NHẬN XÉT BƯỚC ĐẦU VỀ MỔ NỘI SOI LỒNG NGỰC TẠI KHOA NGOẠI LỒNG
NGỰC MẠCH MÁU BỆNH VIỆN CH RẪY
Đồng Lưu Ba, Huỳnh Quang Khánh, Nguyễn Công Minh, Hoàng Văn Thiệp và cs
TÓM TẮT:
Trong thời gian 18 tháng từ tháng 2/2004 đến tháng 8/2005, Khoa Ngoại Lồng Ngực Mạch
Máu bệnh viện Chợ Rẫy đã thực hiện được 292 trường hợp mổ nội soi lồng ngực. Trong đó,
mổ nội soi điều trò: 269 trường hợp (97.3%), mổ nội soi chẩn đoán: 23 trường hợp (2.7%). Các
bệnh nhân xuất viện với kết quả tốt. Có 5 trường hợp có biến chứng nhẹ, 1 trường hợp tử vong
liên quan đến hồi sức sau mổ.
Chúng tôi nhận thấy mổ nội soi lồng ngực tại bệnh viện Chợ Rẫy bước đầu có kết quả đáng
khích lệ, tuy nhiên cũng còn những khó khăn và sai sót cần khắc phục để đưa kỷ thuật mổ nội
soi lên một tầm cao mới.
SUMMARY:
SOME EXPERIENCES IN THORACOSCOPIC SURGERY AT THE THORACIC AND
VASCULAR SURGERY DEPARTMENT CHO RAY HOSPITAL
Dong Luu Ba, Huynh Quang Khanh, Nguyen Cong Minh, Hoang Van Thiep
During 18 months (from Feb 2004 to Aug 2005) at the Thoracic and Vascular Surgery
Department- Cho Ray hospital,
292 patients have been diagnosed and treated by
thoracoscopic surgery. Thoracoscopy for therapeutic purposes: 269 cases (97.3%), for
diagnosis purposes: 23 cases (2.7%). There were
5 cases with minor complications, and 1 case
died at postoperated room. Patients were discharge in good condition.
We realized that we had received much good result about thoracoscopic surgery at the
Thoracic and Vascular Surgery Department- Cho Ray hospital but there are some difficult and
mistake so we must overcome obstacles and difficulties. Dòch tệ quá !!!
I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Mổ nội soi để điều trò các bệnh trong lồng ngực và mạch máu đã được thực hiện nhiều năm
trước đây tại bệnh viện Chợ Rẫy. Tuy nhiên số bệnh nhân chưa nhiều, kỷ thuật nội soi còn
hạn chế.
Từ đầu năm 2004, khoa đã trang bò một máy nội soi chuyên dụng của hãng Olympus, nên số
Máu đông màng phổi 8 2.9
U phổi (nốt đơn độc) 7 2.6
Tràn dòch màng ngoài tim 3 1.1
U màng phổi 1 0.4
U màng tim 1 0.4
Tụ máu trung thất sau chấn thương 1 0.4
Tổng cộng 269 100
3. Kết quả điều trò:
- Tốt: 279 trường hợp (95.5%)
- Tử vong: 1 trường hợp (0.34%) do suy hô hấp sau mổ cắt tuyến hung điều trò nhược cơ.
- Không thực hiện được phẫu thuật nội soi phải chuyển mổ hở do không cắt được u hay do
chảy máu trong mổ không cầm được bằng nội soi: 5 trường hợp (1.7%).
- Biến chứng: 7 trường hợp (2.3%)
* Phẫu thuật cắt hạch giao cảm ngực:
Biến chứng Nguyên nhân Xử trí Kết quả Số TH
Tràn máu màng
phổi
Chảy máu chân
trocart
Đặt dẫn lưu màng
phổi
Phổi nở tốt. 1
Tràn khí dưới da ít Đuổi khí không tốt Không cần xử trí Hết tràn khí dưới
da sau 5 ngày.
1
Xẹp phổi, phát hiện
được trong lúc mổ,
sau mổ
Tắc đàm nhớt
1
Mủ màng phổi Sau mổ máu
đông màng phổi
nhiễm trùng
Mở ngực bóc vỏ phổi Theo dõi bệnh
nhân ổn đònh sau
2 tuần
1
Không có các biến chứng khác: nhiễm trùng, hội chứng Horner
IV. NHẬN XÉT VÀ BÀN LUẬN:
Nội soi lồng ngực đã được giới thiệu từ những năm đầu của thế kỷ 20. H. C Jacobeus đã sử
dụng ống kính soi bàng quang để thăm khám khoang lồng ngực dưới gây tê tại chỗ.
