Lời nói đầu
Ngày nay cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, thơng
mại điện tử (TMĐT) ra đời là kết quả hợp thành của nền kinh tế số
hoá và xã hội thông tin. Thơng mại điện tử bao trùm một phạm vi
rộng lớn các hoạt động kinh tế và xã hội, nó mang đến lợi ích tiềm
năng và đồng thời cả thách thức lớn cho ngời sử dụng.
Thơng mại điện tử đang phát triển nhanh trên bình diện toàn
cầu, tuy hiện nay đang áp dụng chủ yếu ở các nớc công nghiệp phát
triển nhng các nớc đang phát triển cũng bắt đầu tham gia. Toàn cầu
đang hớng tới giao dịch thông qua TMĐT.
Việt Nam tuy cơ sở hạ tầng cho TMĐT cha hình thành hoàn
thiện, song cùng xu hớng hội nhập, chúng ta là thành viên của
APEC, của ASEAN là quan sát viên của WTO, Việt Nam không
thể sớm cũng không thể muộn tham gia TMĐT.
Thơng mại điện tử đa lại lợi ích tiềm tàng giúp ngời tham gia
thu đợc thông tin phong phú về thị trờng và đối tác, giảm chi phí, mở
rộng quy mô doanh nghiệp, rút ngắn chu kỳ kinh doanh và đặc biệt
với nớc đang phát triển đây là cơ hội tạo bớc tiến nhảy vọt rút ngắn
khoảng cách với các nớc tiến triển.
Song nh lời khuyên của một chuyên gia trung tâm thơng mại
quốc tế: Chớ nên nhìn nhận TMĐT chỉ đơn thuần là dùng phơng
tiện điện tử để thực hiện các hoạt động buôn bán truyền thống mà nên
1
hiểu rằng khi chấp nhận và ứng dụng TMĐT thì toàn bộ hình thái
hoạt động của một nớc sẽ thay đổi, cả hệ thống giáo dục, cả tập quán
làm việc, cả quan hệ quốc tế.
Nhận thức đợc vai trò lớn của TMĐT với sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nớc,... Trong điều kiện thực tế ở Việt Nam môi
trờng cho TMĐT cha hình thành ngay cả việc nhận thức về TMĐT
cũng còn sơ sài và cha phổ biến trong dân chúng. Song Việt Nam
đang bắt đầu xây dựng các quy định khung để hình thành chiến lợc
vẽ thiết kế bằng máy tính điện tử, các hình đồ hoạ, quảng cáo,...
Thơng mại - (commerce) đợc hiểu là mọi vấn đề nảy sinh ra từ mọi mối quan
hệ mang tính chất thơng mại dù có hay không có hợp đồng.
Các mối quan hệ mang tính thơng mại bao gồm bất cứ giao dịch thơng mại nào về
cung cấp hoặc trao đổi hàng hoá hoặc dịch vụ thoả thuận phân phối, đại diện hoặc đại lý
thơng mại, ứng thác hoa hồng, t vấn, xây dựng công trình,...
Nh vậy, phạm vi của TMĐT rất rộng bao quát hầu nh mọi hình thái hoạt động
kinh tế, mà không chỉ bao gồm buôn bán hàng hoá dịch vụ (Trade), nó chỉ là một
trong hàng nghìn lĩnh vực áp dụng của TMĐT.
2-/ Thơng mại điện tử là thách thức và cơ hội cần lợi dụng để thực hiện thơng
mại:
3
Thơng mại điện tử mang lại những tiềm năng to lớn cho doanh nghiệp và toàn
xã hội. Nhờ các phơng tiện của TMĐT các doanh nghiệp có đợc thông tinh phong
phú giúp các cơ hội kinh doanh, giao dịch với nhiều đối tác trong cùng thời điểm;
các chi phí văn phòng, bán hàng, giao dịch giảm hàng trăm lần; dễ dàng tạo dựng và
củng cố quan hệ bạn hàng. Rút ngắn chu kỳ thời gian sản xuất, và trên quan điểm
chiến lợc lâu dài, việc khuếch trơng TMĐT sẽ trực tiếp giúp cho sự phát triển của
công nghệ thông tin.
