CHƯƠNG 3 PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG TRONG KINH DOANH - Pdf 19

CHƯƠNG 3
PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG TRONG KINH DOANH

3.1 TỔNG QUAN VỀ PHÁP LUẬT HỢP ĐỒNG
Luật hợp đồng ở Việt nam hiện nay nằm rải rác trong nhiều văn bản có giá trị pháp lý
cao thấp khác nhau, nhưng chủ yếu tập trung trong 3 văn bản pháp luật sau: i) Pháp lệnh
hợp đồng kinh tế 1989 (nội dung của văn bản này tuy đã từng bước quay trở lại với tự do
khế ước song vẫn chứa đựng nhiều dấu ấn nặng nề của cơ chế cũ), ii) Bộ luật dân sự 1995,
iii) Luật thương mại 2005. Theo thuyết về luật chung và luật riêng, có thể xem các quy định
chung về hợp đồng được quy định từ điều 394 đến 420 BLDS là luật chung cho tất cả các
loại hợp đồng, Dựa trên các quy định chung đó, BLDS và các văn bản pháp luật khác quy
định riêng cho các hợp đồng chuyên biệt. Và khi áp dụng luật, thì các quy định riêng sẽ
được ưu tiên áp dụng trước, nếu thiếu các quy định đó, thì áp dụng các quy định chung được
ghi nhận trong BLDS. Với một cách tiếp cận như vậy, phần viết dưới đây giới thiệu những
nguyên lý chung của pháp luật hợp đồng.
3.1.1 Khái niệm hợp đồng
Chúng ta định nghĩa: hợp đồng là sự thoả thuận giữa hai hay nhiều người nhằm mục
đích tạo lập, thay đổi, chấm dứt nghĩa vụ. Một định nghĩa đơn giản và đầy đủ: một hợp đồng
là một thoả thuận có tính ràng buộc và hiệu lực pháp lý.
Trước nhất hợp đồng là một hành vi pháp lý, là sự thể hiện ý chí của con người làm
phát sinh các hệ quả pháp lý. Hợp đồng là loại hành vi pháp lý cơ bản và thông dụng nhất.
Hợp đồng là một hành vi pháp lý, hơn thế nữa đó là một hành vi pháp lý đặc biệt: sự thoả
thuận giữa các đương sự. Sự thoả hiệp giữa các ý chí, sự ưng thuận giữa các bên là yếu tố
quan trọng nhất của hợp đồng. Cơ sở của hợp đồng là sự thống nhất của các ý chí tự do
nhưng ý chí này phải phù hợp với ý chí của nhà nước, phù hợp với pháp luật. Nói cách khác
ý chí của cá nhân đóng vai trò quan trọng trong hợp đồng, nhưng ý chí đó không tuyệt đối vì
không thể trái với lợi ích chung của xã hội và trong những trường hợp đặc biệt ý chí đó phải
nhường bước cho lợi ích chung.
Khi sự thống nhất của các ý chí là thực chất và không trái pháp luật thì nó sẽ làm
phát sinh các nghĩa vụ. Nghĩa vụ này ràng buộc các bên như luật pháp. Nói cách khác hiệu
lực của hợp đồng là tạo lập, biến đổi hay chấm dứt một nghĩa vụ. Một hợp đồng được thành

thành niên thì không có hiệu lực. Tương tự như vậy, một người tâm thần, mất trí
không thể giao kết một hợp đồng có hiệu lực, hay như ở một số nước, người say rượu,
nghiện ma tuý không thể giao kết hợp đồng.
+ Đối với pháp nhân. Chúng ta có hai trường hợp:
(i) Trường hợp 1: thoả thuận không có hiệu lực do pháp nhân xác lập không phù
hợp với mục đích hoạt động của pháp nhân.
(ii) Trường hợp 2: Thoả thuận vô hiệu do người đại diện của pháp nhân không có
đủ thẩm quyền hoặc vượt quá thẩm quyền.
 Điều kiện về hình thức của thoả thuận: Thoả thuận có được thể hiện dưới hình thức
luật định không?
- Hình thức của hợp đồng cũng được xác định là một trong các điều kiện có hiệu lực của
hợp đồng. Khi hợp đồng không tuân thủ các quy định về hình thức (không thể hiện bằng văn
bản, không được công chứng nhà nước chứng nhận, không được chứng thực, đăng ký hoặc
Pháp luật về hợp đồng trong kinh doanh 42 cho phép) trong thực tế sẽ rơi vào một tình trạng lưỡng cực: hoặc có thể trở thành có hiệu
lực nếu lỗi hình thức được sửa chữa, hoặc sẽ vô hiệu nếu lỗi hình thức không được sửa chữa
(điều 139 BLDS).
Hợp đồng vô hiệu
- Một hợp đồng vô hiệu là một hợp đồng không tồn tại theo luật, không có giá trị pháp lý,
không có giá trị bắt buộc thực hiện, không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với các bên
tham gia hợp đồng từ thời điểm xác lập do có vi phạm pháp luật hoặc không thể hiện ý chí
đích thực của các bên giao kết.
- Hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu.
(1) Hợp đồng bị huỷ bỏ
(2) Sự huỷ bỏ có hiệu lực hồi tố: Đối với trường hợp hợp đồng chưa được thực hiện thì
các bên không được thi hành. Đối với trường hợp hợp đồng đã được thực hiện thì: i)
các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; ii) bên có lỗi gây hiệt hại phải bồi
thường.