Năm 1976 Lewis đã báo cáo đề tài nội soi lồng ngực để chẩn đoán 40 trường hợp mà không
có biến chứng.
Những năm đầu của thập kỷ 80 của thế kỷ 20 nội soi lồng ngực với sự trợ giúp của hệ thống
máy quay hình ảnh (VATS) cộng với tiến bộ của gây mê hồi sức giúp cho việc thực hành
phẫu thuật nội soi trong lồng ngực
(10,12)
.
Tại Việt Nam mổ nội soi bụng đã thực hiện từ tháng 9 năm 1992 tại bệnh viện Chợ Rẫy. Từ
1996 mổ nội soi lồng ngực đã được thực hiện tại Khoa Ngoại Lồng Ngực Tim Mạch bệnh viện
Chợ Rẫy để điều trò các trường hợp tăng tiết mồ hôi tay và kỹ thuật này đã được dùng ở nhiều
bệnh viện với kết quả tốt
(6,7)
.
Mổ nội soi lồng ngực hiện nay đã áp dụng tại một số bệnh viện lớn
(1,4,5)
và đã có một số báo
cáo rút kinh nghiệm về kỹ thuật này. Trong 18 tháng chúng tôi đã thực hiện mổ nội soi cho
292 bệnh nhân với nhiều loại bệnh khác nhau và rút ra một số kinh nghiệm về chỉ đònh.
V. TÓM TẮT VÀ KẾT LUẬN:
Mổ nội soi lồng ngực đã được thực hiện thường quy tại Khoa Ngoại Lồng Ngực Mạch Máu
bệnh viện Chợ Rẫy.
Trong 18 tháng đã có 292 trường hợp được mổ với 94.1% phẫu thuật điều trò, và 7.9% phẫu
thuật làm sinh thiết chẩn đoán. Có 1 trường hợp chết do suy hô hấp sau mổ liên quan đến hồi
sức bệnh nhược cơ.
Chúng tôi nhận thấy mổ nội soi lồng ngực tại bệnh viện Chợ Rẫy đã bước đầu có kết quả tốt.
Việc chỉ đònh đúng sẽ giúp cho việc mổ hở giảm thiểu và rút ngắn thời gian điều trò cho người
bệnh.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
A.
TRONG NƯỚC:
1. Lê Nữ Hòa Hiệp:” Vai trò nội soi lồng ngực trong chẩn đoán nốt đơn độc ngoại
vi” Y học TP. Hồ Chí Minh tập 9: 11-15.
2. Huỳnh Quang Khánh: “ Phẫu thuật nội soi lồng ngực cắt hạch thần kinh giao
cảm điều trò tắc mạch mãn tính chi trên”. Y học thực hành số 491-2004.
3. Huỳnh Quang Khánh, Nguyễn Công Minh, Hoàng Văn Thiệp và cs: “ Các biến
chứng sớm trong phẫu thuật nội soi lồng ngực”. Hội nghò nội soi và phẫu thuật
nội soi. ĐHYD TP. HCM 2004: 418-425.
4. Phạm Gia Khánh và cs:” Một số nhận xét kết quả bước đầu về điều trò vết
thương phổi màng phổi bằng phẫu thuật nội soi lồng ngực tại bệnh viện 103”.
Hội nghò nội soi và phẫu thuật nội soi. ĐHYD TP. HCM 2004
5. Nguyễn Thanh Liêm, Lê Anh Dũng:” Những bài học từ 116 trường hợp phẫu
thuật nội soi lồng ngực trẻ em”. Hội nghò nội soi và phẫu thuật nội soi. ĐHYD
TP. HCM 2004
6. Nguyễn Công Minh, Huỳnh Quang Khánh và Cs: “Phẫu thuật nội soi lồng ngực
cắt hạch thần kinh giao cảm điều trò tắc mạch mãn tính chi trên”, Y học TP. Hồ
Chí Minh. Tập 7: 20-22.
7. Nguyễn Hoài Nam:” Những cải tiến trong điều trò chứng tăng tiết mồ hôi tay
bằng phẫu thuật nội soi lồng ngực”. Y học TP. Hồ Chí Minh. Tập 7: 26-29.