Với các nớc đang phát triển TMĐT giúp cho họ dễ dàng tiếp xúc với thị trờng rộng
lớn, trong cũng nh ngoài nớc, thúc đẩy sự phát triển văn minh của đất nớc.
Chính vì vậy, tuy TMĐT là phơng thức mới phát triển tốc độ nhanh:
Năm 1997, tổng doanh số TMĐT toàn thế giới mới đạt 18 tỷ USD, năm 1999 đã
lên gần 71 tỷ USD theo dự báo của APEC, doanh số này vào 2002 có thể lên tới 1
nghìn tỷ USD: trong đó trao đổi dữ liệu điện tử giữa các doanh nghiệp chiếm khoảng
50%, dịch vụ tài chính và các dịch vụ khác khoảng 45%, dịch vụ bán lẻ khoảng 5%.
Thách thức:
Tấm huy chơng nào cũng có mặt trái của nó. Giao dịch thơng mại qua các ph-
ơng tiện điện tử trong đó mọi dữ liệu (kể cả chữ ký) đều ở dạng số hoá. Chỉ cần một
sự xâm nhập thông tin chính xác của giác máy tính có thể dẫn đến rủi ro khôn lờng
cầu qua các vệ tinh, cho phép với tới hầu hết số dân 2 tỷ ngời đang sống không có
điện thoại trên toàn thế giới.
Các phơng tiện liên lạc vô tuyến đang hội nhập vào Internet. Các tuyến cáp
quang đang đợc rải trên khắp Châu lục để liên kết tất cả các khí cụ điện tử vào
Internet, sẽ cho phép truy cập nhanh gấp 10 lần so với mạng lới cáp điện thoại hiện
nay. Theo ớc tính Internet/Web đang phát triển với tốc độ cứ 100 ngày thì tổng lợng
thông tin qua "võng mạc toàn cầu" lại tăng lên gấp đôi. Số liệu trung bình các nguồn
doanh số TMĐT toàn thế giới năm 1997 đạt khoảng 18 tỷ USD, năm 1998 ớc 31 tỷ
USD, năm 1999 (dự báo) 71 tỷ USD, năm 2000 (dự báo) 200-250 tỷ USD và năm
2002 là 300 tỷ USD.
5
Về luật lệ liên quan TMĐT:
Tháng 12-1985 Đại hội đồng liên hiệp quốc ra Nghị quyết yêu cầu các Chính
phủ và tổ chức quốc tế áp dụng các biện pháp đảm bảo an toàn pháp lý của các giao
dịch điện tử.
Tháng 2-1992 Hội nghị các tổ chức (UNCTAD) đề xuất sáng kiến về hiệu quả
thơng mại nhằm giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia vào sâu hơn buôn bán
quốc tế.
Tháng 10-1994 UNCTAD đề xuất chơng trình "tâm điểm mậu dịch" (Trade
Point Programe).
Tháng 12-1996 Đại hội đồng liên hiệp quốc yêu cầu các nớc phổ biến rộng rãi
nội dung đạo luật mẫu về TMĐT do UNCTAD thảo ra.
Tháng 7-1997 Uỷ ban Châu Âu phát hành tài liệu mang tính chính sách vạch
ra khuôn khổ cho TMĐT ở Châu Âu.
Tháng 11-1997 APEC đã vạch ra chơng trình công tác về TMĐT trong khu vực
APEC và thành lập một tổ chức mang tên là "APEC Electronic commerce Task Force".
Tháng 10-1997 ASEAN tổ chức Hội nghị bàn tròn về TMĐT tại Mã Lai.
Tháng 7-1998 "Tiểu ban điều phối về TMĐT" của ASEAN họp lần thứ nhất.
Tháng 9-1998 UNCTAD tổ chức Hội thảo khu vực các nớc ảrập về TMĐT.
Tháng 11-1998 UNCTAD ra tuyên bố báo chí kêu gọi các nớc đang phát triển
lịch sử nhân loại gọi là cuộc cách mạng số hoá.
