CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
1.1 TỔNG QUAN VỀ NHÀ NƯỚC
1.1.1 Nguồn gốc và bản chất của nhà nước
* Nguồn gốc của nhà nước
- Trong thực tế, ngay từ thời kỳ cổ, trung đại đã có nhiều nhà tư tưởng từ những góc độ tiếp
cận khác nhau đã đưa ra những kiến giải khác nhau về nguồn gốc nhà nước. i) Các nhà tư
tưởng theo thuyết thần học cho rằng: nhà nước là do thượng đế sáng tạo ra để bảo vệ trật tự
chung. ii) Những nhà tư tưởng theo thuyết gia trưởng lại cố gắng chứng minh rằng nhà nước
là kết quả sự phát triển của gia đình, là hình thức tổ chức tự nhiên của cuộc sống con người.
iii) Thuyết khế ước xã hội lại cho rằng: nhà nước là sản phẩm của một khế ước được ký kết
trước hết giữa những con người sống trong trạng thái tự nhiên không có nhà nước.
- Nội dung quan điểm của chủ nghĩa Mác về nguồn gốc nhà nước
(i) Nhà nước không phải là hiện tượng vĩnh cửu, bất biến. Nhà nước là một phạm trù
lịch sử, có quá trình phát sinh, phát triển và tiêu vong. Nhà nước là lực lượng nảy sinh
từ xã hội, là sản phẩm có điều kiện của xã hội loài người. Nhà nước chỉ xuất hiện khi
xã hội phát triển đến một mức độ nhất định và tiêu vong khi những điều kiện khách
quan cho sự tồn tại của nó mất đi. Những luận điểm quan trọng về sự xuất hiện nhà
nước đã được Ang-ghen trình bày tập trung trong tác phẩm nổi tiếng “Nguồn gốc của
gia đình, của chế độ tư hữu, của nhà nước”.
(ii) Nhà nước xuất hiện khi nào và bởi những điều kiện gì?
Chế độ cộng sản nguyên thuỷ: Có một thời kỳ rất dài, xã hội loài người tồn tại
mà không có nhà nước. Đó là thời kỳ tiền nhà nước hay còn gọi là thời kỳ cộng
sản nguyên thuỷ. Đặc điểm của thời kỳ này: *) Cơ sở tồn tại: là một nền kinh tế
tự nhiên, con người sống, tồn tại hoàn toàn dựa vào các vật phẩm tự nhiên. Hình
thức lao động không mang tính sản xuất (hái lượm và săn bắn). *) Cấu trúc xã
hội: một xã hội không có bất công, bóc lột, được xây dựng trên cơ sở kinh tế
không có sở hữu . *) Chế độ mẫu hệ: quyền lực thuộc về đàn bà, người đàn bà
thời đó quyết định đời sống cộng đồng. Quyền lực của đàn bà không mang tính
chính trị. *) Hình thức tổ chức xã hội: thị tộc, bộ lạc. Một xã hội không có nhà
cộng đồng, duy trì sự tồn tại, phát triển của xã hội trong một trật tự nhất định.
Bất kỳ nhà nước cũng có hai bản chất trên nhưng chỉ khác nhau ở chỗ mối tương
quan giữa tính giai cấp và tính xã hội. Trong mỗi hình thái kinh tế xã hội khác nhau, nhà
nước mang bản chất khác nhau. Ngay trong cùng một hình thái kinh tế xã hội, thậm chí
ngay trong một quốc gia thì ở mỗi giai đoạn lịch sử nhất định, nhà nước cũng mang bản chất
khác nhau hoặc ít nhất cũng có những nét cơ bản khác nhau.
