Ðề: Tài liệu tham khảo viết tiểu luận Tài chính - Tiền tệ
Mục lục Lời nói đầu 2
PHẦN 1: NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 3
1. Quá trình hình thành và phát triển của ngân sách Nhà nước 3
2. Khái niệm ngân sách Nhà nước 3
3. Đặc điểm của ngân sách Nhà nước 4
4. Khái quát vai trò ngân sách Nhà nước 6
PHẦN 2: PHÂN TÍCH VAI TRÒ CỦA NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 7
PHẦN 3: LIÊN HỆ VIỆC PHÁT HUY CÁC VAI TRÒ CỦA NGÂN SÁCH NHÀ
NƯỚC Ở VIỆT NAM 10
1. Thực trạng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam 12
2. Thực trạng vai trò ngân sách Nhà nước ở Việt Nam hiện nay 12 Kết luận . 19
Trên cơ sở nhận thức tầm quan trọng của vai trò ngân sách Nhà nước đó nhóm 6 –
CD11C1 đã thảo luận và cùng phân tích các vai trò của ngân sách Nhà nước.
Bài viết gồm 3 phần:
Phần 1: Những lý luận chung về ngân sách Nhà nước
Phần 2: Phân tích vai trò của ngân sách Nhà nước
Phần 3: Liên hệ việc phát huy vai trò ngân sách Nhà nước ở Việt Nam
Nhóm 6 – lớp CD11C1
PHẦN 1 : NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
I.Quá trình hình thành và phát triển của ngân sách Nhà nước.
Sự ra đời và tồn tại của ngân sách Nhà nước luôn gắn liền với sự ra đời và tồn tại của
Nhà nước và sự xuất hiện của sản xuất hàng hóa. Khi Nhà nước ra đời để đảm bảo cho sự
tồn tại của mình Nhà nước đã đặt ra chế đọ thuế khóa sử dụng công cụ chủ yếu là luật
pháp để bắt người dân phải nộp các khoản thu, các khoản thu này hình thành nên quỹ tiền
tệ của Nhà nước và nó được sử dụng để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước.
Trong buổi bình minh phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, giai cấp tư sản cần một
không gian kinh tế, tài chính thông thoáng cho sự tự do phát triển sản xuất kinh doanh.
Song những quy định về thể chế kinh tế tài chính của giai cấp phong kiến trong bước suy
tàn đã cản trở sự tự do kinh doanh của giai cấp tư sản. Đặc biệt là chế độ thuế khóa vô lý
tùy tiện, chế độ chi tiêu thiếu rõ rang minh bạch của giai cấp phong kiến đã gây nên sự
phản ánh mạnh mẽ đối với giai cấp tư sản. Họ đấu tranh để có một chế độ thuế khóa theo
luật định đảm bảo tính pháp lý, tính công bằng, một chế độ chi tiêu thiếu minh bạch giữa
chi tiêu chung của Nhà nước với chi tiêu trong bản thân gia đình của các vua chúa.
Thứ hai, ngân sách Nhà nước là quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước, là kế hoạch tài chính
cơ bản của Nhà nước.
Thứ ba, ngân sách Nhà nước là những quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình huy động
và sử dụng các nguồn tài chính khác nhau.
Từ các quan điểm trên, ta có thể xác định:
Ngân sách Nhà nước là hệ thống các mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và các chủ thể
trong xã hội phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động và sử dụng nguồn tài
chínhquốc gia nhằm đảm bảo yêu cầu thực hiên các chứ năng của Nhà nước về mọi mặt
như kinh tế, chính trị-xã hội, quân sự… theo nguyên tắc không hoàn trả là chủ yếu.
Để làm dõ quan niệm về ngân sách Nhà nước cần thiết phải chỉ ra các đặc điểm và vị trí
của ngân sách Nhà nước.