Cách mạng số hoá diễn ra với tốc độ cao, chiếc máy tính điện tử đầu tiên có ch-
ơng trình hoá ra đời 1946, kích thớc 4 - 5 gian buồng trị giá nhiều triệu đô la, và chỉ
thực hiện 5000 lệnh một giây. 50 năm sau, máy tính điện tử cá nhân thông dụng chỉ
có kích thớc để bàn trị giá gần 1 nghìn đô la, và thực hiện trên 400 triệu lệnh; dự kiến
vào 2012 là 1000 triệu lệnh.
7
Ngoài ra còn có siêu máy tính mà Bộ Quốc phòng Mỹ đặt cho hãng IBM tốc độ
hàng nghìn tỷ lệnh trong một giây; các phơng tiện hiện đại cũng song song phát
triển, một sợi cáp quang mỏng nh sợi tóc có thể truyền đợc lợng thông tin chứa đựng
trong 90 nghìn cuốn từ điển bách khoa trong một giây.
Trong bối cảnh này khái niệm "TMĐT" đang hình thành và ứng dụng rộng rãi.
1.2-/ Các phơng tiện kỹ thuật điện tử bao gồm:
1.2.1 Điện thoại.
Toàn thế giới có khoảng một tỷ đờng dây thuê bao điện thoại và khoảng 340
triệu ngời dùng điện thoại. Điện thoại là phơng tiện phổ thông để sử dụng và thờng mở
đầu cho các giao dịch thơng mại với sự phát triển của điện thoại di động, liên lạc qua vệ
tinh, ứng dụng điện thoại đang và sẽ trở lên càng rộng rãi hơn.
1.2.2 Máy điện báo (Telex) và Fax.
Máy Fax có thể thay thế dịch vụ đa th và gửi công văn truyền thống; và nay gần
nh đã thay thế hẳn máy Telex chỉ truyền đợc lời văn.
1.2.3 Truyền hình
Toàn thế giới có khoảng 1 tỷ máy thu truyền hình, truyền hình đóng vai trò
quan trọng trong thơng mại, nhất là trong quảng cáo hàng hoá, song truyền hình chỉ
là một công cụ viễn thông một chiều, qua truyền hình khách hàng không thể tìm
kiếm đợc các chào hàng, không thể đàm phán với ngời bán về các điều khoản mua
bán.
1.2.4 Thiết bị kỹ thuật thanh toán điện tử.
Thanh toán là khâu quan trọng nhất của thơng mại, và TMĐT không thể thiếu
đợc công cụ thanh toán điện tử thông qua các hệ thống thanh toán điện tử thông qua
trong quá trình toàn cầu hoá, khu vực hoá và hiệu quả hoá, cả hai xu hớng ấy đều đòi
9
hỏi phải sử dụng triệt để Internet và Web nh các phơng tiện đã đợc quốc tế hoá cao
độ và có hiệu quả sử dụng cao.
1.3-/ Các hình thức hoạt động thơng mại điện tử.
1.3.1 Th tín điện tử.
Các đối tác sử dụng hòm th điện tử để gửi th cho nhau một cách trực tuyến
thông qua mạng gọi là th tín điện tử (e-mail). Đây là thể thông tin ở dạng phi cấu trúc
nghĩa là thông tin không phải tuân thủ một cấu trúc đã thoả thuận.
1.3.2 Thanh toán điện tử:
Là việc thanh toán tiền thông qua thông điệp điện tử thay vì việc giao tay tiền
mặt; việc trả lơng bằng cách chuyển tiền trực tiếp vào tài khoản, trả tiền mua hàng
bằng thẻ mua hàng,... là các dạng của thanh toán điện tử. Ngày nay thanh toán điện
tử đã mở rộng sang các lĩnh vực mới đó là:
Trao đổi dữ liệu điện tử tài chính:
Phục vụ cho việc thanh toán điện tử giữa các công ty.
Tiền mặt Internet:
Là tiền đợc mua từ một nơi phát hành sau đó đợc chuyển đổi tự do sang các
đồng tiền khác thông qua Internet, áp dụng trong phạm vi một nớc cũng nh các quốc
gia, đợc thực hiện bằng kỹ thuật số hoá tiền đợc gọi là tiền mặt số hoá.