Pháp luật về hợp đồng trong kinh doanh 43 3.1.3.1 Sự chào hàng (sự đề nghị)
- Định nghĩa: sự chào hàng là một sự đề nghị giao kết hợp đồng do bên chào hàng đưa ra
cho bên được chào hàng. Việc chào hàng có thể do người bán (chào bán) hoặc người mua
tiến hành (chào mua).
- Sự chào hàng cần phải rõ ràng, chính xác.
- Chào hàng phải được chuyển đến cho một hay nhiều người xác định.
- Thời gian hiệu lực của chào hàng. Mỗi sự chào hàng đều phải có thời gian hiệu lực của
nó. Đối với người chào hàng thời gian đó là thời gian bị ràng buộc, nghĩa là nếu trong
khoảng thời gian này mà người được chào hàng chấp nhận thì người chào hàng phải tuân
theo các điều kiện đã được quy định trong văn kiện chào hàng. Đối với người được chào
hàng, thời gian này là thời gian để chấp nhận hay không. Cách xác định thời gian hiệu lực
của chào hàng.
+ Căn cứ vào thông lệ thương mại quốc tế, có mấy quy tắc sau (các nguyên tắc trên đã
được tập quán thương mại, công ước quốc tế về mua bán hàng hoá thừa nhận) : i) Nếu
người chào hàng đã quy định một thời gian cụ thể trong chào hàng thì thời gian này
chính là thời hiệu của chào hàng. ii) Nếu người chào hàng chưa quy định về thời gian
cụ thể thì nó sẽ có hiệu lực trong thời gian hợp lý, không thể được quyết định một cách
thuần lý mà phải căn cứ vào các yếu tố cụ thể chính yếu sau: a) đặc điểm của thoả
thuận; b) đặc điểm của thương phẩm; c) thông lệ ngành nghề; d) phương thức truyền
đạt của sự chào hàng
+ Luật thương mại Việt nam (khoản 1 điều 53): Trong trường hợp thời hạn chấp nhận
chào hàng không được xác định, thì thời hạn trách nhiệm của bên chào hàng là 30
ngày, kể từ ngày chào hàng được chuyển đi cho bên được chào hàng.
- Người chào hàng có thể thay đổi, rút lại chào hàng nếu: i) chào hàng nêu rõ điều kiện
được thay đổi, ii) người được chào hàng chưa nhận được chào hàng.
- Sự mất hiệu lực của chào hàng: chào hàng không còn hiệu lực trong các trường hợp sau:
+ Quá hạn: nếu người được chào hàng chưa chấp nhận trong khoảng thời hiệu thì sau

Một hợp đồng có thể bao gồm:
- Nội dung của thoả thuận.
- Một số phụ lục: là một phần của hợp đồng nhưng được tách riêng khỏi các điều khoản
về quyền và nghĩa vụ của các bên. Phụ lục thường được gắn vào hợp đồng với một cách
diễn đạt tương tự như sau: “Tổng đài điện thoại phải qua một chương trình kiểm tra nêu
trong phụ lục D của hợp đồng. Khi chương trình kiểm tra được hoàn thành tốt, các bên sẽ
lập giấy Chứng nhận có chữ ký của hai bên. Mẫu giấy chứng nhận nằm trong phụ lục E của
hợp đồng”.
- Một số tài liệu chuẩn: ngoài phụ lục có chứa nội dung do các bên lập ra, một hợp đồng
đôi khi còn có thể đề cập đến các tài liệu quốc tế chuẩn. Một ví dụ điển hình là
INCOTERMS. Cuốn sách này được phòng thương mại quốc tế (ICC) xuất bản tại Paris, giải
thích chi tiết các thuật ngữ theo cách hiểu của ICC như "ex work" (xuất khỏi xưởng), "on
board" (trên boong tàu), CIF, FOB,…
- Một số tài liệu hợp đồng: bản vẽ thiết kế, thông báo trúng thầu, bảo lãnh thực hiện thầu,
thư uỷ quyền, …. Hầu như bất cứ tài liệu nào cũng có thể trở thành một phần của hợp đồng
nếu được liệt kê như là tài liệu của hợp đồng. Điều khoản này không chỉ đơn thuần biến các
tài liệu trở thành một phần không thể tách rời của hợp đồng mà nó còn thấy trước một vấn
Pháp luật về hợp đồng trong kinh doanh 45 đề thường xảy ra là có sự mâu thuẫn giữa các tài liệu khác nhau. Trong trường hợp có mâu
thuẫn thì bản hợp đồng có hiệu lực cao nhất. Và một điều rất quan trọng là phải biết được
thứ tự ưu tiên của các tài liệu.
Các tài liệu hợp đồng:
Các tài liệu được liệt kê dưới đây là một bộ phận không thể tách rời của hợp đồng.
Trong trường hợp có mâu thuẫn giữa các tài liệu thì chúng được ưu tiên theo đúng trình tự
sau đây:
i) Thoả thuận này, bao gồm tất cả các phụ lục kèm theo.
ii) Toàn bộ tài liệu trong hồ sơ dự thầu và các tài liệu bổ sung có thể có.
iii) Bản vẽ thiết kế trong hồ sơ thầu