Những đặc trưng của nhà nước.
i) Nhà nước thiết lập một quyền lực công cộng đặc biệt không còn hoà nhập với dân
cư. Quyền lực công cộng này là quyền lực chính trị chung. Chủ thể của quyền lực này
là giai cấp thống trị về kinh tế và chính trị. Để thực hiện quyền lực, để quản lý xã hội,
nhà nước phải có một tầng lớp người đặc biệt chuyên làm nhiệm vụ quản lý. Lớp
người này được tổ chức thành các cơ quan nhà nước và hình thành một bộ máy đại
diện cho quyền lực chính trị có sức mạnh cưỡng chế để duy trì địa vị của giai cấp
thống trị, bắt các giai cấp khác phải phục túng theo ý chí của giai cấp thống trị.
ii) Nhà nước phân chia dân cư theo các đơn vị hành chính lãnh thổ không phụ thuộc
vào chính kiến, huyết thống, nghề nghiệp hoặc giới tính. Lãnh thổ là dấu hiệu đặc
trưng của nhà nước. Nhà nước thực thi quyền lực chính trị trên phạm vi toàn lãnh thổ.
iii) Nhà nước có chủ quyền quốc gia. Chủ quyền quốc gia mang nội dung chính trị -
pháp lý, nó thể hiện ở quyền tự quyết của nhà nước về chính sách đối nội, đối ngoại,
Tổng quan về nhà nước và pháp luật 5
không phụ thuộc vào yếu tố bên ngoài. Chủ quyền quốc gia là thuộc tính không tách
rời của nhà nước. Chủ quyền quốc gia có tính tối cao.
iv) Nhà nước ban hành pháp luật và thực hiện sự quản lý bắt buộc đối với mọi công
dân. Nhà nước và pháp luật có mối quan hệ phụ thuộc nhau: không thể có nhà nước
mà thiếu pháp luật và ngược lại. Trong xã hội chỉ có nhà nước mới có quyền ban hành
pháp luật.
v) Nhà nước quy định và thực hiện việc thu các loại thuế dưới hình thức bắt buộc.
cơ bản: chủ nô – nô
lệ đối kháng tuyệt
đối
xã hội có hai giai cấp
địa chủ và tá điền có
quan hệ đối kháng
xã hội gồm giai cấp
tư sản, vô sản và
nhiều giai cấp khác
Quan hệ đối kháng
được nguỵ trang
mềm dẻo hơn
liên minh giai cấp,
các giai cấp tồn tại
nhưng không có mâu
thuẫn đối kháng.
Cơ sở tư
tưởng
đa thần, đa giáo quốc đạo đa nguyên chủ nghĩa Mác –
Lênin
Bảng 1.1: Các kiểu nhà nước
Tổng quan về nhà nước và pháp luật 6
* Hình thức nhà nước.
- Hình thức nhà nước nói lên cách thức tổ chức quyền lực nhà nước, tức là phương thức
chuyển ý chí của giai cấp thống trị thành ý chí nhà nước. Hình thức nhà nước do bản chất và
nội dung của nhà nước quy định.
đặc điểm của nhà nước từ góc độ dân chủ hay phi dân chủ, các quyền tự do dân chủ
của công dân, mức độ tham gia của họ vào quá trình thiết lập các cơ quan chính quyền
nhà nước và thức hiện các chính sách của nhà nước. Nhân tố chủ đạo trong khái niệm
chế đọ chính trị là phương pháp cai trị và quản lý xã hội của giai cấp cầm quyền. Các
chế độ chính trị của các nhà nước trong lịch sử rất đa dạng, nhưng tựu trung lại chúng
Tổng quan về nhà nước và pháp luật 7
gồm hai loại chính: chế độ phản dân chủ (chế độ chuyên chế của chủ nô, phong kiến,
phát xít) và chế độ dân chủ (dân chủ tư sản, dân chủ xã hội chủ nghĩa)
1.1.3 Bộ máy nhà nước
* Khái niệm bộ máy nhà nước
- Bộ máy nhà nước là hệ thống các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương được tổ
chức theo những nguyên tắc chung thống nhất, tạo thành một cơ chế đồng bộ thực hiện các
chức năng và nhiệm vụ của nhà nước.
- Cơ quan nhà nước là một bộ phận cấu thành bộ máy nhà nước. Đó là tổ chức nhà nước có
tính độc lập tương đối, có thẩm quyền và thành lập theo quy định của pháp luật, nhân danh
nhà nước thực hiện nhiệm vụ và chức năng của nhà nước bằng những hình thức và phương
thức đặc thù.
+ Về mặt cơ cấu, cơ quan nhà nước là một tổ chức hoàn chỉnh có tính độc lập tương
đối so với các tổ chức khác trong việc thực hiện thẩm quyền mà pháp luật trao.