III.Đặc điểm của ngân sách Nhà nước
Để hiểu thế nào là ngân sách Nhà nước thì có rất nhiều quan niệm khác nhau, hiện nay có
hai quan niệm phổ biến về ngân sách Nhà nước. Quan niệm thứ nhất cho rằng: ngân sách
Nhà nước là bản dự toán thu chi tài chính của Nhà nước trong một khoảng thời gian nhất
định, thường là một năm. Quan niệm thứ hai cho rằng: ngân sách Nhà nước là quỹ tiền tệ
của Nhà nước. Các quan niệm trên về ngân sách Nhà nước đã kootj tả được mặt cụ thể,
mặt vật chất của ngân sách Nhà nước, nhưng lại chưa thể hiện được nội dung kinh tế xã
hội của ngân sách Nhà nước. Tròn thực tế, nhìn bề ngoài hoạt động ngân sách Nhà nước
là hoạt động thu chi tài chính của Nhà nước. Hoạt động đó được biểu hiện một cách đa
dạng và phong phú, được tiến hành hầu hết trên các lĩnh vực văn hóa, chính trị xã hôi,
kinh tế…. nó tác động đến mọi chủ thể kinh tế xã hội. Tuy vậy, nhưng chúng có những
đặc điểm chung sau:
sách, trợ cấp thiên tai…
IV. Vai trò của ngân sách Nhà nước
Ngân sách Nhà nước được thể hiện trên các mặt sau:
- Ngân sách Nhà nước là công cụ huy động huy động nguồn tài chính để đảm bảo các nhu
cầu chi tiêu của Nhà nước.
- Ngân sách Nhà nước là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế: vai trò được thể hiện trên 2
mặt sau:
+ Thứ nhất, Ngân sách Nhà nước là công cụ định hướng hình thành cơ cấu nền kinh tế
mới, khích thích phát triển sản xuất kinh doanh và chống độc quyền.
+ Thứ hai, ngân sách Nhà nước có vai trò quan trọng trong việc điều tiết thị trường, bình
ổn giá cả, chống lạm phát.
- Ngân sách Nhà nước là công cụ điều tiết thu nhập giữa các thành phần kinh tế và các
tầng lớp dân cư nhằm đảm bảo công bằng xã hội.
thương mại Sự can thiệp đó của Nhà nước vào nền kinh tế thị trường là sụ can thiệp gián
tiếp thông qua các công cụ chủ yếu như: pháp luật, kế hoạch, tổ chức tài chính tiền tệ,…
trong đó ngân sách Nhà nước được coi là là công cụ quan trọng nhất của Nhà nước. Vài
trò quan trọng đó của ngân sách Nhà nước được thể hiện trên các mặt sau đây:
- Ngân sách Nhà nước là công cụ huy động nguồn tài chính để đảm bảo các nhu cầu chi
tiêu của Nhà nước.
Đây là vai trò truyền thống của ngân sách Nhà nước trong mọi mô hình kinh tế, nó gắn
chặt với các chi phí của Nhà nước trong quá trình tồn tại và thực hiện nhiệm vụ của mình.
Ngân sách Nhà nước cung cấp nguồn kinh phí để Nhà nước đầu tư cho cơ sở kết cấu hạ
tầng, sản kinh doanh, tạo tư liệu sản xuất…
Nhà nước huy động nguồn tài thông qua công cụ như thuế, lệ phí, lợi tức của Nhà nước,
các khoản vay trong nước hoặc nước ngoài, viên trợ từ các nước tổ chức trên thế giới,…
- Ngân sách Nhà nước là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Vai trò này xuất phát từ yêu cầu khắc phục những khuyết tật vốn có của nền kinh tế thị
trường. Vai trò này được thể hiện trên các mặt sau:
+ Thứ nhất, ngân sách Nhà nước là công cụ định hướng hình thành cơ cấu kinh tế mới,
kích thích phát triển sản xuất kinh doanh và chống độc quyền.