Hợp đồng chuyển giao công nghệ
Giữa
Công ty Smith, Jones, Wrangle and Ironside Steamship,
một tập đoàn được thành lập và hoạt động theo luật của bang Delarware, USA
có trụ sở tại San Franscisco, Canifornia
dưới đây được gọi là "SMITH"

Vietnam Investment Construction Trading and Technology Co.Ltd
một công ty được thành lập và hoạt động theo luật của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam
có trụ sở tại 12 Tràng Thi, Hà nội
dưới đây được gọi là "COMPANY"

b) Chuyển giao quyền và nghĩa vụ
- Một nguyên tắc chung là, các hợp đồng quốc tế nên quy định rõ việc chuyển nhượng
quyền và nghĩa vụ đòi hỏi sự thoả thuận của cả hai bên.
- Chúng ta hãy xem xét các ví dụ sau:
+ Ví dụ 1: Chuyển nhượng: Không một bên tham gia hợp đồng nào, khi chưa được sự
đồng ý bằng văn bản của bên kia, được quyền chuyển nhượng một phần hay toàn bộ
những quyền và nghĩa vụ trong bản hợp đồng này.
+ Ví dụ 2: Chuyển nhượng: Các bên có toàn quyền quyết định chuyển nhượng tất cả
các trách nhiệm ghi trong bản hợp đồng này.
3.1.4.3 Các điều khoản chính của hợp đồng
a) Hiệu lực hợp đồng.
- Không phải tất cả các hợp đồng đều có hiệu lực sau khi được kí kết; điều khoản hiệu lực
hợp đồng cho biết ngày các quyền và nghĩa vụ bắt đầu có hiệu lực.
- Hiệu lực hợp đồng có hai dạng: (1) Dạng thứ nhất đơn giản: hợp đồng có hiệu lực vào
ngày kí kết (hay như được gọi trong nhiều hợp đồng là ngày thực hiện). (2) Dạng thứ hai
cho phép hai ngày: ngày kí kết và ngày có hiệu lực (tức là ngày hợp đồng bắt đầu được thực
hiện trên thực tế).

phương tiện vận tải; cần quy định cụ thể: vật liệu làm bao bì, hình thức làm bao
bì, kích thước bao bì, số lượng bao bì và cấu trúc của nó, đai nẹp bao bì,…; b)
phương thức cung cấp bao bì: bên bán cung cấp bao bì cùng với việc giao hàng
cho bên mua, bên bán ứng trước bao bì để đóng gói hàng hoá nhưng khi nhận
hàng bên mua phải trả lại bao bì, bên mua gửi bao bì đến trước để đóng gói; c)
phương thức xác định giá cả bao bì: có thể được tính vào giá hàng hoặc được tính
riêng
+ Ký mã hiệu: được viết bằng sơn hoặc mực không phai, không nhoè, dễ đọc, dễ
thấy, không làm ảnh hưởng đến phẩm chất của hàng hoá. Đối với hàng hoá thông
thường, phải dùng màu đen hoặc tím; hàng hoá nguy hiểm dùng màu đỏ, hàng
hoá độc hại dùng màu cam. Bề mặt viết ký hiệu phải bào nhẵn.
Hàng hóa
(hàng hoá hay dịch vụ
được cung cấp)
Giá
(được trả khi trao đổi)
Pháp luật về hợp đồng trong kinh doanh 48 - Điều khoản về giá cả thường ngắn gọn. Thông thường nó chỉ giá của hàng hoá hay dịch
vụ cung cấp. Điều khoản giá cả thường có các nội dung sau:
i) Tiền tệ được dùng để định giá
ii) Phương pháp định giá
iii) Giảm giá hoặc chiết khấu do trả tiền sớm
iv) Giảm giá hoặc chiết khấu do mua với số lượng lớn.
d) Việc trao đổi diễn ra như thế nào: Điều khoản giao hàng và thanh toán.
- Điều khoản về hàng hoá và giá cả cân xứng nhau. Đi kèm với mỗi điều khoản này là điều
khoản chỉ phương thức: Hàng hoá được giao như thế nào, dịch vụ được thực hiện như thế
nào, giá cả được thanh toán như thế nào. Hàng hoá, giao hàng, giá cả và thanh toán; bốn
điều khoản này là trung tâm của hợp đồng.