Túi tiền điện tử:
Là nơi để tiền mặt Internet mà chủ yếu là thẻ khôn minh, kỹ thuật của nó là
mã hoá khoá công khai/bí mật.
Thẻ khôn minh:
ở mặt sau của thẻ là một chip máy tính điện tử có bộ nhớ để lu trữ tiền số hoá, tiền ấy
chỉ đợc chi trả khi ngời sử dụng và thông điệp đợc xác thực là đúng.
Giao dịch ngân hàng số hoá:
Là giao dịch chứng khoán số hoá.
10
1.3.3. Trao đổi dữ liệu điện tử (EDI):
Mua hàng bằng giỏ hàng điện tử 31,47% 10,21%
Phần mềm máy tính điện tử 10,39% 5,11%
Phần cứng máy tính điện tử 2,10% 6,81%
Sách báo 2,62% 1,28%
Nhạc 2,62% 1,7%
Lữ hành (chọn tuyến đi, mua vé máy bay) 18,35% 10,21%
Đặt mua vé (xem hát, phim,...) 1,41% 1,7%
Điện thoại 1,05% 5,11%
Quảng cáo 1,05% 6,81%
Tổng số 100% 100%
1.4-/ Giao dịch TMĐT:
Ngời với ngời.
Qua điện thoại, máy Fax và th điện tử.
Ngời với máy tính điện tử.
Trực tiếp hoặc qua các mẫu biểu điện tử.
Máy tính điện tử với máy tính điện tử.
Qua trao đổi dữ liệu điện tử (EDI) thẻ khôn minh, các dữ liệu mã hoá bằng vạch.
Máy tính điện tử với ngời.
Qua th tín do máy tính tự động sản ra, máy Fax, và th điện tử.
1.5-/ Các bên tham gia TMĐT:
Giữa doanh nghiệp với ngời tiêu thụ.
Giao dịch qua điện thoại, các biểu mẫu điện tử, th điện tử, fax. Mục đích giúp
ngời tiêu thụ có thể mua hàng tại nhà.
Giữa các doanh nghiệp với nhau.
12
Giao dịch qua EDI, các biểu mẫu điện tử, thẻ khôn minh, mã vạch. Trao đổi dữ
liệu mua bán và thanh toán hàng hoá và lao vụ mục đích đạt hiệu quả cao trong kinh
doanh.
Giữa doanh nghiệp với các cơ quan Chính phủ.
Dùng điện thoại, E-mail, Fax, các biểu mẫu điện tử. Nhằm mục đích mua sắm
đạt 30%. Điều quan trọng là các nhân viên có năng lực đợc giải phóng khỏi nhiều
công đoạn sự vụ có thể tập trung vào nghiên cứu phát triển sẽ đa đến những lợi ích to
lớn lâu dài.
2.3-/ Giảm chi phí bán hàng và tiếp thị:
TMĐT giúp giảm chi phí bán hàng và chi phí tiếp thị bằng phơng tiện
Internet/Web, một nhân viên bán hàng có thể giao dịch đợc với rất nhiều khách hàng,
ca-ta-lô điện tử trên Web phong phú hơn nhiều và thờng xuyên cập nhật so với ca-ta-
lô in ấn chỉ có khuôn khổ giới hạn và luôn luôn lỗi thời.
2.4-/ Giảm chi phí giao dịch:
TMĐT giúp cho các doanh nghiệp giảm đáng kể thời gian và chi phí giao dịch.
Thời gian giao dịch qua Internet chỉ bằng 7% thời gian giao dịch qua Fax, và bằng
khoảng 0,5 phần nghìn thời gian giao dịch qua bu điện. Trong khi dó chi phí giao
dịch qua Internet chỉ bằng khoảng 5% chi phí giao dịch qua Fax hay qua bu điện
chuyển phát nhanh.
Nh vậy TMĐT giúp cho các doanh nghiệp giảm đợc chi phí về tiền và chi phí thời
gian, tăng chu kỳ hoạt động kinh doanh, tận dụng cơ hội trong kinh doanh.