Để khắc phục những khuyết tật của nền kinh tế thị trường, Nhà nước phải hướng những
hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế đi vào quỹ đạo mà Nhà nước đã hoạch định,
để hình thành nên cơ cấu kinh tế tố ưu, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển ổn định và
bền vững. Thông qua công cụ là ngân sách Nhà nước đảm bảo cung cấp kinh phí để Nhà
nước đầu tư cho cơ sở kết cấu hạ tầng, hình thành các doanh nghiệp thuộc các nghành
then chốt, trên cơ sở đó tạo điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển các doanh
nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Mặt khác, trong những điều kiện cụ thể, nguồn kinh
o Đối với thị trường hàng hoá: hoạt động điều tiết của Chính phủ được thực hiện thông
qua việc sử dụng các quỹ dự trữ nhà nước ( bằng tiền, bằng ngoại tệ, các loại hàng hoá,
vật tư chiến lược, ) được hình thành từ nguồn thu ngân sách.
o Đối với thị trường tiền tệ, thị trường vốn, thị trường sức lao động hoạt động điều tiết
của Chính phủ thông qua việc thực hiện một cách đồng bộ giữa các công cụ tài chính,
tiền tệ, giá cả trong đó công cụ ngân sách với các biện pháp như phát hành công trái,
chi trả nợ, các biện pháp tiêu dùng của Chính phủ cho toàn xã hội, đào tạo
Mặt khác, hoạt động thu chi của ngân sách Nhà nước có mối quan hệ chặt chẽ với vấn đề
lạm phát. Lạm phát là căn bệnh nguy hiểm đối với nền kinh tế và chống lạm phát là một
nội dung quan trọng trong quá trình điều chỉnh thị trường.
Lạm phát (trong kinh tế học) là sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung của nền
kinh tế. Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay giảm sức mua
của đồng tiền. Khi so sánh với các nền kinh tế khác thì lạm phát là sự phá giá tiền tệ của
một loại tiền tệ so với các loại tiền tệ khác. Thông thường theo nghĩa đầu tiên thì người ta
hiểu là lạm phát của đơn vị tiền tệ trong phạm vi nền kinh tế của một quốc gia, còn theo
nghĩa thứ hai thì người ta hiểu là lạm phát của một loại tiền tệ trong phạm vi thị trường
toàn cầu. Phạm vi ảnh hưởng của hai thành phần này vẫn là một chủ đề gây tranh cãi giữa
các nhà kinh tế học vĩ mô. Ngược lại với lạm phát là giảm phát. Một chỉ số lạmphát bằng
0 hay một chỉ số dương nhỏ thì được người ta gọi là sự ổn định giá cả. Lạm phát gây ra
rất nhiều hiệu ứng tiêu cực cho đất nước nói chung và cho nền kinh tế nói chung.Nguyên
nhân gây ra và thúc đẩy lạm phát có rất nhiều và xuất phát từ nhiều lĩnh vực, như:lạm
phát cho chi phí đẩy, lạm phát do cơ cấu đẩy, lạm phát do xuất nhập khẩu, lạm phát do
tiền tệ… trong đó có lĩnh vực thu chi tài chính của Nhà nước. Do đó, bằng các biện pháp
đúng đắn, trong các quá trình thu chi của ngân sách Nhà nước như: thắt chặt và nâng cao
hiệu quả hiệu quả của các khoản chi tiêu của ngân sách Nhà nước, tăng thuế tiêu dung,
giảm thuế đối với đầu tư, thắt chặt chi tiêu của ngân sách Nhà nước… Ngoài ra, để kiềm
chế lạm phát, nhà nước có thể tăng cường các khoản vay trong dân góp phần làm giảm
lượng tiền mặt trong nền kinh tế; triệt để không phát hành tiền tệ để bù đắp thiếu hụt ngân
PHẦN 3: LIÊN HỆ VIỆC PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở
VIỆT NAM.
I. Thực trạng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay.
Bước vào thời kỳ đổi mới, nước ta đang thực hiện chuyển mới nền kinh tế, từ nền kinh tế
kế hoạch sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động cơ chế thị trường có sự
quản lý của Nhà nước, định hướng xã hội chủ nghĩa. Hay nói tóm lại là nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
nước.