ằng ph
ương th
ức n
ào)

Giao hàng (hàng hoá được giao
như th
ế n
ào)

Bước 1: Tình huống bình
thường như dự kiến là gì?
Bước 2: Những gì bị coi là
phá huỷ tình huống thông
thường?
Bước 3: H
ậu quả của việc vi
phạm là gì?
Pháp luật về hợp đồng trong kinh doanh 49 i) Thời hạn giao hàng
ii) Địa điểm giao hàng (quy định cảng hoặc ga để giao hàng)
iii) Điều kiện giao hàng
iv) Phương thức giao hàng: quy định phương thức giao hàng về số lượng, chất lượng
(giao từng đợt, giao một lần, cho phép chuyển tải, ): xác định số lượng thực tế hàng
hoá được giao, xác định chất lượng hàng hoá.
v) Thông báo giao hàng: trước khi giao hàng: người mua thông báo cho người bán
những điều kiện cần thiết để gửi hàng hoặc chi tiết tàu đến nhận hàng. Sau khi giao
hàng: người bán phải thông báo tình hình hàng đã giao và kết quả giao hàng

gọi là chấm dứt có lý do: điều đó có nghĩa là có một nguyên nhân nào đó dẫn đến
chấm dứt hợp đồng. Kết thúc hợp đồng sẽ dẫn đến hai khả năng: (i) Hủy bỏ hợp đồng:
tất cả sẽ quay trở lại như ban đầu, trước khi hợp đồng được ký kết hoặc (ii) Chấm dứt
hợp đồng: tất cả sẽ giữ nguyên tình trạng hiện tại, nhưng các quyền và nghĩa vụ của
các bên thì chấm dứt.
- Giới hạn trách nhiệm pháp lý. Về cơ bản có ba cách giới hạn trách nhiệm pháp lý.
(i) Thứ nhất, với điều khoản phạt hợp đồng thường có một giới hạn tối đa.
(ii) Cách thứ hai, cho thấy bên bị thiệt hại có thể tìm một giải pháp khác chứ không
phải là số tiền phạt, đặc biệt họ có thể tìm đến giải pháp chấm dứt hợp đồng hoặc đòi
bồi thường thiệt hại bằng cách đưa vụ việc ra toà án hoặc trọng tài.
(iii) Cách thứ ba nhằm giới hạn rủi ro là đưa điều khoản trách nhiệm pháp lý vào hợp
đồng. Điều khoản này đặt ra một giới hạn tổng số tiền bị đòi bồi thường theo các điều
kiện phát sinh tối đa theo hợp đồng.

Pháp luật về hợp đồng trong kinh doanh 51 Hình 3.6. Bảng tóm tắt điều khoản hàng hoá và giá cả, giao hàng và thanh toán
Hàng hoá và giá cả, giao hàng và thanh toán, tất cả cùng với nhau làm nên phần cốt
lõi của hầu hết các loại hợp đồng. Hệ thống thuật ngữ có thay đổi theo các lĩnh vực khác
nhau, nhưng các nguyên tắc chung, như chúng tôi đã đề cập đến, vẫn không thay đổi. Sơ đồ
dưới đây sẽ chỉ rõ các điều khoản và điều kiện mà chúng ta đã thảo luận có quan hệ với
nhau như thế nào?


HÀNG HOÁ GIÁ CẢ
GIAO HÀNG THANH TOÁN
Chi tiết

hoá
Điều kiện
giao hàng
Thời hạn
giao hàng
bao

g
ồm

Bao
gồm

thể
Tiền tệ được dùng để
thanh toán
Bao
gồm
Tiền thanh toán
Thời gian thanh
toán
Phương th
ức thanh
toán
Chứng từ thanh
toán

Huỷ bỏ hợp
đồng
Chấm dứt
hợp đồng
Giới hạn trách nhiệm pháp lý là gì?
Điều khoản giá ưu đãi
cho khách hàng

Đ
ịa điểm giao
hàng

Thông báo
giao hàng

Pháp luật về hợp đồng trong kinh doanh 52 d) Giải quyết tranh chấp
Giải quyết tranh chấp: bên mua và bên bán sẽ nỗ lực, thông qua đàm phán trực tiếp,
đàm phán không chính thức để giải quyết bằng hoà giải bất cứ mâu thuẫn, tranh chấp nào
phát sinh từ hoặc có liên quan đến hợp đồng.
Song có những tranh chấp không thể giàn xếp bằng cách như vậy. Trong trường hợp
này, một "bên thứ ba" phải tham gia giải quyết. Các bên có thể lựa chọn thủ tục tranh tụng
(xét xử tại toà án hoặc thủ tụng trọng tài (phân xử tại trung tâm trọng tài). Những điểm
tương đồng và khác biệt, nhưng ưu, nhược điểm của hai hệ thống này sẽ được lý giải tại
chương 3.
Một vấn đề cơ bản trong điều khoản giải quyết tranh chấp mà chúng ta cần đề cập tới
đó là: xác định luật áp dụng. Nếu các bên không quy định luật áp dụng thì cơ quan giải
quyết tranh chấp phải lựa chọn một bộ luật phù hợp nhất.

