với mực nước biển, thấp dần từ tây bắc xuống đông nam.
Thủy văn: Thái Bình được bao bọc bởi hệ thống sông, biển khép kín.
Bờ biẻnsông, biển khép kín. Bờ biển dài trên 50 km và 4 sông lớn
Cồn Thủ, Cồn Đen và vùng đất ngập mặn rất thích hợp trồng tập
trung cây sú vẹt, bần. Hiện tại có gần 5.000 ha rừng vừa giữ đất, chắn
sóng, vừa tạo môi trường sinh thái và cảnh quan thiên nhiên du lịch
ven biển.
Tài nguyên khoáng sản: khoáng sản Thái Bình chủ yếu là khí đốt và
nước khoáng (cả 2 đều tập trung chủ yếu ở Tiền Hải) và than nâu
thuộc bể than nâu vùng đồng bằng sông Hồng.
Tiềm năng khoáng sản
Thái Bình có mỏ khí đốt Tiền Hải (C) đã được khai thác từ năm 1986
với sản lượng khai thác bình quân mỗi năm hàng chục triệu m3 khí
thiên nhiên phục vụ cho sản xuất đồ sứ, thủy tinh, gạch ốp lát, xi
măng trắng thuộc KCN Tiền Hải Nguồn khí mỏ, nước khoáng: Thái
Bình có mỏ khí đốt Tiền Hải (C) đã được khai thác từ năm 1986 với
sản lượng khai thác bình quân mỗi năm hàng chục triệu m3 khí thiên
nhiên phục vụ cho sản xuất đồ sứ, thủy tinh, gạch ốp lát, xi măng
trắng thuộc KCN Tiền Hải. Tháng 5-6 năm 2003, Tổng công ty Dầu
khí Việt Nam đã tiến hành nổ địa chấn 3D lô 103/107 Vịnh Bắc Bộ
(trữ lượng ước tính ban đầu khoảng 7 tỷ m3). Ngày 23/3/2005,
Công ty Đầu tư phát triển Dầu khí (PIDC), Tổng Công ty Dầu khí Việt
Nam đã thử vỉa thành công tại giếng khoan xã Đông Lâm, huyện Tiền
Hải ở độ sâu 2600m. Theo kết quả đánh giá ban đầu lưu lượng khí
khai thác đạt 30.000m3/ngày đêm kịp thời bổ sung cho nguồn khí
phục vụ phát triển công nghiệp của tỉnh.
Mỏ nước khoáng Tiền Hải ở độ sâu 450 m có trữ lượng tĩnh khoảng
12 triệu m3, đã khai thác từ năm 1992, sản lượng 9,5 triệu lít được
trong và ngoài nước biết đến với các nhãn hiệu nước khoáng Vital,
nước khoáng Tiền Hải.
Khách sạn Du lịch Thái Bình đang được đầu tư nâng cấp thành khách
sạn 3-4 sao và một số khách sạn, nhà nghỉ mát tại khu du lịch Đồng
Châu đang được cải tạo đổi mới. Một số dự án về đầu tư khách sạn,
các trung tâm thương mại nhiều tầng (11 tầng) như khách sạn
Dream II, Đài Loan Quán đang chuẩn bị triển tại Thành phố để đáp
ứng yêu cẩu phát triển kinh tế địa phương. Dự án xây dựng tuyến
đường ra cồn Vành và một số công trình hạ tầng cho phát triển du
lịch và kinh tế đang được triển khai./.
Tiềm năng về nhân tố con người
Dân số Thái Bình năm 2002 ước khoảng: 1 triệu 827 ngàn người.
Trong đó dân số nông thôn chiếm 94,2%, dân số thành thị chiếm
5,8%; mật độ dân số 1.183 người/km2; bình quân nhân khẩu là 3,75
người/hộ; tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên hiện nay là 1,02%.
Nguồn lao động trong độ tuổi: 1 triệu 73 ngàn người. Trong đó lao
động trong khu vực nông, lâm nghiệp chiếm 74,3%, công nghiệp và
xây dựng chiếm 17%, khu vực dịch vụ - thương mại chiếm 8,7%.
Lao động qua đào tạo chiếm 23,5% (Công nhân kỹ thuật và nghiệp
vụ 13,5%; Trung cấp 5,5%; Cao đẳng, đại học và trên đại học 4,5%).
Hàng năm Thái Bình có khoảng 19.000 học sinh tốt nghiệp THPT, là
lao động trẻ, có trình độ văn hoá, chưa có điều kiện học tiếp lên đại
học. Lực lượng này có thể học tiếp ở các trường trung cấp, công
nhân kỹ thuật trong tỉnh hoặc được đào tạo tại chỗ ở các đơn vị sản
xuất kinh doanh trong tỉnh sẽ là nguồn nhân lực cho phát triển Kinh
tế - Xã hội, trong đó có các KCN./.