Có một bất cập là thu ngân sách Nhà nước ở Việt Nam là công bố thu ngân sách Nhà
nước rất chậm, người dân không được nắm rõ tình hình ngân sách của Nhà nước trong
năm mà thường là sau vài năm mới được công bố. Sau đây là công bố thu ngân sách Nhà
nước mấy năm gần đây.
Năm
2000
2002
2003
2004
2005
20006
Tổng thu
90749
123860
152274
190928
228287
279472
Thu trong nước (không kể thu từ dầu thô)
46233
63530
78687
104576
119826
145404
Thu từ doanh nghiệp Nhà nước
19692
3521
4234
5179
Lệ phí trước bạ
934
1332
1817
2607
2797
3363
Thu từ xổ số kiến thiết
1969
3029
3657
4570
5304
6142
Thu phí xăng dầu
2192
2995
3204
3583
3943
3969
Thu phí,lệ phí
2713
33845
34913
38114
42825
Thuế xuất, nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt hang hóa nhập khẩu, thu chênh lệch hang
hóa nhập khẩu
13568
22083
21507
21654
23660
26280
Thuế giá trị gia tăng hàng nhập khẩu
5386
9488
12338
13259
14454
16545
Thu từ viện trợ không hoàn lại
2028
2249
2969
2877
3789
7897
Dự kiến tổng thu ngân sách Nhà nước năm nay(2008) đạt 399 nghìn tỷ đồng, vượt 23,5%
so với dự toán và tăng 26,3% so với kết quả thực hiện năm ngoái. Tuy nhiên, theo Ủy ban
nhằm điều tiết chu kỳ kinh tế, đảm bảo công ăn việc làm, ổn định giá cả và tăng trưởng
liên tục của nền kinh tế. Trong những thời kỳ kinh tế suy giảm, chính sách tài chính có
tác dụng kích cầu và sản xuất bằng cách Chính phủ tăng mua, giảm thuế, do đó tạo ra
được một thu nhập quốc dân khả dụng lớn hơn để đưa vào luồng tiêu đùng. Còn trong
những thời kỳ kinh tế "quá nóng", chính phủ làm ngược lại. Để cân bằng lại những biện
pháp tài chính cố ý này, Nhà nước tạo ra nhưng cái gọi là cơ chế ổn định, như thuế thu
nhập luỹ tiến và phụ cấp thất nghiệp. Chính sách tài chính được điều hành một cách độc
lập với chính sách tiền tệ là chính sách nhằm điều tiết hoạt động kinh tế bằng cách kiểm
soát việc cung ứng tiền.
Nhà nước đã sử dụng vốn ngân sách Nhà nước để điều tiết vĩ mô nền kinh tế thong qua
các công cụ sau:
Gồm có 6 công cụ sau:
Công cụ tái cấp vốn: là hình thức cấp tín dụng của Ngân hàng Trung ương đối với các
Ngân hàng thương mại. Khi cấp 1 khoản tín dụng cho Ngân hàng thương mại, Ngân hàng
Trung ương đã tăng lượng tiền cung ứng đồng thời tạo cơ sở cho Ngân hàng thương mại
tạo bút tệ và khai thông khả năng thanh toán của họ.
Công cụ tỷ lệ dự trữ bắt buộc: là tỷ lệ giữa số lượng phương tiện cần vô hiệu hóa trên
tổng số tiền gửi huy động, nhằm điều chỉnh khả năng thanh toán (cho vay) của các Ngân
hàng thương mại.
Công cụ nghiệp vụ thị trường mở: là hoạt động Ngân hàng Trung ương mua bán giấy
tờ có giá ngắn hạn trên thị trường tiền tệ, điều hòa cung cầu về giấy tờ có giá, gây ảnh
hưởng đến khối lượng dự trữ của các Ngân hàng thương mại, từ đó tác động đến khả
năng cung ứng tín dụng của các Ngân hàng thương mại dẫn đến làm tăng hay giảm khối
lượng tiền tệ.