2.5-/ Giúp thiết lập và củng cố quan hệ đối tác:
TMĐT tạo điều kiện cho việc thiết lập và củng cố mối quan hệ giữa các thành
tố tham gia vào quá trình thơng mại. Thông qua mạng các thành tố tham gia có thể
giao tiếp trực tiếp và liên tục với nhau gần nh không còn khoảng cách địa lý và thời
14
gian nữa. Nhờ đó cả sự hợp tác lẫn sự quản lý đều đợc tiến hành nhanh chóng, liên
tục.
2.6-/ Tạo điều kiện sớm tiếp cận kinh tế số hoá:
TMĐT sẽ kích thích sự phát triển của ngành công nghiệp thông tin là ngành có
lợi nhuận cao nhất và đóng vai trò lớn trong nền kinh tế, góp phần sớm tiếp cận với
nền kinh tế số hoá.
Lợi ích này có một ý nghĩa đặc biệt đối với các nớc đang phát triển: nếu không
nhanh chóng tiếp cận vào nền kinh tế số hoá, hay còn gọi là nền kinh tế ảo thì sau
khoảng một thập kỷ nữa các nớc phát triển sẽ bỏ rơi hoàn toàn.
các dung liệu và các dịch vụ mua bán qua mạng. Đòi hỏi phải có một môi trờng kinh tế
đã tiêu chuẩn hoá ở mức cao, với các khía cạnh của TMĐT đợc phản ánh đầy đủ trong
hệ thống nội luật. Trên bình diện quốc tế, vấn đề môi trờng pháp lý còn phức tạp hơn
nữa, vì các trao đổi là xuyên quốc gia, đòi hỏi phải có sự hài hoà giữa các hệ thống pháp
luật và hệ thống chính trị khác nhau.
3.5-/ Tác động văn hoá xã hội:
Internet là công cụ giao tiếp hữu hiệu, nó góp phần chuyển tải thông tin nhanh
nhất, nhng đồng thời bọn phản xã hội có thể lợi dụng Internet để làm hòm th giao
dịch buôn bán dâm, mua bán ma tuý, buôn lậu, có thể thông tin những thông tin không
xác thực ảnh hởng đến uy tín của cá nhân, tổ chức, thậm chí là Chính phủ của một nớc
nào đó. Đòi hỏi phải có phơng pháp giữ gìn bí mật riêng.
3.6-/ Hệ thống thanh toán tự động:
Đòi hỏi phải có một hệ thống thanh toán tài chính ở mức độ phát triển đủ cao,
cho phép tiến hành thanh toán tự động (thẻ khôn minh). Khi cha có hệ thống thanh
toán này thì TMĐT chỉ giới hạn trong khâu trao đổi tin tức, còn việc buôn bán hàng
hoá và dịch vụ vẫn phải kết thúc bằng trả tiền trực tiếp hoặc qua các phơng tiện thanh
toán truyền thống, hiệu quả sẽ thấp và rất có thể không đủ bù đắp chi phí TMĐT.
3.7-/ Bảo vệ sở hữu trí tuệ:
16
Tài sản của con ngời, của quốc gia đang quy dần về tài sản chất xám, thông
tin trở thành tài sản và bảo vệ tài sản cuối cùng sẽ trở thành bảo vệ sở hữu trí tuệ. Vì
thế trong việc truyền gửi các dung liệu qua mạng nổi lên vấn đề bảo vệ sở hữu chất
xám và bản quyền của các thông tin ở khía cạnh phức tạp hơn nhiều so với bảo vệ sở
hữu trí tuệ trong kinh tế vật thể.
3.8-/ Bảo vệ ngời tiêu dùng:
Đây là mục tiêu ngày càng đề cao trong thơng mại. Quy cách, phẩm chất hàng
hoá, các thông tin có liên quan trong TMĐT đều ở dạng số hoá, nên ngời mua chịu rủi
ro lớn hơn so với giao dịch thơng mại vật thể. Vì ngời mua không thể nếm thử hay dùng
thử hàng hoá trớc khi mua, và còn khả năng nhầm lẫn các cơ sở dữ liệu, bị lừa gạt bởi
các thông tin và các tổ chức phi pháp có mặt trên mạng.
ngày càng đông ngời tiêu dùng ở nhiều nớc trên thế giới. TMĐT là xu hớng mới của
thế kỷ 21.
Theo số liệu thống kê của hãng nghiên cứu thị trờng quốc tế IDC (International
Date Corporation) thì giá trị giao dịch TMĐT toàn cầu trên Web đã tăng từ 0,3 tỷ
USD trong năm 1995 lên hơn 12 tỷ USD trong năm 1997, năm 1998 là 39,9 tỷ USD
và dự báo năm 2000 gần 200 tỷ USD.
Biểu đồ sự phát triển TMĐT toàn cầu
Nguồn: Thời báo Kinh tế Việt Nam (27/4/99)
19
0.3
2.2
12.9
39.9
95.2
189.9
299.0
443.3
0
50
100
150
200
250
300
350
400
450
Tỷ USD
1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002
Năm
Theo số liệu khảo sát của nhóm công tác thuộc OECD trong 1997 Phần Lan có
mc sử dụng TMĐT giữa các doanh nghiệp vừa và nhỏ cao nhất với 42%. Công ty sử
dụng mạng Internet tiếp theo là Italia 41% và Anh là 37%. Theo dự báo doanh số
TMĐT đến năm 2000 giữa các công ty là 171 tỷ USD, còn giao dịch giữa ngời tiêu
dùng và doanh nghiệp là 10 tỷ USD.
Đây là dấu hiệu đáng mừng cho phát triển TMĐT.
2-/ Sơ lợc TMĐT ở một số nớc:
Mỹ:
Công nghệ thông tin ở Mỹ đã phát triển cao trong các năm 1995-1997 đã đóng
góp 28-41% tổng số gia tăng của GDP. Về máy tính điện tử hiện nay cứ 100 gia đình
có 38 gia đình có máy (38%). Mỹ đang chiếm tỷ trọng trên 70% chi phí giao dịch
trong nền kinh tế chiếm 45% GDP. TMĐT có ý nghĩa sống còn đối với Mỹ nhờ đó
chi phí giao dịch có thể giảm hàng trăm lần.
Tuy nhiên các doanh nghiệp vẫn còn một số vấn đề lo ngại sau:
- Thiếu một môi trờng pháp lý có thể tiên liệu đợc.
- Lo ngại Chính phủ sẽ đánh thuế quá mức, kiểm soát quá mức hoặc kiểm duyệt
Internet.
- Các lo ngại về năng lực hoạt động, độ tin cậy và tính an toàn của Internet.
Nhật Bản:
Nền công nghệ thông tin của Nhật chỉ mạnh về phần cứng, sự xâm nhập của
công nghệ thông tin vào đời sống xã hội cũng thấp so với các nớc Tây Âu hiện nay
cứ 100 hộ thì có 20 hộ có máy tính điện tử.
Đầu năm 1995 Chính phủ Nhật lập ra hội đồng xúc tiến TMĐT với nhiệm vụ
vạch ra phơng hớng và hỗ trợ phát triển các cơ sở hạ tầng công nghệ và xã hội cần
thiết cho TMĐT. Hội đồng đang hỗ trợ cho các dự án xây dựng các cửa hàng ảo, các
tiêu chuẩn cho thông tin sản phẩm, vấn đề bảo mật, an toàn,...
Liên minh Châu Âu (EU):
21
Công nghệ thông tin ở Châu Âu đã phát triển cao cả phần cứng và phần mềm,
đó là nền tảng vững chắc cho TMĐT.
Cho tới nay máy vi tính nhập vào Việt Nam lên tới trên 500 nghìn chiếc, ngoài
ra có 1 số máy tính thế hệ mới loại lớn, và khoảng 200 máy mini.
Máy tính cá nhân lắp ráp trong nớc đang phát triển nhanh và theo ớc tính đã
chiếm khoảng 70% thị phần, với khối lợng sản xuất 80-100 nghìn máy một năm,
doanh số năm 1998 là 65 triệu USD, dự báo 1999 là 100 triệu USD.
Tại nhiều cơ quan và doanh nghiệp, dữ liệu có cấu trúc đã đợc quản lý bằng
nhiều hệ quản trị cơ sở dữ liệu khác nhau (chủ yếu là DBase, Fox, Access, Oracle,
SQL server), cũng đã sử dụng một số phần mềm nhóm nh: MS Office, Teammoric,
Lotus Notes. Đang xây dựng 6 cơ sở dữ liệu quốc gia cỡ lớn phục vụ mục tiêu tin học
hoá quản lý Nhà nớc.
Một số mạng máy tính (LAN, Intranet) chạy trên các nền khác nhau (Novell
Netuare UNIX, Linux, Windows NT,...) đã đợc triển khai nh: mạng của văn phòng Chính
phủ, mạng của Bộ quốc phòng, mạng của Bộ tài chính, Bộ thơng mại,...
Tới năm 1993, gần 99% máy tính nằm trong các tổ chức Nhà nớc, hiện nay bức tranh
này đã thay đổi đáng mừng 75% ở các cơ quan Nhà nớc và doanh nghiệp, 10% ở các cơ
quan nghiên cứu và quốc phòng, 10% ở các cơ sở giáo dục, 5% ở hộ gia đình.
Do máy tính nhập vào nhiều loại rất kém chất lợng, hỏng hóc. Nên thực tế hiện
nay số máy đang hoạt động khoảng 350 nghìn chiếc, tức là cờng độ trang bị máy mới
đạt khoảng gần 5 máy/1.000 ngời, với mác máy bình quân tơng đối thấp (ở Tổng cục
bu điện 90% là máy 486 trở xuống).
Cờng độ sử dụng máy còn thấp, hầu nh ở nhiều cơ quan xí nghiệp máy vi tính
đợc sử dụng nh một máy đánh chữ là chính.
23
Trang bị công nghệ thông tin mất cân đối lớn, phần cứng chiếm tới 80% tổng chi phí
(lẽ ra trong giai đoạn này phần mềm phải chiếm 35%, nếu tính cả xây dựng đề án, đào tạo,
triển khai, bảo hành,... cũng là yếu tố phần mềm thì tỷ trọng phải là 60%).
Công nghiệp phần mềm ở ta ít phát triển chủ yếu là dịch vụ cài đặt và hớng dẫn
sử dụng, sản phẩm phần mềm chủ yếu là các chơng trình văn bản Tiếng Việt, giáo
dục, văn hoá, kế toán, thống kê,... Các công ty trong nớc mới đạt 10% phần mềm và
thị phần.
1000 triệu phút liên lạc viễn thông qua vệ tinh đã đợc ứng dụng, sử dụng vệ tinh của
nớc ngoài. Các thiết bị và công nghệ điều khiển tự động tiên tiến đã đợc áp dụng
trong ngành địa chính (công nghệ định vị vệ tinh toàn cầu GPS: Global Positioning
System), ngành hàng không.
Năm 1993, tổng cục Bu chính viễn thông thiết lập một mạng toàn quốc truyền dữ
liệu trên X25, gọi là VietPac, nối 32 tỉnh và thành phố, nhng mạng này không đủ đáp
ứng nên gần đây Tổng cục đã phát triển một mạng khung toàn quốc tên là VNN nối với
Internet và các mạng nội bộ của các cơ quan và t nhân.
VNN là mạng quốc gia đờng dào có 2 cổng đi quốc tế, một ở Hà Nội, và một ở TP.
HCM. Cổng Hà Nội có 2 đờng quốc tế, một đợng vận tốc 256 Kb/sec nối với Ôxtrâylia
qua vệ tinh, một có vận tốc 2 Mb/sec nối với Hồng Kông bằng cáp quang.
Cổng ở TP. HCM cũng có đờng nối với Mỹ, vận tốc 64 KB/sec bằng cáp quang.
Mạng khung Bắc - Nam có hai đờng trung tuyến vận tốc 2 Mb/sec (hớng là 8-
10 Mb/sec và một đờng dự phòng 192 Kb/sec nối với mạng X. 25).
VNN có thể cung cấp dịch vụ nối mạng khung cho khoảng 30 mạng biệt lập và
các dịch vụ nối mạng Internet với vận tốc 64 Kb/sec.
25