Ngôn ngữ lập trình Chương VI: Chương trình con 69
6.5.3 Các phương pháp truyền tham số tham số
Nói chung một ngôn ngữ cung cấp nhiều phương pháp truyền tham số mà người lập
trình có thể lựa chọn để xác định khai báo tham số hình thức lúc định nghĩa chương
trình con và cung cấp các tham số thực tế lúc gọi thực hiện chương trình con. Các
phương pháp truyền tham số chủ yếu bao gồm:
Truyền bằng giá trị (transmission by value)
- Tham số hình thức là tham số chỉ vào (IN-only parameters), tức là chỉ nhận giá trị
vào cho chương trình con, không có nghĩa vụ trả kết quả về cho chương trình gọi.
Tham số hình thức được xem như là một biến cục bộ của chương trình con và được
cấp phát ô nhớ riêng.
- Tham số thực tế là một biểu thức (là một biến, một hằng, một hàm hoặc là một
biểu th
ức thực sự).
- Phương pháp thực hiện: Tại thời điểm gọi, giá trị của tham số thực tế được sao
chép vào trong ô nhớ của tham số hình thức. Trong quá trình thực hiện chương trình
con, mọi thao tác trên tham số hình thức là sự thao tác trên ô nhớ riêng của nó, không
ảnh hưởng đến tham số thực tế.
- Khi chương trình con kết thúc, sự thay đổi giá trị của tham số hình thức, không
làm ảnh h
ưởng đến giá trị của tham số thực tế.
Truyền tham chiếu (transmission by reference)
- Tham số hình thức là tham số vào ra (IN-OUT parameters), tức là nó có nghĩa vụ
nhận giá trị vào cho chương trình con và trả kết quả về cho chương trình gọi. Tham số
hình thức là một con trỏ.
- Tham số thực tế phải là một biến, tức là một ĐTDL có ô nhớ.
- Phương pháp thực hiện: Tại thời điểm gọi, con trỏ của tham số thực tế được sao
chép cho tham s
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
m
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
Ngôn ngữ lập trình Chương VI: Chương trình con 70
Truyền bằng kết quả (transmission by result)
- Tham số hình thức là tham số chỉ ra (OUT-only parameters), tức là chỉ trả kết quả
về cho chương trình gọi, không có nghĩa vụ nhận giá trị vào cho chương trình con.
Tham số hình thức được xem như là một biến cục bộ của chương trình con và được
cấp phát ô nhớ riêng.
- Tham số thực tế phải là một biến, tức là một ĐTDL có ô nhớ.
- Phương pháp thực hiện: Giá tr
ị của tham số thực tế không được sử dụng trong
chương trình con. Tham số hình thức có thể được gán trị như đối với một biến cục bộ.
Trong quá trình thực hiện chương trình con, mọi thao tác trên tham số hình thức là sự
thao tác trên ô nhớ riêng của nó, không ảnh hưởng đến tham số thực tế.
- Khi chương trình con kết thúc, giá trị cuối cùng của tham số hình thức được sao
chép vào ô nhớ của tham s
ố thực tế.
Ví dụ viết bằng ngôn ngữ giả
Var m:integer;
Procedure P(a:integer);
Begin
a:= 20;
writeln(m);
end;
begin
m:=10;
P(m);
writeln(m);
end.
g
e
V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
m
Click to buy NOW!
P
D
.
c
o
m
.
Ngôn ngữ lập trình Chương VII: Điều khiển tuần tự 71
a
acbb
x
2
4
2
−+−
=
CHƯƠNG 7: ÐIỀU KHIỂN TUẦN TỰ
7.1 TỔNG QUAN
7.1.1 Mục tiêu
Sau khi học xong chương này, sinh viên cần phải nắm:
- Khái niệm về điều khiển tuần tự.
- Các thứ tự thực hiện chương trình trong biểu thức, trong câu lệnh
- Khái niệm về ngoại lệ, xử lý ngoại lệ.
7.1.2 Nội dung cốt lõi
- Điều khiển tuần tự trong biểu thức.
- Điều khiển tuầ
n tự trong câu lệnh.
- Ngoại lệ và xử lý ngoại lệ.
7.1.3 Kiến thức cơ bản cần thiết
h
a
n
g
e
V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
m
a
c
k
.
c
o
m
.
Ngôn ngữ lập trình Chương VII: Điều khiển tuần tự 72
Trong ngôn ngữ cấp cao như FORTRAN, công thức này được viết như một biểu thức
x = (-b + SQRT(b**2 - 4*a*c))/(2*a)
Biểu thức là một phương tiện tự nhiên và mạnh mẽ cho việc biểu diễn dãy các phép
toán, tuy vậy chúng nảy sinh các vấn đề mới chẳng hạn như thứ tự thực hiện các toán
tử.
7.3.2 Sự biểu diễn theo cấu trúc cây của biểu thức
Cơ chế điều khiển tuầ
n tự cơ bản trong biểu thức là phép lấy hàm hợp: Một phép toán
chính và các toán hạng của nó. Trong đó các toán hạng có thể là các hằng, biến hoặc
các phép toán khác mà các toán hạng của chúng lại có thể là các hằng, biến hoặc các
phép toán khác Như vậy có thể xem biểu thức là một cấu trúc cây, trong đó nút gốc
của cây biểu diễn cho phép toán chính, các nút giữa gốc và lá biểu diễn cho các phép
toán trung gian và các nút lá biểu diễn các biến và các hằng. Ví dụ biểu thức nghiệm
phương trình bậc hai được biểu diễn theo cấu trúc cây như sau (dùng M để biểu diễn
cho phép toán một ngôi lấy số đối):
Sự biểu diễn cây làm sáng sủa cấu trúc điều khiển của biểu thức. Rõ ràng là các kết
quả của biến hoặc phép toán ở cấp thấp trong cây được coi như là toán hạng của phép
toán ở cấp cao hơn và do đó chúng phải được thực hiện trước.
B 2 C
4 A
2 A
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
a
n
g
e
V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
c
u
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
m
.
Ngôn ngữ lập trình Chương VII: Điều khiển tuần tự 73
Ký hiệu tiền tố (prefix)
Theo ký hiệu Prefix, phép toán viết trước, sau đó là các toán hạng theo thứ tự từ trái
sang phải. Nếu một toán hạng lại là một phép toán thì cũng theo quy tắc tương tự. Có
ba loại ký hiệu prèix là ordinary, Polish, và Cambridge Polish.
Ký hiệu ordinary prefix sử dụng các dấu ngoặc để bao quanh các toán hạng và dấu
phẩy để phân biệt các toán hạng. Ví dụ cấu trúc cây trong hình trên sẽ trở thành:
/(+M(B),SQRT(-(^(B,),*(*(4,A),C)))),*(2,A))
Một biến thể của ký hiệu này được dùng trong ngôn ngữ LISP đôi khi được gọi là
trong ngôn ngữ lập trình cho các phép toán đó và trong một số trường hợp còn được
mở rộng cho các phép toán khác. Mặc dù ký hiệu trung tố được dùng một cách phổ
biến, nhưng việc dùng nó trong ngôn ngữ l
ập trình cũng gây ra một số vấn đề nhất
định:
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
a
n
g
e
V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
m
.