Hiệu lực của hợp đồng: hợp đồng này sẽ bắt đầu có hiệu lực sau khi đã được hai
bên ký kết và vào ngày bên mua mở thư tín dụng tại ngân hàng. Nếu như hợp đồng
không có hiệu lực trong vòng 90 ngày kể từ ngày ký kết thì hợp đồng không còn
hiệu lực và giá trị pháp lý.
Hiệu lực của
hợp đồng
Hiệu lực của hợp đồng: hợp đồng này sẽ bắt đầu có hiệu lực sau khi đã được hai
bên ký kết và vào ngày bên mua mở thư tín dụng tại ngân hàng. Nếu như hợp đồng
không có hiệu lực trong vòng 90 ngày kể từ ngày ký kết thì hợp đồng không còn
hiệu lực và giá trị pháp lý.
Các đ
ịnh

ền tệ đ
ư
ợc d
ùng đ
ể tính giá, các điều khoản giảm giá
ưu đ
ãi (n
ếu có)

Đi
ều khoản
giao hàng
Điều khoản giao hàng
- Thời hạn giao hàng,
- Địa điểm giao hàng
- Phương thức, điều kiện giao hàng
- Thông báo giao hàng
Điều khoản
thanh toán
Điều khoản thanh toán
- Tiền tệ.
- Thời hạn thanh toán
- Phương thức thanh toán
-
Các chứng từ thanh toán
Việc trao đổi
diễn ra như thế
nào?

Vi ph

Pháp luật về hợp đồng trong kinh doanh 54 3.1.5 Thực hiện hợp đồng
 Nguyên tắc thực hiện hợp đồng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, các bên phải tuân
thủ những nguyên tắc sau:
- Thực hiện hợp đồng một cách trung thực, hợp tác, đảm bảo tin cậy lẫn nhau.
- Thực hiện đúng thoả thuận. Các bên có nghĩa vụ phải thực hiện đúng và đầy đủ các
điều khoản của hợp đồng.
- Không được xâm phạm lợi ích nhà nước, công cộng và lợi ích hợp pháp của người
khác.
 Trách nhiệm vật chất khi vi phạm hợp đồng.
- Vi phạm hợp đồng là hành vi của một bên không thực hiện hoặc thực hiện không
đúng nghĩa vụ theo các điều kiện hợp đồng. Điều kiện hợp đồng là bất kỳ điều kiện
nào đã được các bên thoả thuận cụ thể trong hợp đồng hoặc được xác định áp dụng
bằng cách khác, ví dụ từ những thông lệ tập tục hoặc các quy phạm dự liệu khi các bên
không thoả thuận. Mọi sai lệch so với các điều kiện này đều được coi là vi phạm hợp
đồng. Trên thực tế, người ta có thể chia vi phạm hợp đồng thành: a) từ chối thực hiện
nghĩa vụ, b) không có khả năng thực hiện hợp đồng và c) thực hiện không đầy đủ theo
các điều kiện của hợp đồng.
- Về nguyên tắc, có 4 hậu quả pháp lý có thể áp dụng cho vi phạm hợp đồng bao gồm:
đền bù thiệt hại, phạt hợp đồng, huỷ bỏ hợp đồng và yêu cầu thực hiện hợp đồng, trong
đó đền bù thiệt hại là hậu quả pháp lý phổ biến nhất được áp dụng, các hậu quả pháp lý
khác là những ngoại lệ và chỉ được áp dụng rất hạn chế.
(1) Bồi thường thiệt hại: là một chế tài tài sản dùng để bù đắp những thiệt hại
thực tế cho bên bị vi phạm. Chức năng chủ yếu của chế tài này là bội hoàn, bù
đắp, khôi phục lợi ích vật chất bị thiệt hại cho bên bị vi phạm. Căn cứ phát sinh
trách nhiệm bồi thường thiệt hại: i) có hành vi vi phạm hợp đồng; ii) có thiệt hại
thực tế xảy ra; iii) có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm với thiệt hại
xảy ra; iv) có lỗi của bên vi phạm. Bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bên vi phạm

ngoại lệ mà việc dùng tiền đền bù thiệt hại cho người bị vi phạm tỏ ra không hợp

 Các bên được miễn trách nhiệm vật chất do vi phạm hợp đồng trong hai trường hợp sau:
(i) trường hợp miễn trách đã thoả thuận trong hợp đồng.
(ii) trường hợp bất khả kháng. (điều 77 LTM, điều 308 BLDS). Bất khả kháng có
nghĩa là tất cả các sự kiện nằm ngoài sự kiểm soát hợp lý của bất kể một bên nào ngăn
cản hoặc làm trì hoãn việc thực hiện bất kể một trách nhiệm nào trong bản hợp đồng.
Bất khả kháng bao gồm, song không giới hạn ở những sự kiện như: chiến tranh, bạo
loạn, nổi loạn, các hành động phá hoại, đình công, đóng cửa nhà máy hay bãi công,
những bộ luật mới đưa ra hay những quy định của chính phủ, hoả hoạn, cháy nổ, các
tai nạn khác, lũ lụt, bão, động đất hay các hiện tượng thiên nhiên bất bình thường khác.
3.1.6 Chấm dứt quan hệ hợp đồng
- Các căn cứ để chấm dứt quan hệ hợp đồng. Quan hệ hợp đồng có thể chấm dứt trong
nhiều trường hợp khác nhau: a) chấm dứt do hoàn thành hợp đồng, b) chấm dứt do các bên
bên thoả thuận, c) chấm dứt theo quy định của pháp luật (ví dụ đối với phá sản hoặc các giới
hạn thời gian hợp đồng đối với từng loại hợp đồng cụ thể), d) chấm dứt do hợp đồng không
còn đối tượng, e) chấm dứt do vi phạm hợp đồng.

