MỤC LỤC
1
LỜI MỞ ĐẦU
Quốc gia là một con thuyền, doanh nghiệp là những tay chèo, con thuyền đất
nước chỉ lướt tới đích nếu các tay chèo nhịp nhàng, phối hợp”. Đó là luận điểm của
Robert S.Kaplan – một giáo sư chuyên nghành kế toán & quản trị kinh doanh tại
trường đại học Harvard, là đồng chủ tịch cao cấp của tập đoàn Palladium Group và
là cha đẻ của mô hình Balarced Scorecard. Luận điểm đó được ông nêu ra trong
buổi lễ trao giải 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam năm 2009.Câu nói đó cho
thấy mỗi doanh nghiệp đều có vai trò quan trọng trong sự phát triển của mỗi quốc
gia. Dễ thấy, trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp không hoạt động đơn lẻ
một mình mà có quan hệ với các nhà đầu tư, các chủ nợ, các cơ quan quản lý nhà
nước, khách hàng….Các nhà đầu tư hiện hành hay tiềm năng khi quyết định đầu tư
vốn vào doanh nghiệp rất quan tâm đến khả năng sinh lời trên đồng vốn đầu tư và
mức rủi ro khi đầu tư vốn.Trong khi đó các chủ nợ lại quan tâm đến khả năng trả
gốc và lãi của doanh nghiệp có quan hệ tín dụng. Các cơ quan quản lý nhà nước lại
quan tâm đến tình hình hoạt động của doanh nghiệp để đưa ra các chính sách kinh
tế - tài chính phù hợp, sao cho doanh nghiệp phát triển đúng hướng và thực hiện tốt
nghĩa vụ đối với nhà nước.
Như vậy các nhà quản trị doanh nghiệp và các bên có liên quan đều muốn
biết tình hình tài chính của doanh nghiệp như thế nào, cơ cấu vốn, khả năng sinh
lời, khả năng thanh toán….Để có câu trả lời cho vấn đề nêu trên họ phải thực hiện
phân tích tài chính của doanh nghiệp, do đó phân tích tài chính là khâu rất quan
trọng trong hoạt động của doanh nghiệp. Xuất phát từ những nhận thức đó cùng
với thực tiễn của việc phân tích tài chính ở công ty Cổ phần Cơ khí Xây lắp hoá
chất nên tôi đã chọn đề tài “Phân tích tài chính và các giải pháp nâng cao năng
lực tài chính của công ty Cổ phần Cơ khí Xây lắp Hoá chất” với mong muốn
đóng góp 1 số kiến giải nhằm góp phần nâng cao năng lực tài chính tại công ty.
2
Đề tài nghiên cứu bố cục thành 3 chương:
CHƯƠNG 1- LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH VÀ NĂNG
xuất kinh doanh của doanh nghiệp như thế nào có hiệu quả hay không, cơ cấu vốn,
4
khả năng thanh toán… thông qua việc phân tích tài chính. Đây chính là cơ sở để
các nhà quản lý doanh nghiệp đưa ra các quyết định cần thiết có hiệu quả để thực
hiện các mục tiêu của doanh nghiệp và là cơ sở để định hướng cho Ban giám đốc,
Giám đốc tài chính xây dựng các kế hoạch đầu tư, dự báo tài chính, kiểm soát các
hoạt động của doanh nghiệp
• Đối với các nhà đầu tư
Các nhà đầu tư ở đây chính là các tổ chức và cá nhân giao vốn cho doanh
nghiệp sử dụng và sẽ chấp nhận chịu chung mọi rủi ro mà doanh nghiệp gặp phải.
Thu nhập của họ bao gồm: tiền chia lợi tức và giá trị tăng thêm của vốn đầu tư. Hai
yếu tố chịu ảnh hưởng của lợi nhuận kỳ vọng của doanh nghiệp. Đối với các nhà
đầu tư lớn họ thường dựa vào các nhà chuyên môn, các chuyên gia phân tích tài
chính, các nhà nghiên cứu kinh tế tài chính để phát triển và làm dự báo về triển
vọng phát triển của doanh nghiệp, đánh giá cổ phiếu của doanh nghiệp, khả năng
đảm bảo mức lợi tức mà họ yêu cầu. Đối với các nhà đầu tư hiện tại cũng như các
nhà đầu tư tiềm năng thì mối quan tâm của họ trước hết là việc đánh giá những đặc
điểm đầu tư của doanh nghiệp. Họ quan tâm tới an toàn trong đầu tư và mức lợi tức
kỳ vọng được phản ánh thông qua điều kiện tài chính của doanh nghiệp và tình
hình hoạt động tài chính. Các nhà đầu tư này quan tâm tới phân tích tài chính để
nhận biết khả năng sinh lời của doanh nghiệp, khả năng tăng trưởng và phát triển
của doanh nghiệp, những rủi ro mà doanh nghiệp có thể phải hứng chịu. Thông qua
đó để họ đưa ra quyết định đầu tư một cách có hiệu quả nhất: có nên bỏ vốn đầu tư
vào doanh nghiệp hay không, nếu đầu tư thì với khối lượng bao nhiêu và trong thời
gian bao lâu?
• Đối với người cho vay
Người cho vay là ngân hàng, các công ty tài chính… họ phân tích tài chính để
nhận biết khả năng vay và trả nợ của khách hàng.Khi quyết định cho vay thì một
5
trong những vấn đề mà người cho vay cần xem xét là doanh nghiệp thực sự có nhu
việc so sánh.
- So sánh theo chiều ngang để thấy được sự biến động cả về sốtuyệt đối và số
tương đối của một khoản mục nào đó qua các niên độ kếtoán liên tiếp. Khi sử
dụng phương pháp so sánh phải tuân thủ 2 điều kiện sau:
- Điều kiện một: Phải xác định rõ “gốc so sánh” và “kỳ phân tích”.
- Điều kiện hai: Các chỉ tiêu so sánh (Hoặc các trị số của chỉ tiêu so sánh) phải
đảm bảo tính chất có thể so sánh được với nhau. Muốn vậy, chúng phải thống nhất
với nhau về nội dung kinh tế, về phương pháp tính toán, thời gian tính toán.
• Phương pháp tỷ lệ
Phương pháp này dựa trên các ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của đại lượng tài
chính trong các quan hệ tài chính. Về nguyên tắc, phương pháp này yêu cầu phải
xác định được các ngưỡng, các định mức để nhận xét, đánh giá tình hình tài
chính doanh nghiệp, trên cơ sở so sánh các tỷ lệ của doanh nghiệp với giá trị các tỷ
lệ tham chiếu. Đây là phương pháp có tính hiện thực cao với các điều kiện được áp
dụng ngày càng được bổ sung và hoàn thiện hơn. Vì:
7
- Nguồn thông tin kế toán và tài chính được cải tiến và cung cấp đầy đủ hơn là cơ
sở để hình thành những tham chiếu tin cậy nhằm đánh giá một tỷ lệ của một doanh
nghiệp hay một nhóm doanh nghiệp.
- Việc áp dụng tin học cho phép tích luỹ dữ liệu và thúc đẩy nhanh quá trình tính
toán hàng loạt các tỷ lệ.
- Phương pháp này giúp các nhà phân tích khai thác có hiệu quảnhững số liệu và
phân tích một cách hệ thống hàng loạt tỷ lệ theo chuỗi thời gian liên tục hoặc theo
từng giai đoạn.
• Phương pháp Dupont.
Dupont là tên của một nhà quản trị tài chính người Pháp tham gia kinh doanh
ở Mỹ.Dupont đã chỉ ra được mối quan hệ tương hỗ giữa các chỉ sốhoạt động trên
phương diện chi phí và các chỉ số hiệu quả sử dụng vốn.
Đối với hoạt động tài chính doanh nghiệp,phân tích Dupont là một công cụ
phổ biến và thiết yếu.Đây là một công cụ đơn giản nhưng vô cùng hiệu quả cho
1.1.4.2Phân tích bảng cân đối kế toán
• Phân tích kết cấu tài sản
Phân tích kết cấu tài sản là việc so sánh tổng hợp số vốn cuối kỳ với đầu năm,
ngoài ra ta còn xem xét từng khoản vốn (tài sản) của doanh nghiệp chiếm trong
tổng số để thấy được mức độ đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
Phân tích tình hình tài sản ta sẽ lập bảng phân tích tình hình phân bổ vốn. Trên
bảng phân tích này ta lấy từng khoản vốn (tài sản) chia cho tổng số tài sản sẽ biết
được tỷ trọng của từng khoản vốn chiếm trong tổng số là cao hay thấp. Tùy theo
9
loại hình kinh doanh mà ta xem xét. Nếu là doanh nghiệp sản xuất phải có lượng
dự trữ và nguyên vật liệu đầy đủ để cung cấp cho nhu cầu bán ra kỳ tới…
Đối với các khoản nợ phải thu tỷ trọng càng cao thể hiện doanh nghiệp bị chiếm
dụng vốn nhiều, hiệu quả sử dụng vốn thấp
Phân tích kết cấu nguồn vốn
Ngoài việc phân tích cơ cấu tài sản, các chủ doanh nghiệp, kế toán trưởng và
các nhà đầu tư, các đối tượng quan tâm khác cần phân tích kết cấu nguồn vốn
nhằm đánh giá được khả năng tự tài trợ về mặt tài chính của doanh nghiệp cũng
như mức độ tự chủ, chủ động trong kinh doanh hay những khó khăn mà doanh
nghiệp phải đương đầu.
Cũng như phân tích kết cấu tài sản, ta cũng lập bảng phân tích kết cấu nguồn vốn
để xem xét tỷ trọng từng khoản, nguồn vốn chiếm trong tổng số là cao hay thấp.
1.2. Năng lực tài chính doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm
Năng lực tài chính của doanh nghệp là khả năng đảm bảo về nguồn lực tài
chính cho doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có đủ năng lực tài chính là doanh
nghiệp có đủ điều kiện đảm bảo vốn cho doanh nghiệp tiến hành các họat động đầu
tư, họat động sản xuất kinh doanh hướng tới đạt được mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận
hướng tới tối đa hóa giá trị doanh nghiệp
Như vậy, năng lực tài chính của doanh nghiệp bao gồm khả năng mở rộng
Khả năng thanh toán nhanh
11
Tỷ số này cho biết khả năng thanh toán thực sự của doanh nghiệp và được
tính toán dựa trên các tài sản lưu động có thể chuyển đổi nhanh thành tiền để đáp
ứng những yêu cầu thanh toán cần thiết.
Tỷ số thanh toán nhanh được tính theo công thức:
Tỷ số thanh toán nhanh =
Tài sản ngắn hạn – Hàng tồn kho
Nợ ngắn hạn
Tỷ số này càng lớn thể hiện khả năng thanh toán nhanh càng cao. Tuy nhiên
hệ số này lớn lại gây tình trạng mất cân đối của vốn lưu động, tập trung quá nhiều
vào vốn bằng tiền, đầu tư ngắn hạn hoặc các khoản phải thu… có thể không hiệu
quả.
Khả năng thanh toán nợ dài hạn
Hệ số này phản ánh khả năng doanh nghiệp có đủ khả năng thanh toán các
khoản nợ dài hạn không. Hệ số này cho biết tương ứng với 1 đồng nợ dài hạn thì
có bao nhiêu đồng tài sản dài hạn sẵn sàng chi trả. Hệ số khả năng thanh toán nợ
dài hạn được xác định theo công thức:
Hệ số khả năng thanh toán nợ dài hạn > 1 phản ánh khả năng thanh toán
của doanh nghiệp là tốt.Ngược lại nếu hệ số này < 1 thì khả năng thanh toán của
doanh nghiệp là xấu.
1.2.2.2. Các chỉ tiêu phản ánh mức độ độc lập về mặt tài chính
Hệ số nợ
12
Hệ số khả năng thanh toán nợ dài hạn =
Tài sản dài hạn
Tổng nợ dài hạn
Hệ số nợ (hay tỷ số nợ) là tỷ số giữa tổng số nợ trên tổng tài sản của doanh
nghiệp.
Tỷ số nợ =
phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu
Vòng quay vốn chủ sở hữu =
Doanh thu thuần
Vốn chủ sở hữu bình quân
Vòng quay hàng tồn kho
Tỉ số này đo lường mức doanh số bán liên quan đến mức độ tồn kho của các
loại hàng hoá thành phẩm, nguyên vật liệu.
Tỉ số này được tính theo công thức:
Tỷ số vòng quay tồn kho =
Doanh thu thuần
Trị giá hàng tồn kho bình quân
Vòng quay tồn kho càng cao càng chứng tỏ (số ngày cho 1 vòng ngắn) càng
tốt; tuy nhiên, với số vòng quá cao sẽ thể hiện sự trục trặc trong khâu cung cấp,
hàng hoá dự trữ không kịp cung ứng kịp thời cho khách hàng, gây mất uy tín
doanh nghiệp.
Vòng quay các khoản phải thu
Vòng quay các khoản phải thu =
Doanh thu thuần
Các khoản phải thu bình quân
Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích các khoản phải thu quay được bao
nhiêu vòng. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ công tác thu hồi nợ của doanh nghiệp
càng tốt. Để thể hiện rõ về công tác thu hồi nợ cổ thể sử đụng chỉ tiêu Kỳ thu tiền
bình quân.