Công cụ lãi suất tín dụng: đây được xem là công cụ gián tiếp trong thực hiện chính sách
tiền tệ bởi vì sự thay đổi lãi suất không trực tiếp làm tăng thêm hay giảm bớt lượng tiền
trong lưu thông, mà có thể làm kích thích hay kìm hãm sản xuất. Nó là 1 công cụ rất lợi
hại. Cơ chế điều hành lãi suất được hiểu là tổng thể những chủ trương chính sách và giải
pháp cụ thể của Ngân hàng Trung ương nhằm điều tiết lãi suất trên thị trường tiền tệ, tín
dụng trong từng thời kỳ nhất định.
chiến tranh, các chính sách này đã trở thành giải pháp hữu hiệu để khắc phục lạm phát và
giải quyết việc làm. Những tác động của nó chưa ro ràng khi cả lạm phát và thất nghiệp
xảy ra đồng thời. Có một vài nguyên nhân cho sự hạn chế này. Đó là khó xác định chính
xác thời điểm của vấn đề cần giải quyết để từ đó, đưa ra các biện pháp, chính sách hỗn
hợp cho phù hợp. Ngoài ra, Tính trễ trong phát huy hiệu quả của chính sách tài chính.
Chính phủ muốn thực hiện chính sách tài chính nới lỏng bằng cách tăng chi tiêu chính
phủ. Giả sử được quốc hội thông qua thì cũng đã mất thời gian chờ đợi quốc hội xem xét
thảo luận. Sau đó, để triển khai còn phải tiến hành các hoạt động như lập kế hoạch dự án,
khảo sát-thiết kế để triển khai đầu tư. Những việc này cũng mất không ít thời gian. Chính
vì vậy, có một độ trễ để chính sách tài chính nới lỏng bắt đầu phát huy tác dụng.
Khi cả thất nghiệp và lạm phát xảy ra đồng thời, chính phủ có thể rơi vào tình trạng tiến
thoái lưỡng nan. Bởi vì, các chính sách tài chính và tiền tệ đều điều chỉnh lại mức chi tiêu
của cả một nền kinh tế quốc dân, nhưng lại không thể đối phó với sự giảm đột ngột về
cung - một nhân tố có thể đẩy nhanh cả lạm phát lẫn thất nghiệp. Tình trạng này đã xảy ra
vào những năm 70 của thế kỷ XX, khi có lệnh đình chỉ xuất khẩu đầu của các nước sản
xuất dầu, dẫn tới giá cả tăng nhanh trong nền kinh tế các nước công nghiệp hoá. Như vậy,
sự giảm cung sẽ dẫn đến tình trạng giá cả tăng nhanh trong khi đó thì sản xuất và việc
làm lại giảm. Để đối phó với cú sốc cung này đối với nền kinh tế quốc dân, Nhà nước có
thể tăng cường các biện pháp khuyến khích sản xuất, tiết kiệm và đầu tư, tăng hiệu quả
cạnh tranh băng cách giảm sự độc quyền, khắc phục sự trì trệ và kìm hãm của các nguồn
lực quan trọng.
Như vậy, có thể nói, dẫu Nhà nước không thể cung cấp phương thuốc bách bệnh trong
cuộc đấu tranh muôn thuở với lạm phát và thất nghiệp trong các nền kinh tế thị trường thì
nó vẫn được coi là nhân tố tích cực trong việc điều hoà các ảnh hưởng của chúng. Hầu
hết các nhà kinh tế hiện nay đều thừa nhận tầm quan trọng của Nhà nước trong cuộc đấu
tranh chống lạm phát và thất nghiệp thông qua các chính sách ồn định dài hạn.
- Thực trạng việc điều tiết thu nhập giữa các thành phần kinh tế và các tầng lớp dân cư
nhằm đảm bảo công bằng xã hội: