MỤC LỤC
Trang
I/ PHẦN MỞ ĐẦU 2
II/ PHẦN NỘI DUNG 3
1/ HẠ TẦNG CƠ SỞ PHÁP LÝ 3
1.1/ Một số vấn đề pháp lý trong thương mại điện tử 3
1.2. Khuôn khổ pháp lý cho thương mại điện tử ở việt Nam 7
2/ HẠ TẦNG CƠ SỞ CÔNG NGHỆ 10
3/ HẠ TẦNG CƠ SỞ NHÂN LỰC 11
4/ HẠ TẦNG THANH TOÁN TỰ ĐỘNG( THANH TOÁN ĐIỆN TỬ ) 13
5/ BẢO MẬT, AN TOÀN 16
6/ BẢO VỆ SỞ HỮU TRÍ TUỆ 23
7/ BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG 24
1
I/ PHẦN MỞ ĐẦU
Vào cuối thế kỷ XX, sự phát triển và hoàn thiện của kỹ thuật số đã được áp dụng trước
hết vào máy tính điện tử, tiếp đó sang các lĩnh vực khác (điện thoại di động, thẻ tín dụng ).
Số hoá và mạng hoá đã là tiền đề cho sự ra đời của nền kinh tế mới - nền kinh tế số (còn gọi
là nền kinh tế tri thức, nền kinh tế dựa trên tri thức, ). Việc mua bán hàng hóa và dịch vụ
thông qua các phương tiện điện tử, Internet và các mạng viễn thông khác đã xuất hiện, đó
chính là “Thương mại điện tử” (TMĐT).
Thương mại Điện tử là toàn bộ chu trình và các hoạt động kinh doanh liên quan đến
các tổ chức hay cá nhân tiến hành hoạt động thương mại có sử dụng các phương tiện điện tử
và công nghệ xử lý thông tin số hoá, bao gồm cả sản xuất, phân phối, marketing, mua – bán,
giao hàng hoá và dịch vụ bằng các phương tiện điện tử.
Tuy mới xuất hiện và chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong thương mại song TMĐT đã
mang lại những lợi ích to lớn cho doanh nghiệp, chính phủ, người tiêu dùng và xã hội.
Thương mại điện tử đã vượt ra khỏi lĩnh vực thương mại, ngày càng tác động đến các lĩnh
vực khác và hứa hẹn mang lại những thay đổi to lớn và sâu sắc mọi mặt đời sống xã hội loài
người. Thương mại điện tử ngày càng được sự quan tâm của Chính phủ, Doanh nghiệp và
người tiêu dùng và đang trở thành một công cụ hữu hiệu trong quá trình toàn cầu hoá và trong
thương mại mà tính an toàn, độ tin cậy bị đe doạ như máy trạm, máy chủ, đường truyền. Mặt
khác người sử dụng cũng phải học cách tự bảo vệ mình bằng các biện pháp kỹ thuật.
Mã hoá là một công cụ hữu hiệu đảm bảo an toàn cho các giao dịch trong TMĐT. Nó
cho phép người sử dụng bảo vệ được thông tin của mình một cách an toàn, đảm bảo nguồn
gốc thông tin và tính toàn vẹn của thông tin. Tuy nhiên khi sử dụng mã hoá có thể xảy ra
trường hợp như bọn tội phạm có thể sử dụng biện pháp mã hoá để mã hoá các thông tin.
3
Đồng thời, mã hoá nhiều khi cũng gây khó khăn cho Giám đốc doanh nghiệp kiểm soát hoạt
động của cán bộ dưới quyền.
1.1.2. Vấn đề bảo đảm tính riêng tư:
Thông tin cá nhân được luật pháp tôn trọng. Cá nhân được quyền đảm bảo bí mật các
thông tin về đời tư. Khi thực hiện các giao dịch trong môi trường Internet, các chủ thể tham
gia giao dịch thường được yêu cầu phải khai báo các thông tin cá nhân ví dụ như số thẻ tín
dụng, địa chỉ, ngày tháng năm sinh, địa chỉ nhà riêng, số điện thoại cá nhân để phục vụ cho
mục đích xác nhận, kiểm tra. Sở dĩ có điều đó là do các bên tham gia giao dịch không quen
biết nhau. Các thông tin về đời tư này dễ bị bên thứ ba lấy cắp và sử dụng vào mục đích khác,
gây phương hại đến người tham gia giao dịch TMĐT. Do đó, trong TMĐT cần quy định rõ
trách nhiệm pháp lý của các bên tham gia giao dịch đối với các thông tin của các chủ thể.