+ Đặc điểm cơ bản của cơ quan nhà nước (đặc điểm cho phép phân biệt với các cơ
quan, tổ chức khác) là tính quyền lực nhà nước. Tính quyền lực nhà nước thể hiện ở
chỗ các cơ quan nhà nước đều có thẩm quyền được pháp luật quy định chặt chẽ - đó là
tổng thể các quyền và nghĩa vụ mà nhà nước trao cho cơ quan nhà nước. Yếu tố cơ bản
của thẩm quyền là quyền ra các quyết định có tính bắt buộc các chủ thể có liên quan
phải thi hành.
+ Các cơ quan nhà nước được thành lập và hoạt động trên cơ sở luật và các văn bản
pháp luật khác. Điều đó có nghĩa là một cơ quan nhà nước chỉ được thành lập khi đã
ra, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội ii) các Bộ, cơ quan ngang bộ,
cơ quan thuộc chính phủ là cơ quan hành chính ở trung ương chịu trách nhiệm quản lý
thống nhất các ngành, các lĩnh vực
Ở địa phương: i) Uỷ ban nhân dân các cấp: do hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra
chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước hội đồng nhân dân cùng cấp và cơ quan
hành pháp cấp trên. ii) Sở, phòng, ban: là các cơ quan quản lý ngành ở địa phương,
trực thuộc uỷ ban nhân dân và cơ quan quản lý ngành cấp trên.
(3) Cơ quan tư pháp
- Cơ quan xét xử: có chức năng xét xử, giải quyết các vụ án nhằm bảo vệ pháp chế xã hội
chủ nghĩa. Cơ quan xét xử bao gồm: toà án nhân dân tối cao, toà án nhân dân các cấp, toà án
quân sự. Đứng đầu toà án là Chánh án, chánh án chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước
cơ quan lập pháp cùng cấp, đối với chánh án toà án nhân dân tối cao, trong thời gian Quốc
hội không họp thì chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội
và Chủ tịch nước. Toà án hoạt động theo nguyên tắc cơ bản sau: xét xử công khai, có sự
tham gia của hội thẩm nhân dân, trong quá trình xét xử, thẩm phán và hội thẩm nhân dân
độc lập chỉ tuân theo pháp luật.
- Cơ quan kiểm sát: gồm Viện kiểm sát nhân dân tối cao, viện kiểm sát nhân dân các cấp,
viện kiểm sát quân sự thực hiện quyền công tố trong phạm vi thẩm quyền do luật định bảo
đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Để đảm bảo tính thống nhất
của pháp chế, hệ thống viện kiểm sát được tổ chức theo nguyên tắc thủ trưởng và trực thuộc
chặt chẽ theo chiều dọc. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Quốc hội bầu, miễn
nhiệm, bãi nhiệm, có quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm và cách chức tất cả các thành viên của
các viện kiểm sát cấp dưới.
1.2 TỔNG QUAN VỀ PHÁP LUẬT
1.2.2 Bản chất của pháp luật
- Định nghĩa pháp luật: Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do nhà nước ban hành (hoặc
thừa nhận) và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là yếu tố
điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm tạo ra trật tự và ổn định trong xã hội.
Tổng quan về nhà nước và pháp luật 9
mình
1.2.2 Các thuộc tính của pháp luật
- Thuộc tính của pháp luật là những tính chất, dấu hiệu riêng biệt, đặc trưng của pháp
luật. Thuộc tính của pháp luật là cái để phân biệt pháp luật với các hiện tượng xã hội khác,
trước hết với những hiện tượng xã hội như đạo đức, tập quán,… Pháp luật có ba thuộc tính
sau:
Tổng quan về nhà nước và pháp luật 10
(i) Thuộc tính thứ nhất: tính quy phạm bắt buộc chung (quy phạm phổ biến). Nói đến
pháp luật là phải nói đến những quy phạm của nó. Quy phạm là tế bào của pháp luật,
chứa đựng những nguyên tắc, khuôn mẫu, mô hình xử sự chung. Tính quy phạm của
pháp luật khác với các quy phạm xã hội khác ở tính tuyệt đối của sự bắt buộc chung
(sự bắt buộc chung khách quan: không phụ thuộc vào ý chí của con người). Tính quy
phạm của pháp luật có tính "trội" hơn so với các quy phạm xã hội khác vì pháp luật do
nhà nước đặt ra, được nhà nước chính thức thừa nhận.
(ii) Thuộc tính thứ hai: tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức.Tính xác định về mặt
hình thức là sự thể hiện nội dung của pháp luật trong những hình thức nhất định và
bằng một ngôn ngữ rõ ràng, chính xác. Tính xác định chặt chẽ nhằm đảm bảo nguyên
tắc "bất kỳ ai được đặt vào những điều kiện ấy cũng không thể làm khác được".
(iii) Thuộc tính thứ ba: tính cưỡng chế và được bảo đảm bằng nhà nước (hay còn gọi
là tính quyền lực nhà nước). Sự bảo đảm bằng nhà nước điều đó có nghĩa là: pháp luật
do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, nhà nước đã trao cho các quy phạm pháp
luật tính quyền lực nhà nước, bắt buộc đối với mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân. Cưỡng
chế là thuộc tính thể hiện bản chất giai cấp của pháp luật. Tính cưỡng chế của pháp
luật luôn tồn tại cùng với sự tồn tại của pháp luật. Việc cưỡng chế buộc mọi người
phải thi hành nghiêm chỉnh pháp luật.
1.2.3 Các hình thức của pháp luật
- Pháp luật cũng giống như mọi hiện tượng xã hội, có hình thức thể hiện và hình thức tồn tại
iii) Chế tài: là bộ phận của qui phạm pháp luật nêu lên những biện pháp tác
động mà nhà nước dự kiến áp dụng đối với chủ thể không thực hiện đúng
mệnh lệnh của nhà nước đã nêu trong bộ phận qui định của qui phạm pháp
luật
+ Chế định pháp luật là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh một nhóm
các quan hệ xã hội cùng loại, đồng tính chất trong cùng một ngành luật.
+ Ngành luật là một tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh một lĩnh vực
quan hệ xã hội (các quan hệ xã hội phát sinh trong một lĩnh vực nhất định của đời
sống xã hội) bằng những phương pháp đặc thù riêng. Các ngành luật phân biệt
nhau bởi đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh, trong đó yếu tố đối
tượng điều chỉnh giữ vai trò chủ đạo. Các ngành luật trong hệ thống pháp luật
Việt nam gồm:
(i) Luật nhà nước (còn gọi là luật Hiến pháp): gồm tổng thể các quy phạm
pháp luật điều chỉnh các quan hệ cơ bản về: tổ chức quyền lực nhà nước,
chế độ chính trị, kinh tế, văn hoá, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.
Luật nhà nước là ngành luật chủ đạo trong hệ thống pháp luật, bởi nó là
ngành luật điều chỉnh những quan hệ xã hội quan trọng nhất của quốc gia
và tất cả những ngành luật khác đều được hình thành trên cơ sở những
nguyên tắc của luật nhà nước.
(ii) Luật hành chính: điều chỉnh các quan hệ xã hội hình thành trong lĩnh
vực quản lý hành chính nhà nước. Những quan hệ này có thể gọi là những
Tổng quan về nhà nước và pháp luật 12
quan hệ chấp hành - điều hành của nhà nước trên các lĩnh vực hành chính -
chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội.
(iii) Luật hình sự: là tổng thể những quy phạm pháp luật xác định hành vi
nguy hiểm nào là tội phạm,đồng thời quy định hình phạt đối với người có
hành vi phạm tội. Đối tượng điều chỉnh của LHS là quan hệ xã hội phát
(x) Luật tố tụng dân sự: là tổng thể những quy phạm pháp luật điều chỉnh
các quan hệ giữa cơ quan xét xử, đương sự và những người tham gia khác
trong quá trình điều tra và giải quyết các vụ án dân sự, thương mại.