Pháp luật về hợp đồng trong kinh doanh 56 3.2 HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
3.2.1 Khái niệm hợp đồng tín dụng
3.2.1.1 Định nghĩa hợp đồng tín dụng
Từ khái niệm chung về hợp đồng, căn cứ vào bản chất hoạt động tín dụng của tổ
chức tín dụng cho phép đưa ra một định nghĩa về hợp đồng tín dụng như sau: "Hợp đồng tín
dụng là sự thoả thuận bằng văn bản giữa tổ chức tín dụng (bên cho vay) với tổ chức cá
nhân có đủ điều kiện do luật dịnh (bên vay), theo đó tổ chức tín dụng ứng trước một số tiền
cho bên vay sử dụng trong một thời hạn nhất định, với điều kiện có hoàn trả cả gốc và lãi,
dựa trên sự tín nhiệm."

dụng, đồng thời phải là các đối tượng thuộc diện được cho vay không cần bảo đảm
theo quy định của Chính phủ.
+ Đối với khoản vay theo chế độ tín dụng không có bảo đảm: bên vay phải có
phương án sử dụng vốn khả thi và có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc có bảo lãnh của
người thứ ba trên cơ sở hợp đồng cầm cố, hợp đồng thế chấp, hợp đồng bảo lãnh.
Tóm lại, pháp luật quy định các điều kiện chủ thể đối với bên cho vay và bên vay
trong hợp đồng tín dụng không chỉ nhằm bảo vệ các lợi ích chính đáng của các bên, giúp họ
tránh được các thiệt hại hay sai lầm khi giao kết hợp đồng tín dụng trong những điều kiện
khắt khe, nghiệt ngã của cơ chế thị trường.
3.2.1.3 Giao kết hợp đồng tín dụng
Giao kết hợp đồng tín dụng là một quá trình mang tính chất kỹ thuật nghiệp vụ -
pháp lý do các bên thực hiện theo một trình tự luật định, bao gồm các giai đoạn chủ yếu sau
đây:
 Đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng: là hành vi pháp lý do một bên thực hiện dưới
hình thức văn bản chính thức gửi cho bên kia. Thông thường, bên đề nghị giao kết hợp đồng
tín dụng là các tổ chức, cá nhân có nhu cầu vay vốn và văn bản đề nghị chính là đơn xin
vay, kèm theo các giấy tờ tài liệu chứng minh tư cách chủ thể và khả năng tài chính hay
phương án sử dụng vốn vay. Các tài liệu này được bên xin vay gửi cho tổ chức tín dụng và
được coi như một bằng chứng đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng.
Ngoài ra, mặc dù pháp luật thực định chưa dự liệu nhưng thực tiễn giao kết hợp đồng
tín dụng ở Việt nam còn cho thấy rằng bên đề nghị giao kết hợp đồng cũng có thể là tổ chức
tín dụng. Trên thực tế để tăng cường khả năng cạnh tranh và mở rộng thị trường tín dụng,
các ngân hàng cổ phần, ngân hàng liên doanh,… đã từng chủ động tìm kiếm khách hàng để
giao kết hợp đồng tín dụng với tư cách là bên đề nghị. Trong trường hợp này, văn bản đề
nghị là thư chào mời được gửi cho các tổ chức, cá nhâ có khả năng tài chính mạnh mà tổ
chức tín dụng lựa chọn là bên đối tác. Trong thư chào mời, bên đề nghị (tổ chức tín dụng)
thường đưa ra những điều kiện có tính chất tổng quát nhất kèm theo những điều khoản dự
thảo cụ thể để cho bên kia xem xét chấp nhận.
 Thẩm định hồ sơ tín dụng: là tất cả những hành vi mang tính nghiệp vụ - pháp lý
do tổ chức tín dụng thực hiện nhằm xác định các điều kiện vay vốn đối với bên vay trên cơ