Kỳ thu tiền bình quân =
Số ngày trong kỳ
Số vòng quay các khoản phải thu
14
Kỳ thu tiền bình quân cho biết số ngày trong 1 vòng quay các khoản phải thu.
Số ngày trong 1 vòng càng ít càng tốt.
Hệ số trên về nguyên tắc càng thấp càng tốt; tuy nhiên phải căn cứ vào chiến
Suất sinh lợi của vốn chủ sở hữu (ROE)
ROE =
Lợi nhuận sau thuế
Vốn chủ sở hữu bình quân
Khả năng sinh lợi của vốn chủ sở hữu ( ROE ) là chỉ tiêu phản ánh khái quát
nhất hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Khi xem xét ROE, các nhà , quản lý
biết được một đồng vốn chủ sở hữu đầu tư vào kinh doanh đem lại bao nhiêu đồng
lợi nhuận sau thuế. Trị số ROE càng cao hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu càng
cao và ngược lại.
Suất sinh lợi của doanh thu (ROS)
ROS =
Lợi nhuận sau thuế
Doanh thu thuần
Chỉ tiêu này phản ánh kết quả tiêu thụ , 1 đồng doanh thu thì thu được bao
nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế.
1.2.2.5. Các chỉ tiêu phản ánh khả năng tăng trưởng
Một số chỉ tiêu phản ánh khả năng tăng trưởng
Lợi nhuận giữ lại
Tỷ lệ lợi nhuận giữ lại =
Thu nhập giữ lại
Lợi nhuận sau thuế
Tốc độ tăng trưởng bền vững
Ta biết rằng: vốn chủ sở hữu (bằng thu nhập giữ lại) và nợ vay tăng theo một
tỷ lệ thì cấu trúc tài chính không thay đổi. Như vậy thì tỷ lệ tăng vốn chủ và nợ
16
vay quyết định tỷ lệ gia tăng tài sản mà tỷ lệ gia tăng tài sản giới hạn tỷ lệ tăng
trưởng của doanh thu. Do đó tốc độ tăng trưởng bền vững :
T
bv
=
17
Trong đó: Tỷ lệ lợi nhuận giữ lại phản ánh thái độ của lãnh đạo doanh nghiệp
tong việc phân chia lợi nhuận, đòn bẩy tài chính cho biết chính sách của doanh
nghiệp trong việc sử dụng đòn bẩy tài chính.
Tbv phụ thuộc vào 4 nhân tố. Nếu 1 trong 4 hệ số trên thay đổi thì Tbv cũng
sẽ thay đổi theo. Điều đó nói lên rằng: Muốn cổ tốc độ tăng trưởng lớn hơn so vởi
tỷ lệ tăng trưởng bền vững đã xác định thì tốt nhất là tác động vào (2) và (3) tức là
cải thiện tình hình hoạt động nếu không phải chuẩn bị phương án thay đổi chính
sách tài chỉnh.
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến tình hình tài chính doanh nghiệp
1.3.1 Nhân tố khách quan
-Môi trường pháp lý bao gồm: Luật, các văn bản dạng luật ảnh hưởng tới quá
trình kinh doanh của doanh nghiệp. Nhờ môi trường này, các doanh nghiệp thuộc
các thành phần kinh tế bình đẳng cạch tranh trong kinh doanh.
-Môi trường kinh tế và các chính sách kinh tế của nhà nước bao gồm: Các
chính sách đầu tư, các chính sách kinh tế vi mô Vai trò của nhà nước là điều tiết
các hoạt động đầu tư, các chính sách kinh tế phù hợp và thống nhất với môi trường
hiện tại.Một môi trường kinh tế tốt sẽ giúp cho các doanh nghiệp có các quyết
định đúng đắn về hoạt động kinh doanh của mình.
-Tốc độ tăng trưởng kinh tế có thể tạo ra sự hấp dẫn của thị trường. Nếu tốc độ
kinh tế của nhà nước cao và ổn định thì nó sẽ tạo ra một môi trường kinh doanh
ổn định cho doanh nghiệp hoạt động và dử dụng hiộu quả các nguồn lực của
mình. Ngược lại, tăng trưởng kinh tế của đất nước không ổn định sẽ ảnh hưởng
xấu đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như thị trường của doanh
nghiệp bị thu hẹp, nguồn lực sử dụng bi lãng phí do không hiệu quả
-Mức thu nhập cao và ổn định tức là khả năng tiêu dùng thực tế của khách hàng
ngày càng tăng làm cho thị trường của doanh nghiệp được mở rộng và vấn đề
18
mở rộng sản xuất của doanh nghiệp được đặt ra
ễ
doanh nghiệp. Các chuyên gia tài chính của doanh nghiệp luôn phải đói mặt với 3
câu hỏi, đó là :
o Trong rất nhiều các cơ hội đầu tư thì doanh nghiệp sẽ phải đưa ra
quyết định lựa chọn cơ hội đầu tư nào?
o Doanh nghiệp nên dùng nguồn tài trợ nào để tài trợ cho nhu cầu vốn
đầu tư đã được hoạch định đó?
o Doanh nghiệp nên thực hiện phân phối kết quả hoạt động đó như thế
nào?