(xi) Luật quốc tế: Bên cạnh hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia, còn tồn tại
hệ thống pháp luật quốc tế. Những quy phạm của luật pháp quốc tế được
hình thành trên cơ sở thoả thuận giữa các quốc gia và thể hiện ý chí chung
của các quốc gia đó. Luật quốc tế gồm hai bộ phận: 1) Công pháp quốc tế:
là tổng hợp những nguyên tắc, những chế định, những quy phạm được các
quốc gia và các chủ thể khác của luật quốc tế xây dựng trên cơ sở thoả
thuận tự nguyện và bình đẳng, nhằm điều chỉnh các quan hệ nhiều mặt giữa
chúng. 2) Tư pháp quốc tế: điều chỉnh nhóm quan hệ pháp luật dân sự mang
tính chất quốc tế.
(2) Hình thức bên ngoài của pháp luật (nguồn của pháp luật) là sự biểu hiện ra bên
ngoài của pháp luật. Nguồn của pháp luật bao gồm: tập quán pháp, tiền lệ pháp và văn
bản quy phạm pháp luật.
(i)Tập quán pháp: là những tập quán hình thành và lưu truyền trong xã hội, phù
hợp với lợi ích của giai cấp thống trị được nhà nước thừa nhận, làm cho chúng
trở thành những quy tắc xử sự chung và được nhà nước bảo đảm thực hiện.
(ii) Tiền lệ pháp: là các quyết định của cơ quan hành chính hoặc cơ quan xét xử
được nhà nước thừa nhận là khuôn mẫu để giải quyết những vụ tương tự.
(iii) Văn bản quy phạm pháp luật: là sản phẩm của quá trình sáng tạo pháp luật,
là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo trình tự và dưới
hình thức nhất định, có chứa đựng các quy tắc xử sự chung nhằm điều chỉnh một
loại quan hệ xã hội nhất định, được áp dụng nhiều lần trong thực tiễn đời sống và
việc thực hiện văn bản đó không làm chấm dứt hiệu lực của nó.
Ở Việt nam, tập quán pháp và tiền lệ pháp không được chính thức thừa nhận là nguồn
của pháp luật. Có thể nói văn bản pháp luật là hình thức duy nhất có tính chính thức
nhưng về nguyên tắc nó có hiệu lực thấp hơn luật, phải phù hợp với luật.
Nghị quyết của Quốc hội thường được ban hành để giải quyết các vấn đề
quan trọng thuộc thẩm quyền của Quốc hội nhưng thường mang tính chất
nhất thời hoặc tính cụ thể (ví dụ: chia tỉnh, thành lập bộ, về tăng cường
chống buôn lậu,…)
(ii) Pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Pháp lệnh có
hiệu lực pháp lý thấp hơn so với Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc
hội, nhưng nó lại là văn bản có hiệu lực cao nhất trong các văn bản dưới
luật khác. Nghị quyết của Uỷ ban thường vụ quốc hội thường chỉ ban hành
để giải quyết những vấn đề cụ thể hoặc mang tính chất tổ chức - nội bộ (ví
dụ: ấn định ngày bầu cử, thành lập các tổ chức bầu cử,…)
(iii) Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước. Chủ tịch nước là chế định mới ở
nước ta so với Hiến pháp 1980, đó là người thay mặt cho nhà nước về đối
nội và đối ngoại. Lệnh và quyết định của Chủ tịch nước, theo ý nghĩa của
Hiến pháp, không mang tính quy phạm, không phải để cụ thể hoá Hiến
pháp cũng như không phải để chỉ đạo hoạt động hành pháp. Đó là loại văn
Tổng quan về nhà nước và pháp luật 15
bản có hiệu lực pháp lý thấp hơn văn bản của Quốc hội, dường như ngang
với văn bản của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và cao hơn văn bản của Chính
phủ và mọi cơ quan nhà nước khác. Nghĩa là văn bản của Chính phủ và mọi
cơ quan khác ở Trung ương và địa phương đều không được trái với văn bản
của Chủ tịch nước.
(iv) Nghị quyết, nghị định của Chính phủ là những văn bản được ban hành
nhân danh tập thể Chính phủ. Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội
và là cơ quan hành chính cao nhất của nhà nước, có trách nhiệm bảo đảm
thi hành Hiến pháp, luật, pháp lệnh và quản lý thống nhất mọi lĩnh vực kinh
tế, hành chính, chính trị, văn hoá, xã hội trong phạm vi cả nước. Nghị quyết
và văn bản của Uỷ ban nhân dân cấp trên.