3.2.1.4 Nội dung, hình thức của hợp đồng tín dụng.
 Hình thức của hợp đồng tín dụng: trong hoạt động của các tổ chức tín dụng, pháp
luật quy định mọi hợp đồng tín dụng đều phải được ký kết bằng văn bản thì mới có giá trị
pháp lý (điều 51-Luật các tổ chức tín dụng).
 Nội dung của hợp đồng tín dụng: là tổng thể những điều khoản do các bên có đủ
tư cách chủ thể cam kết với nhau một cách tự nguyện và phù hợp với pháp luật. Các điều
khoản này phản ánh những quyền, nghĩa vụ cụ thể của mỗi bên tham gia hợp đồng. Theo
quy định của điều 51, nội dung của hợp đồng tín dụng phải bao gồm các điều khoản cụ thể
sau đây:
- Điều kiện vay vốn: khi thoả thuận điều khoản này, các bên cần ghi rõ trong hợp đồng
những tiêu chuẩn cụ thể mà bên vay phải thoả mãn thì mới được chấp nhận vay vốn. Chẳng
hạn: bên vay phải có năng lực chủ thể, có tài sản cầm cố, thế chấp, hoặc có bảo lãnh,…
Pháp luật về hợp đồng trong kinh doanh 59 - Đối tượng hợp đồng: các bên thoả thuận về số tiền vay, lãi suất, tổng số tiền phải trả khi
hợp đồng tín dụng đáo hạn
- Thời hạn sử dụng vốn vay: các bên phải ghi rõ trong hợp đồng về ngày, tháng, năm trả
tiền hoặc phải trả tiền sau bao lâu kể từ ngày ký hợp đồng. Nếu có thể gia hạn hợp đồng thì
các bên cũng thoả thuận trước về thời gian gia hạn.
- Phương thức thanh toán tiền vay: đây là điều khảon rất quan trọng vì nó liên quan trực
tiếp đến việc thu hồi vốn và lãi cho vay. Vì thế các bên phải thoả thuận rõ rằng số tiền vay
sẽ được hoàn trả dần hàng tháng hay trả toàn bộ một lần khi hợp đồng vay đáo hạn.
- Mục đích sử dụng tiền vay: các bên cần ghi rõ vốn vay sẽ được sử dụng vào mục đích gì.
Việc thoả thuận điều khoản này được xem như một giải pháp đảm bảo sự an toàn về vốn
cho người đầu tư là các tổ chức tín dụng. Đồng thời, để đảm bảo lợi ích của cả hai bên và
đảm bảo cho đồng vốn đầu tư được sử dụng hiệu quả, pháp luật quy định rằng trong thời
gian sử dụng vốn, các bên có quyền thoả thuận lại về mục đích sử dụng vốn vay mỗi khi xét
thấy thời cơ và điều kiện sử dụng vốn đã thay đổi.
- Giải quyết tranh chấp

i) Việc cầm cố phải lập thành văn bản có công chứng nhà nước. Văn bản này gọi là
hợp đồng cầm cố. Về nguyên tắc, hợp đồng cầm cố phải do các bên trực tiếp ký kết và
sau đó phải được chứng thực bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Sự chứng thực của
cơ quan nhà nước có thảm quyền đối với hợp đồng cầm cố có tác dụng tạo ra chứng cứ
pháp lý ghi nhận tính xác thực của việc cầm cố, góp phần ngăn ngừa các vi phạm và
bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên.
ii) Bên cầm cố có nghĩa vụ chuyển giao tài sản cầm cố (kể cả giấy tờ chứng nhận
quyền sở hữu tài sản cầm cố) cho tổ chức tín dụng hoặc người thứ ba (thường là các cơ
sở cho thuê kho bãi) quản lý theo sự thoả thuận của các bên, trừ trường hợpc ác bên có
thoả thuận khác. Trong suốt thời gian cầm cố, bên quản lý tài sản không được phép
chuyển nhượng, cho thuê hay quyết định số phận pháp lý của tài sản dưới những hình
thức khác nếu không có sự đồng ý bằng văn bản của bên kia.
iii) Theo pháp luật Việt nam, việc cầm cố chỉ bắt buộc phải đăng ký tại cơ quan nhà
nước có thẩm quyền đối với những tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền
sở hữu.
iv) Việc xử lý tài sản cầm cố được thực hiện theo nguyên tắc, nếu bên vay đã thanh
toán tiền vay đúng hợp đồng tín dụng thì tổ chức tín dụng phải hoàn trả lại tài sản cầm
cố cho chủ sở hữu. Trái lại, nếu khoản tiền vay không được thanh toán theo đúng hợp
đồng thì tổ chức tín dụng có quyền được ưu tiên thanh toán từ tài sản cầm cố bằng thủ
tục phát mại theo các hình thức luật định. Nếu tài sản cầm cố không phát mại được
hoặc phát mại được nhưng không đủ thanh toán nợ vay thì khi đó tổ chức tín dụng có
thể sử dụng quyền yêu cầu khởi kiện bên vay trước một cơ quan tài phán để yêu cầu
xét xử theo pháp luật.
b) Thế chấp tài sản để vay vốn ở các tổ chức tín dụng
- Thế chấp tài sản vay vốn ở các tổ chức tín dụng là việc bên vay cam kết dùng các bất
động sản của mình để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng.
- Do cầm cố và thế chấp có nhiều điểm giống nhau (vì cùng là các biện pháp bảo đảm đối
vật) nên các quy định về cầm cố cũng được áp dụng đối với thế chấp tài sản.
- Phân biệt cầm cố và thế chấp
Pháp luật về hợp đồng trong kinh doanh 61