1.1.3. Bảo vệ người tiêu dùng:
Do trong TMĐT cả người mua lẫn người bán không cần gặp nhau, biết nhau nên dễ
xảy ra các rủi ro và người bị thiệt thường là người tiêu dùng bởi vì họ phải trả tiền trước cho
các sản phẩm, dịch vụ mà họ mua qua mạng song lại chưa biết được chất lượng sản phẩm và
việc giao hàng có diễn ra đúng như người bán đã cam kết không. Vấn đề sẽ trở nên phức tạp
hơn khi hai chủ thể ở hai quốc gia khác nhau, chịu các luật điều chỉnh khác nhau, thẩm quyền
tài phán khác nhau. Do vậy trong quy định pháp lý cho các bên tham gia TMĐT, các quốc gia
đều bảo vệ người tiêu dùng. Tuy nhiên, do luật pháp các nước là không giống nhau nên nếu
hai chủ thể thuộc hai quốc gia khác nhau thì hai bên cần thoả thuận trước về luật sẽ áp dụng.
1.1.4. Các vấn đề về hợp đồng
Theo pháp luật, hợp đồng được xác lập khi các bên đạt được sự nhất trí về các điều
kiện ghi trong hợp đồng bất kể là thoả thuận miệng hay bằng văn bản. Vấn đề nảy sinh là xác
5
khởi tạo không bị thay đổi về nội dung, hay nói cách khác là đảm bảo sự nguyên vẹn của dữ
liệu.
1.1.6. Thời điểm, địa điểm gửi, nhận thông điệp điện tử
Thời gian giao kết rất quan trọng để xác định thời điểm bắt đầu nghĩa vụ của các bên.
Do các bên trong TMĐT không quen biết nhau, ở xa nhau, liên lạc với nhau qua mạng nên
xác định thời điểm giao kết thương mại là khó khăn và các bên rất dễ hiểu khác nhau về thời
điểm giao dịch. Điều đó dễ dẫn đến các tranh chấp.
Người được chào hàng có thể chấp nhận lời chào hàng và theo đó tạo ra một hợp đồng
trực tiếp. Sự phản hồi của khách hàng chấp nhận đơn chào hàng là sự trả giá. Trường hợp này
người mua là người trả giá, người bán là người chấp nhận hợp đồng. Việc xác lập hợp đồng
không nhất thiết phải do con người thực hiện, mà có thể chấp nhận tự động bằng hệ thống
máy móc. Ví dụ, khi người chủ đặt máy bán nước giải khát tự động, được coi là chấp nhận trả
giá khi khách bỏ tiền vào máy. Khi tiến hành TMĐT, người chào hàng có thể quy định thời
gian gửi ý kiến chấp nhận, khi đó thời điểm chấp nhận hợp đồng là thời điểm thông tin chấp
nhận của khách hàng nhập vào hệ thống của người chào hàng.
Thời gian nhận được thông điệp điện tử được xác định theo nguyên tắc sau:
a/ Nếu người nhận chỉ định một hệ thống thông tin để nhận thì thời gian nhận là khi
thông điệp điện tử nhập vào hệ thống thông tin đó hoặc khi nhập vào hệ thống thông tin khác
nhưng người nhận đang làm việc để truy lục thông điệp điện tử.
b/ Nếu người nhận không chỉ định hệ thống thông tin thì tính thời điểm nhận là thời
điểm thông điệp điện tử truy nhập vào hệ thống thông tin của người nhận.
1.2. Khuôn khổ pháp lý cho thương mại điện tử ở việt Nam
Cùng với hệ thống pháp luật chung, các văn bản pháp luật liên quan đến thương mại
điện tử cũng bước đầu được hình thành và dần hoàn thiện.
6
1.2.1. Luật giao dịch điện tử.
Luật Giao dịch điện tử được Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày
29/11/2005 và có hiệu lực từ ngày 1/03/2006. Luật gồm 8 chương, 54 điều quy định về thông
điệp dữ liệu, chữ ký điện tử và chứng thực chữ ký điện tử, giao kết và thực hiện hợp đồng
niệm quan trọng cần tính đến khi xây dựng các văn bản pháp luật liên quan đến giao kết và
thực hiện hợp đồng trong môi trường điện tử.
1.2.4. Luật Hải quan.
Luật Hải quan (sửa đổi) được Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày
14/06/2005 và có hiệu lực từ ngày 1/01/2006 có bổ sung một số quy định về trình tự khai hải
quan điện tử, địa điểm khai, hồ sơ hải quan điện tử, thủ tục hải quan đối với hàng hoá xuất
nhập khẩu bằng Thương mại điện tử.
1.2.5. Luật sở hữu trí tuệ.
Luật sở hữu trí tuệ được Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005
và có hiệu lực từ ngày 1/07/2006 thể hiện một bước tiến trong việc hoàn thiện hệ thống văn
bản pháp luật bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Luật Sở hữu trí tuệ có một số điều khoản liên quan
đến thương mại điện tử như quy định về các hành vi bị xem là xâm phạm quyền tác giả,
quyền liên quan trong môi trường điện tử như cố ý huỷ bỏ, thay đổi thông tin quản lý quyền
dưới hình thức điện tử có trong tác phẩm, dỡ bỏ hoặc thay đổi thông tin quản lý quyền dưới
hình thức điện tử mà không được phép của chủ sở hữu quyền liên quan. Tuy không có quy
định cụ thể liên quan đến lĩnh vực thương mại điện tử, nhưng các nguyên tắc trong Luật Sở
hữu trí tuệ có thể áp dụng đối với lĩnh vực này. Đến ngày 19/ 6/ 2009 Quốc hội Việt Nam
8
thông qua Luật số 36/2009/QH12 để sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ số
50/2005/QH11.
1.2.6.Luật và văn bản thương mại điện tử năm 2008, 2009
* Nghị định số 97/2008/NĐ-CP - quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông
tin điện tử trên internet
* Nghị định số 90/2008/NĐ-CP - chống thư rác
* Thông tư số 78/2008/TT-BCT - hướng dẫn thi hành một số nội dung của Nghị định
số 27/2007/NĐ-CP về giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính.
* Thông tư số 09/2008/TT-BCT - hướng dẫn Nghị định thương mại điện tử về cung
cấp thông tin và giao kết hợp đồng trên website thương mại điện tử.
* Thông tư số 05/2008/TT-BTTTT - hướng dẫn Nghị định 97/2008/NĐ-CP về quản lý,
cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin điện tử trên internet.
Giá cước truy nhập Internet hiện còn quá cao so với thu nhập của đa số dân chúng và cao hơn
nhiều so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Chính điều này đã hạn chế rất nhiều đến
số lượng người truy nhập vào Internet, đồng thời ảnh hưởng đến sự phát triển nhanh TMĐT ở
nước ta. Ngoài vấn đề giá cả viễn thông, chất lượng dịch vụ viễn thông, đặc biệt là chất lượng
dịch vụ Internet chưa thoả đáng cũng ảnh hưởng nhiều đến việc triển khai ứng dụng TMĐT ở
nước ta. Hệ thống máy chủ của các nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP) chưa thật sự đủ mạnh
để đáp ứng được số lượng lớn người truy cập vào mạng khi Việt Nam ứng dụng TMĐT. Với
số thuê bao chỉ đạt khoảng 0,4% dân số, Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ người sử
10
dụng Internet thấp nhất ASEAN (tỷ lệ sử dụng trung bình khối ASEAN là 1,5%, thế giới
8%).
Trong lĩnh vực điện tử- tin học Việt Nam vẫn còn phải đối mặt với nhiều khó khăn
Lĩnh vực điện tử: Phần lớn còn tập trung ở khâu lắp ráp (máy thu thanh, thu hình, radio-
cassetes). Hướng đi này chỉ thích hợp cho giai đoạn phát triển ban đầu. Ngoài ra, tổ chức sản
xuất còn tản mạn, công nghệ sản xuất và trình độ quản lý còn lạc hậu.
Lĩnh vực thiết bị tin học: Phần cứng thiết bị tin học chủ yếu là nhập khẩu. Nước ta hiện
vẫn là thị trường tiêu thụ máy tính của nước ngoài. Mặc dù nước ta đã lắp ráp máy vi tính
mang thương hiệu Việt Nam, nhưng tỷ lệ nội địa hóa còn thấp, phần lớn linh, phụ kiện vẫn
phải nhập khẩu với giá thành còn cao.
- Lĩnh vực điện tử công nghiệp và điện tử chuyên ngành khác: phần lớn còn nhập ngoại,
phần sản xuất được trong nước cũng chỉ ở mức riêng lẻ, đơn chiếc, quy mô nhỏ.
3/ HẠ TẦNG CƠ SỞ NHÂN LỰC.
Theo số liệu điều tra, 39% doanh nghiệp cho biết có bố trí cán bộ chuyên trách về
thương mại điện tử, với mức trung bình là 2,7 người trong một doanh nghiệp, gần gấp đôi con
số 1,5 người của năm 2006. Tuy nhiên, tỷ lệ doanh nghiệp có cán bộ chuyên trách về thương
mại điện tử không chuyển biến nhiều trong 3 năm gần đây (hình 8), cho thấy việc tăng số cán
bộ trung bình trên một đơn vị là kết quả của sự tăng cường đầu tư trong những doanh nghiệp
đã triển khai ứng dụng thương mại điện tử từ những năm trước.
Hình 1: Tỷ lệ doanh nghiệp có cán bộ chuyên trách về CNTT và TMĐT qua các năm
12
4/ HẠ TẦNG THANH TOÁN TỰ ĐỘNG( THANH TOÁN ĐIỆN TỬ )
Thanh toán điện tử là thanh toán trực tuyến qua mạng khi mua bán trao đổi là hình
thức thanh toán các chi phí mua bán sản phẩm, dịch vụ thông qua các hệ thống thẻ thanh toán
thay vì giao dịch trực tiếp bằng tiền mặt.
Thẻ thanh toán là một phương tiện thanh toán
không dùng tiền mặt mà người chủ thẻ có thể sử dụng để
rút tiền mặt hoặc thanh toán tiền khi mua hàng hóa, dịch
vụ tại các điểm chấp nhận thanh toán bằng thẻ. Hệ thống
các loại thẻ có thể thanh toán điện tử bao gồm thẻ tín
dụng (Credit card), thẻ ghi nợ (Debit card) và thẻ rút tiền
mặt do các ngân hàng trong nước và quốc tế phát hành.
Hiện nay, tại Việt Nam Những dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt cho người tiêu
dùng sẽ được các ngân hàng đẩy mạnh trong năm 2008. Đến cuối năm nay, số lượng phương
tiện thanh toán điện tử sẽ được đưa vào sử dụng gần gấp đôi so với từ năm 2007 trở về trước.
Trong đó, máy rút tiền tự động ATM từ khoảng 4.500 chiếc hiện nay sẽ được đẩy lên 6.889.
Thiết bị thanh toán dùng thẻ POS (Point of Sale) lắp đặt tại điểm bán hàng từ 14.858 chiếc
lên 29.215 chiếc. Thẻ thanh toán dự kiến phát hành gần 14 triệu chiếc.
Tuy nhiên, Theo vụ Thương Mại Điện Tử (TMĐT), bộ Thương Mại, thì thanh toán
điện tử là trở ngại lớn thứ hai đối với việc mở rộng và phát huy hiệu quả thực sự của ứng
dụng TMĐT (sau yếu tố về nhận thức). Do sự thiếu kết nối tổng thể giữa các ngân hàng,
khách hàng và nhà cung cấp dịch vụ, hàng hóa khiến người tiêu dùng chưa mạnh dạn tham
gia cũng như thụ hưởng các tiện ích từ thanh toán điện tử (TTĐT).
Đối với mạng lưới thanh toán thẻ của NH, hiện vẫn tồn tại tới 3 liên minh (liên minh
của Vietcombank, hệ thống kết nối giữa ANZ và Sacombank, và hệ thống của NH Đông Á).
Do đó, nếu người mua và người bán có tài khoản ở những ngân hàng hoặc liên minh khác thì
việc TTĐT gần như không thực hiện được trong giao dịch thương mại trực tuyến. Ông Bùi
Quang Tiên, trưởng ban Thanh Toán của Ngân Hàng Nhà Nước (NHNN) nhận định, việc
13
không thống nhất được các hệ thống ATM này đã và đang gây lãng phí về nguồn lực, bó hẹp
- Thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ tại hơn 9000 đại lý chấp nhận thẻ tại Việt Nam và
hơn 25 triệu đại lý chấp nhận thẻ trên toàn thế giới.
- Rút tiền mặt tại 1 triệu điểm rút tiền mặt, hơn 500.000 máy giao dịch tự động (ATM)
trên toàn thế giới và hơn 6.000 ATM tại Việt Nam hoạt động 24hx7 ngày.
- Tận hưởng các chương trình giảm giá, khuyến mãi thường xuyên của các đơn vị chấp
nhận thẻ trên phạm vi toàn cầu.
- Thực hiện giao dịch bằng bất kỳ loại tiền tệ nào trên thế giới
- Giảm rủi ro mang theo tiền mặt.
- Quản lý kế hoạch chi tiêu cá nhân dễ dàng qua các sao kê giao dịch hàng tháng.
- Được vay, hỗ trợ tài chính kịp thời từ ngân hàng đặc biệt khi đi công tác, theo học xa
nhà, hoặc du học ở nước ngoài.
- Dễ dàng đặt tour du lịch, khách sạn, và nhà hàng.
- Tham gia thương mại điện tử, mua sắm hàng hoá dịch vụ qua mạng Internet.
- Thay thế hiệu quả các khoản tạm ứng, công tác phí bằng tiền mặt của cơ quan cho
cán bộ khi đi công tác.
- Sở hữu phương tiện thanh toán uy tín và hiện đại
15
5/ BẢO MẬT, AN TOÀN.
5.1. Một số kỹ thuật áp dụng cho an toàn trong thương mại điện tử
5.1.1. Bảo vệ máy khách
Các máy khách (thông thường là các PC) phải được bảo vệ nhằm chống lại các đe doạ
xuất phát từ phần mềm hoặc dữ liệu được tải xuống máy khách từ Internet.
a. Giám sát Active content.
Các trình duyệt Navigator của Netscape và Internet Explorer của Microsoft được trang
bị để nhận biết các trang Web có chứa active content chuẩn bị được tải xuống. Khi bạn tải về
và chạy các chương trình được nhúng vào các trang Web, bạn muốn đảm bảo rằng các
chương trình này đến từ một nguồn bạn biết và tin cậy. Cách thức mà hai trình duyệt trên sử
dụng để đảm bảo an toàn được trình bày trong các mục sau đây. Trước hết chúng ta xem xét
các chứng chỉ số, chúng thực sự cần thiết cho phía máy khách và máy chủ khi xác thực.
b. Bảo vệ bằng các chứng chỉ số.
một ActiveX control được tải xuống như sau: ai là người đã ký chương trình, chương trình có
bị sửa đổi sau khi ký hay không và nội dung có nguồn gốc đúng từ nhà phát hành tin cậy hay
không. Đồng thời kiểm tra xem chương trình có chứng chỉ hợp lệ hay không. Tuy nhiên,
Authenticode không thể ngăn chặn được việc tải xuống một chương trình gây hại và chạy trên
máy tính của người dùng. Có nghĩa là, kỹ thuật Authenticode chỉ có thể xác nhận đúng là
công ty XYZ đã ký chương trình. Authenticode không thể đảm bảo Java hoặc ActiveX
control của công ty XYZ có thực hiện đúng đắn hay không. Trách nhiệm này thuộc về người
sử dụng, họ phải quyết định có nên tin cậy vào chương trình động từ các công ty hay không.
d. Netscape Navigator
17
Trình duyệt Netscape Navigator cho phép kiểm soát việc tải các chương trình động
xuống máy tính của người dùng. Netscape Navigator tải xuống chương trình động, giúp ta có
thể xem chữ ký gắn kèm với Java và JavaScript control (ActiveX control không thực hiện với
Netscape Navigator).
Nếu chương trình động viết bằng Java và JavaScript, ta sẽ thường xuyên nhận được
một thông báo từ Netscape Navigator. Thông báo cho biết chương trình động đã được ký hay
chưa, cho phép ta xem chứng chỉ đi kèm để xác định nên chấp nhận hay từ chối tải xuống các
chương trình động.
e. Đối phó với các cookie.
Cookie được lưu giữ trong máy trạm, hoặc được tạo ra, sử dụng và huỷ bỏ trong một
lần duyệt Web. Ta có thể cho phép đặt ra thời gian tồn tại từ 10, 20 hoặc 30 ngày. Một cookie
có chứa nhiều thông tin, chẳng hạn như tên của Website phát hành nó, các trang mà ta đã truy
cập vào, tên người sử dụng và mật khẩu, các thông tin về thẻ tín dụng và địa chỉ. Chỉ có site
tạo ra các cookie mới có thể lấy lại các cookie này, các cookie thu thập và lưu giữ các thông
tin không nhìn thấy được. Chính vì thế ta không phải nhập lại tên người sử dụng, mật khẩu
cho lần truy cập tiếp theo. Các phiên bản trình duyệt ban đầu cho phép các site lưu giữ các
cookie không có chú thích. Ngày nay, các trình duyệt cho phép lưu giữ các cookie mà không
cần sự cho phép, hoặc cảnh báo cho biết một cookie chuẩn bị được lưu giữ, hoặc không cho
phép vô điều kiện tất cả các cookie. Internet Explorer 5 có các tuỳ chọn để thiết lập sự kiểm
soát các cookie.
Các phép mã được chia thành 3 loại:
• Mã hàm băm
• Mã hoá đối xứng
• Mã hoá không đối xứng
19
5.1.2.2. Các chuẩn và thuật toán mã hoá
Hiện có rất nhiều thuật toán thuộc các kiểu khoá riêng và khoá công khai như:
Blowfish, DES, ECC, IDEA, LUC, MD2, MD4, MD5, RC2, RC4, RC5, RC6, RSA,
SHA1,Skipjack, Triple DES.
5.1.3. Bảo vệ máy chủ thương mại
* Các bức tường lửa
Bức tường lửa được sử dụng như một hàng rào giữa một mạng (cần được bảo vệ) và
Internet hoặc mạng khác (có khả năng gây ra mối đe doạ). Mạng và các máy tính cần được
bảo vệ nằm bên trong bức tường lửa, các mạng khác nằm ở bên ngoài. Các bức tường lửa có
các đặc điểm sau đây:
Tất cả các luồng thông tin từ trong ra ngoài, từ ngoài vào trong đều phải chịu sự quản
lý của nó.
• Chỉ có các luồng thông tin được phép (do chính sách an toàn cục bộ xác định) đi qua
nó.
• Bức tường lửa tự bảo vệ mình.
Các mạng bên trong bức tường lửa được gọi là các mạng tin cậy, các mạng bên ngoài
được gọi là các mạng không tin cậy. Đóng vai trò như một bộ lọc, bức tường lửa cho phép
các thông báo (có chọn lọc) đi vào, hoặc ra khỏi các mạng được bảo vệ. Ví dụ, một chính
sách an toàn cho phép tất cả các luồng thông tin HTTP (Web) vào ra, nhưng không cho phép
các yêu cầu FTP hoặc Telnet vào, hoặc ra khỏi các mạng được bảo vệ. Bức tường lửa ngăn
chặn, không cho phép truy nhập trái phép vào các mạng bên trong bức tường lửa.
Các bức tường lửa hoạt động ở tầng ứng dụng. Chúng cũng có thể hoạt động ở tầng
mạng và tầng vận tải. Các site của các công ty khác nhau phải có một bức tường lửa cho mỗi
kết nối ngoài với Internet. Đảm bảo một phạm vi an toàn không thể phá vỡ. Ngoài ra, mỗi
bức tường lửa trong công ty phải tuân theo chính sách an toàn.
bán trên mạng.
Đây là một kỹ thuật bảo mật, mã hóa được phát triển bởi VISA, MASTER CARD và
các tổ chức khác trên thế giới. Mục địch của SET là bảo vệ hệ thống thẻ tín dụng, tạo cho
khách hàng, doanh nghiệp, ngân hàng, các tổ chức tài chính sự tin cậy trong khi giao dịch
mua bán trên Internet.
Những tiêu chuẩn và công nghệ SET được áp dụng và thể hiện nhất quán trong các
doanh nghiệp, các ngân hàng/công ty cấp thẻ, tổ chức tín dụng và trung tâm xử lý thẻ tín
dụng qua mạng.
Ngoài ra, SET thiết lập một phơng thức hoạt động phối hợp tương hỗ (method of
interoperability) nhằm bảo mật các dịch vụ qua mạng trên các phần cứng và phần mềm khác
nhau.
Tóm lại SET được thiết lập để bảo mật những thông tin về cá nhân cũng như thông tin
về tài chính trong quá trình mua bán và giao dịch trên mạng.
* Doanh nghiệp (người bán) được bảo vệ không bị mất hàng hoá hay dịch vụ bởi:
- Những thẻ tín dụng không hợp lệ.
- Người chủ thẻ không đồng ý chi trả.
* Ngân hàng được bảo vệ bởi: Giao dịch mua bán không được sự đồng ý giữa các
thành phần tham gia vào giao dịch hoặc các giao dịch không hợp lệ (Thẻ tín dụng không hợp
lệ, người bán giả danh )
* Người mua được bảo vệ để: - Không bị đánh cắp thẻ tín dụng.
- Không bị người bán giả danh
22
6/ BẢO VỆ SỞ HỮU TRÍ TUỆ.
Tài sản sở hữu trí tuệ là một yếu tố quan trọng trong thương mại điện tử. Trong
TMĐT, thông tin trở thành tài sản, và bảo vệ tài sản cuối cùng sẽ có nghĩa là bảo vệ thông tin.
Hơn những hệ thống thương mại khác, thương mại điện tử liên quan tới việc bán sản phẩm và
các dịch vụ dựa vào tài sản sở hữu trí tuệ và việc cấp bằng về quyền sở hữu trí tuệ. Âm nhạc,
tranh, ảnh, phần mềm, các thiết kế, mô đun đào tạo, hệ thống…tất cả có thể được giao dịch
bằng thương mại điện tử và tài sản sở hữu trí tuệ là một phần giá trị chính yếu trong giao dịch
này. Tài sản sở hữu trí tuệ rất quan trọng bởi vì những thứ giá trị được giao dịch điện tử phải
xảy ra các rủi ro và người bị thiệt thường là người tiêu dùng bởi vì họ phải trả tiền trước cho
các sản phẩm, dịch vụ mà họ mua qua mạng song lại chưa biết được chất lượng sản phẩm và
việc giao hàng có diễn ra đúng như người bán đã cam kết không. Vấn đề sẽ trở nên phức tạp
hơn khi hai chủ thể ở hai quốc gia khác nhau, chịu các luật điều chỉnh khác nhau, thẩm quyền
tài phán khác nhau. Do vậy trong quy định pháp lý cho các bên tham gia TMĐT, các quốc gia
đều bảo vệ người tiêu dùng. Tuy nhiên, do luật pháp các nước là không giống nhau nên nếu
hai chủ thể thuộc hai quốc gia khác nhau thì hai bên cần thoả thuận trước về luật sẽ áp dụng.
Hai văn bản cơ bản để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là: Pháp lệnh Bảo vệ quyền
lợi người tiêu dùng do UBTVQH ban hành số 13/1999/PL- UBTVQH và Luật Cạnh tranh có
hiệu lực từ 1/7/2005.
Ngày 24/4/2008, Chính phủ đã ban hành Nghị định 55/2008/NĐ-CP, về việc quy định
chi tiết việc thi hành Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Quyền lợi của người tiêu dùng còn được bảo vệ bởi nhiều quy định trong các văn bản
pháp luật khác như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Luật Thương mại, Luật tiêu chuẩn về
24
quy chuẩn kỹ thuật, Luật Bảo vệ môi trường, Pháp lệnh Chất lượng sản phẩm, Pháp lệnh Vệ
sinh an toàn thực phẩm
Ngoài ra tại Việt Nam còn có hội tiêu chuẩn và bảo vệ người tiêu dùng
8 quyền của người tiêu dùng:
- Quyền được thoả mãn những nhu cầu cơ bản
- Quyền được an toàn
- Quyền được cung cấp thông tin
- Quyền được lựa chọn
- Quyền được lắng nghe hay được đại diện
- Quyền được bồi thường
- Quyền được giáo dục về tiêu dùng
- Quyền được sống trong một môi trường trong sạch và bền vững
25