Câu hỏi thứ nhất liên quan đến việc chi tiêu tiền, câu hỏi thứ 2 liên quan đến việc
huy động vốn và câu hỏi thứ 3 liên quan đến sự kết hợp 1 và 2.
Như vậy nhà quản trị là đầu nối quan trọng giữa hoạt động của doanh nghiệp
và thị trường tài chính.Thị trường tài chính là nơi mà các nhà đầu tư nắm giữ tài
sản tài chính được phát hành bởi doanh nghiệp.
1.4. Một số biện pháp nhằm nâng cao năng lực tài chính trong doanh nghiệp
1.4.1. Biện pháp về mặt tổ chức
Nâng cao trình độ cho cán bộ công nhân viên, tay nghề cho người lao động,
hoàn thiện công tác tổ chức và quản lý nhân sự thông qua các khóa học ngắn hạn,
nâng cao công tác tô chức bộ máy doanh nghiệp năng động phù hợp với môi
trường kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả.
Tăng cường vai trò quản trị tài chính doanh nghiệp thông qua việc nâng cao
chất lượng phân tích tài chính doanh nghiệp.
1.4.2. Biện pháp về mặt tài chính
20
- Chủ động huy động vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh
- Có biện pháp quản lý và thu hồi nhanh các khoản nợ phải thu
- Tăng cường quản lý các khoản vôn băng tiên nhăm mục tiêu nâng cao khả
năng thanh toán
- Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động ừên cơ sở quản lý và sừ dụng có
hiệu quả tài sản lưu động: Tăng cường công tác quản lý TSLĐ, tìm biện
pháp nhằm rút ngắn thời gian ở mỗi khâu mà vốn lưu động đi qua, xác định
tháng 05 năm 1980.
Sau 23 năm hình thành, hoạt động và phát triển, trải qua rất nhiều khó khăn
trong thời kì Đổi mới, Xí nghiệp đã chứng tỏ được khả năng cạnh tranh, vị thế và
uy tín của mình trên thị trường các sản phẩm ngành cơ khí - xây lắp. Bởi vậy căn
cứ quyết định số 239/2003/QĐ - BCN ngày 29 tháng 12 năm 2003 của Bộ trưởng
Bộ Công nghiệp, Xí nghiệp Cơ khí Xây lắp Hóa chất trực thuộc Công ty Xây lắp
Hóa chất - Tổng Công ty Xây dựng Công nghiệp Việt Nam chuyển thành Công ty
22
Cổ phần Cơ khí Xây lắp Hóa chất trực thuộc Tổng Công ty Xây dựng Công nghiệp
Việt Nam. Lúc này, từ đơn vị cấp 2, công ty đã trở thành đơn vị cấp 1 trực thuộc
Tổng Công ty Công nghiệp Việt Nam
Các thông tin cơ bản về công ty là:
Tên doanh nghiệp: Công ty Cổ phần Cơ Khí Xây Lắp Hóa Chất
Tên giao dịch Tiếng Anh: Chemical Construction and Installation
MechanicalJoint Stock Company.
Tên viết tắt: CCIM.
Trụ sở chính: Km5 khu Lâm Sản, phường Sở Dầu, quận Hồng Bàng, thành
phố Hải Phòng.
Điện thoại: 84 - 31 - 3850432 / 3527395.
Fax: 84 - 31 - 3527561.
Email:
2.1.2. Đặc điểm sản xuất kinh doanh
2.1.2.1. Chức năng và nhiệm vụ của công ty
-Xây dựng và phát triển công ty trở thành nhà sản xuất,chế tạo, xây lắp các
công trình công nghiệp và dân dụng hàng đầu của Việt Nam
-Cung cấp cho khách hàng những sản phẩm dịch vụ hoàn hảo; những công
trình chất lượng cao
23
2.1.2.2. Đặc điểm hoạt động và sản xuất kinh doanh của công ty
Trải qua bề dày hoạt động sản xuất kinh doanh,Công ty cổ phần Cơ khí