lãnh không nhất thiết phải chuyển giao tài sản đem bảo lãnh cho tổ chức tín dụng
chiếm giữ, quản lý.
iii) Phạm vi bảo lãnh: trên nguyên tắc tự nguyện, người bảo lãnh có quyền cam kết với
tổ chức tín dụng rằng họ sẽ hực hiện thay một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ mà bên vay
đã không thực hiện theo hợp đồng tín dụng.
d) Hiệu lực của hợp đồng cầm cố, thế chấp, bảo lãnh
- Về nguyên tắc, hợp đồng cầm cố, thế chấp, bảo lãnh chỉ có hiệu lực khi thoả mãn các
điều kiện sau:
Pháp luật về hợp đồng trong kinh doanh 62 + Chủ thể có đủ năng lực và thẩm quyền
+ Nội dung, hình thức của hợp đồng không trái pháp luật.
+ Có sự đồng thuận về ý chí giữa các bên ký kết.
+ Nghĩa vụ cần bảo đảm không bị vô hiệu
Như vậy, nếu một hợp đồng cầm cố, thế chấp, bảo lãnh không thoả mãn một trong
các điều kiện trên đây thì đương nhiên Toà án có thể tuyên hợp đồng đó vô hiệu.
- Sự vô hiệu hợp đồng cầm cố, thế chấp, bảo lãnh về nguyên tắc chỉ có thể làm cho hợp
đồng tín dụng bị vô hiệu theo khi các bên tham gia hợp đồng tín dụng đã thoả thuận rằng
việc cầm cố, thế chấp, bảo lãnh là điều kiện bắt buộc để ký hợp đồng tín dụng.
3.2.2.2 Hợp đồng cho vay không có bảo đảm bằng tài sản
- Trong thực tế, mặc dù sự bảo đảm cho các khoản vay của tổ chức tín dụng là cần thiết
nhưng không phải mọi khoản vay ở tổ chức tín dụng đều cần có sự bảo đảm bằng tài sản.
Đôi khi, các tổ chức tín dụng cung cấp các khoản vay mà không cần có tài sản bảo đảm.
Nghiệp vụ này được các tổ chức tín dụng áp dụng đối với các khoản vay mà họ cho rằng
người đi vay có đủ uy tín, có tình hình tài chính lành mạnh, có phương án sử dụng vốn khả
thi và khả năng trả nợ chắc chắn hoặc được pháp luật cho phép. Nếu trong hợp đồng cho
vay có bảo đảm bằng tài sản, khả năng thu hồi nợ vay của tổ chức tín dụng là tương đối lớn,
ngược lại trong hợp đồng cho vay không có bảo đảm, tổ chức tín dụng chỉ có thể dựa vào sự
đánh giá về khả năng trả nợ của người vay thông qua kết quả phân tích và điều tra tín dụng

dụng đối với tên gọi xuất xứ hàng hoá)
(ii) Bằng sáng chế và các thiết kế (sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công
nghiệp).
(iii) Bản quyền (quyền tác giả)
(iv) Bí mật thương mại
Nhãn hiệu hàng hoá là dấu hiệu xác định nguồn gốc của hàng hoá. Mọi dấu hiệu hoặc
sự phối hợp dấu hiệu có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của người cung cấp này
với người cung cấp khác, có thể đăng ký nhãn hiệu hàng hoá. Chủ nhãn hiệu có quyền ngăn
cản các bên thứ ba sử dụng chính nhãn hiệu đó hoặc các nhãn hiệu khác có khả năng gây
nhầm lẫn về nguồn gốc của người cung cấp.
Bằng sáng chế là bằng được cấp cho các phát minh (sản phẩm hoặc quy trình) trong
lĩnh vực công nghệ, mang tính mới, sáng tạo và có thể sử dụng trong công nghiệp. Bằng
sáng chế cho phép nhà sáng chế có lợi nhuận độc quyền từ sáng chế của họ trong thời gian
giới hạn. Sáng chế trở thành tài sản hợp pháp của họ được bảo hộ trong một thời gian, tức
là, trong khoảng thời gian này không ai được phép thu lợi nhuận từ sáng chế mà không
được phép của nhà sáng chế. Đổi lại, nhà sáng chế phải công bố tất cả các chi tiết của sáng
chế cho công chúng, và sau thời kỳ bằng sáng chế có hiệu lực, thì công chúng có thể sử
dụng sáng chế một cách tự do.
Bản quyền rất giống với bằng sáng chế nhưng nó thường đề cập tới sự sáng tác, biểu
thị trí tuệ sáng tạo văn học, âm nhạc hoặc tác phẩm nghệ thuật. Bản quyền có lẽ là dạng cổ
điển của tài sản trí tuệ. Tương tự như bằng sáng chế, người có bản quyền có quyền nghiêm
cấm hoặc cho phép người nào đó sao chép lại tác phẩm của mình trong một số năm nhất
định. Người đó có thể bán, cho thừa kế hoặc cấp phép sử dụng bản quyền. Tuy nhiên, bản
quyền có một số đặc điểm riêng: quyền này được kéo dài trong một khoảng thời gian rất dài
(thông thường là cả cuộc đời người sáng tác cộng với một khoảng thời gian sau đó khoảng
Pháp luật về hợp đồng trong kinh doanh 64 50 năm); đối tượng của bản quyền là một sự thể hiện ý tưởng chứ không phải bản thân ý
tưởng

- Yếu tố chính trong hợp đồng lao động là sự lệ thuộc pháp lý của người lao động vào
người sử dụng lao động. Điểm đặc sắc trong khế ước lao động là người lao động không phải
chỉ cam kết làm một công việc gì hay cung cấp một dịch vụ nhất định mà còn tự đặt mình
dưới sự điều khiển của người sử dụng lao động khi làm công việc ấy. Trong thực tế, uy

Trích đoạn Đấu giá hàng hoá Khái niệm đại diện cho thương nhân Hợp đồng đại diện cho thương nhân Khái niệm uỷ thác mua bán hàng hoá Hợp đồng uỷ thác mua bán hàng hoá
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status