(vii) Quyết định, chỉ thị của Uỷ ban nhân dân các cấp. Trong phạm vi thẩm
quyền luật định, Uỷ ban nhân dân các cấp ra quyết định, chỉ thị để thực hiện
những văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và hội đồng nhân dân cùng
cấp, và để điều hành hoạt động quản lý nhà nước ở địa phương.
Hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật.Các quy phạm pháp luật tồn tại
trong các văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực điều chỉnh trong những giới
hạn xác định. Điều đó có nghĩa là hiệu lực điều chỉnh các quan hệ xã hội bị giới
hạn trong phạm vi không gian, thời gian và nhóm người. Những giới hạn này
được thiết lập có thể bằng con đường chỉ ra một cách trực tiếp trong quy phạm
pháp luật đó, hoặc có thể bằng những quy định chung về hiệu lực thời gian,
không gian, nhóm người trong văn bản quy phạm pháp luật đó. Dưới đây sẽ
nghiên cứu cụ thể từng phạm vi hiệu lực.
(i) Hiệu lực theo thời gian: là thời điểm phát sinh và chấm dứt hiệu lực của
một văn bản quy phạm pháp luật. Hiệu lực của các văn bản quy phạm pháp
luật theo thời gian có liên quan đến hiệu lực hồi tố. Nói chung, pháp luật
nước ta không có hiệu lực hồi tố. Nguyên tắc pháp luật không có hiệu lực
hồi tố có nghĩa là một văn bản quy phạm pháp luật được thông qua chỉ điều
chỉnh các quan hệ xã hội xuất hiện sau khi văn bản ấy có hiệu lực mà không
mở rộng hiệu lực đối với các quyền và nghĩa vụ đã thực hiện. Tuy nhiên
cũng có một vài trường hợp ngoại lệ. Một văn bản có hiệu lực hồi tố chỉ
trong trường hợp nếu như sự quay trở lại ấy là phù hợp với lợi ích xã hội.
Thường trong Bộ luật hình sự có một vài trường hợp có quy định hiệu lực
hồi tố đối với một vài tội nguy hiểm tới an ninh quốc gia. Nguyên tắc nhân
đạo của pháp luật còn thể hiện ở việc cho phép quy định hiệu lực hồi tố đối
với trường hợp khi nhà làm luật quy định một hình phạt nhẹ hơn đối với
một vi phạm pháp luật mà trong quá khứ đã được quy định hình phạt nặng
hơn hoặc trong trường hợp quy định không xử phạt đối với một hành vi mà
trước đó quy định phải chịu hình phạt.
(ii) Hiệu lực theo không gian: là giới hạn phạm vi lãnh thổ mà văn bản đó
đẳng và mệnh lệnh hành chính.
- Như vậy là, theo quan niệm truyền thống ở nhiều nước xã hội chủ nghĩa trước đây, luật
kinh tế được coi là một ngành luật độc lập, điều chỉnh những quan hệ kinh tế phát sinh trong
quá trình quản lý, lãnh đạo kinh tế của nhà nước và tổ chức thực hiện các hoạt động sản xuất
kinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ sở xã hội chủ nghĩa.
1.3.2 Pháp luật kinh doanh trong cơ chế thị trường
- Khác hẳn với mô hình kinh tế kế hoạch, kinh tế thị trường đòi hỏi phải xoá bỏ chế độ
độc tôn của một hình thức sở hữu, đòi hỏi phải khuyến khích và phát triển một cơ cấu kinh
tế nhiều thành phần với sự bình đẳng của chúng trước pháp luật. Kinh tế thị trường đòi hỏi
phải có một môi trường pháp lý đảm bảo tự do kinh doanh của tất cả các chủ thể sản xuất -
kinh doanh.
Tổng quan về nhà nước và pháp luật 18
- Hiểu theo cách chung nhất thì pháp luật kinh doanh là tổng thể các quy phạm pháp luật
mà với các quy phạm đó, nhà nước tác động vào các tác nhân tham gia đời sống kinh tế và
các quy phạm liên quan đến mối tương quan giữa sự tự do của từng cá nhân và sự điều
chỉnh của nhà nước. Nói cách khác, pháp luật kinh doanh quan tâm tới hai vấn đề lớn, đó
là: 1) Sự can thiệp của công quyền vào đời sống kinh tế. 2) Tự do và bình đẳng của chủ thể
tham gia thương trường.
- Pháp luật kinh doanh trong cơ chế thị trường có các đặc điểm sau:
Đối tượng của luật kinh doanh ngày càng được mở rộng. Pháp luật kinh doanh sẽ xoay
quanh những vấn đề thường thấy của một doanh nghiệp trong thời gian tồn tại của nó
(khởi sự: thành lập doanh nghiệp, tiến hành kinh doanh: hợp đồng, cạnh tranh, bồi
thường thiệt hại…, cho đến khi rút lui khỏi thị trường: giải thể, phá sản). Với một tư
duy như vậy, những vấn đề chính của pháp luật kinh doanh bao gồm: (i) pháp luật về
chủ thể kinh doanh, (ii) pháp luật hợp đồng trong kinh doanh, (iii) pháp luật giải quyết
tranh chấp trong kinh doanh và (iv) pháp luật phá sản doanh nghiệp. Bên cạnh những
phần chung kể trên, pháp luật kinh doanh có thể bao gồm các vấn đề chuyên sâu, ví dụ
trọng tài thương mại, … (ii) Nghị định: nghị định 02/2000/NĐ-CP (03/02/2000)
hướng dẫn thi hành một số điều của luật doanh nghiệp, nghị định 17/HĐBT
(16/1/1990) quy định chi tiết thi hành pháp lệnh hợp đồng kinh tế, ….
(2) Tập quán thương mại."Trong trường hợp pháp luật không quy định và các bên
không có thoả thuận, thì có thể áp dụng tập quán, nếu các tập quán đó không trái với
các nguyên tắc của pháp luật Việt Nam" [Điều 14, BLDS]. Tập quán thương mại có
thể được hiểu là những quy tắc cư xử hoặc thói quen hình thành từ xa xưa, được thừa
nhận một cách rộng rãi trên một vùng lãnh thổ hoặc một lĩnh vực thương mại. Bộ luật
dân sự đã công nhận tập quán là một nguồn phụ trợ của pháp luật, song khó xác định
được điều này có ý nghĩa trong thực tiễn xét xử đến mức nào, vì các bản án và lập luận
của toà án Việt nam cho đến nay chưa được thống kê và công bố rộng rãi. Khác với
tập quán thương mại trong nước, tập quán thương mại quốc tế được hình thành dần
dần trong lịch sử phát triển của các quan hệ thương mại đã có một ý nghĩa thực tiễn
hơn nhiều. Những tập quán thông dụng nhất là các điều kiện cơ sở giao hàng do Phòng
thương mại quốc tế ban hành.
(3) Án lệ, theo cách hiểu như pháp luật theo hệ thống luật Anh - Mỹ, không được thừa
nhận ở Việt nam. Nhưng, xét từ thực tiễn, chúng tôi cho rằng, nước ta đang có những
dấu hiệu thực tế của sự thừa nhận sơ khai giá trị pháp lý của những "án lệ". Bởi lý do,
những hướng dẫn nghiệp vụ công tác xét xử của các toà án cấp trên cũng như những
báo cáo tổng kết công tác ngành toà án không phải là văn bản qui phạm hiểu theo
nghĩa truyền thống song lại có một giá trị nhất định nào đó trong hoạt động áp dụng
pháp luật. Vì vậy, có thể kết luận rằng, "án lệ" có thể sẽ hình thành trong đời sống
pháp lý ở nước ta, và nếu vậy, điều đó cũng không phải là không cần thiết hoặc "phi
khoa học". Trong lĩnh vực thương mại, nên thừa nhận án lệ (những bản án đã tuyên
đúng đắn, hợp lý sẽ được áp dụng để giải quyết các vụ việc tương tự) bởi vì thực tiễn
thương mại phát triển rất phong phú, phức tạp, pháp luật không thể theo kịp được