Những điểm nóng trong
nghiên cứu văn học mấy năm
gần đây ở Trung Quốc
III. Về việc chỉnh lý và sắp xếp lại các học khoa vốn có
Trong tiến trình hiện đại hoá nghiên cứu văn học Trung Quốc, ý thức học khoa
mạnh lên cùng việc xác lập học khoa, không nghi ngờ gì nữa là một trong những thành
tích quan trọng, là việc thực hiện mục tiêu sơ bộ nhất để bước vào quỹ đạo cùng giới học
thuật quốc tế. Trong khi khẳng định đầy đủ thành tích thì đồng thời cũng xuất hiện một
số vấn đề đáng suy nghĩ lại. Vì thế, một mặt quan trọng của nghiên cứu văn học Trung
Quốc ở thế kỷ mới là cần chỉnh lý và sắp xếp lại các học khoa vốn có.
Trong tiến trình hiện đại hoá nghiên cứu văn học Trung Quốc, cấu trúc tổng thể của
nghiên cứu văn học Trung Quốc và xác lập học khoa ở cấp thứ hai của nó là một trong
những thành tích quan trọng nhất của thế kỷ XX. Trong quá trình nhìn lại việc xây dựng
học khoa, giới học thuật đã đi sâu thảo luận xoay quanh vấn đề cơ bản là xây dựng học
khoa, kể cả vấn đề tính hợp lý của việc chia thành các học khoa cùng vấn đề ý thức học
khoa mạnh lên hay nhạt đi, biên giới của học khoa và vấn đề khai thác, v.v… Còn đi sâu
thảo luận những vấn đề này thì cơ duyên ban đầu được bắt đầu từ suy nghĩ lại về nguy cơ
của học khoa.
Sau năm 1990, vấn đề tính hợp lý của học khoa bắt đầu nổi lên và có xu thế phát
triển rất nhanh. Ý thức về nguy cơ của học khoa ngày càng mãnh liệt. Tình hình này hiển
nhiên không chỉ có ở giới nghiên cứu văn học Trung Quốc mà dường như đã trở thành
vấn đề toàn cầu… Nghiên cứu lý luận hết sức lúng túng, đội ngũ chuyên nghiệp phân hóa
rất nhanh khiến cho người nghiên cứu văn học trở thành nhà chính trị xã hội nghiệp dư,
nhà xã hội học nửa mùa, nhà nhân loại học không đương nổi trách nhiệm, nhà triết học
tầm thường và nhà văn hóa sử võ đoán. Hiện tượng đó quả thực đáng để chúng ta suy nghĩ
sâu sắc.
Trong ngữ cảnh toàn cầu hóa, việc xây dựng học khoa lý luận văn học Trung Quốc
trên tạp chí Văn học bình luận số 5 với ý thử phá bỏ giới hạn giữa hiện đại và đương
đại. Quan điểm này từng có ảnh hưởng trong giới học thuật. Còn về mở rộng văn học
hiện đại thì văn học đương đại cũng đang suy ngẫm lại vấn đề địa vị học khoa của
mình. Sự khác nhau lớn nhất của văn học đương đại so với văn học hiện đại là không
ngừng vươn dài hạn độ dưới và có đặc trưng hình thái ý thức xã hội chủ nghĩa mạnh
mẽ. Đương nhiên trong lúc tranh luận, hai môn học khoa này cũng có điểm hòa hợp.
Tạp chí Tùng san nghiên cứu văn học hiện đại Trung Quốc số 2 năm 2004 đã ra số
chuyên san Nghiên cứu văn học năm 40 đến năm 70 của thế kỷ XX: vấn đề và phương
pháp do Phòng văn học hiện đại Viện Văn học thuộc Viện khoa học xã hội Trung
Quốc tổ chức bút đàm, khảo sát trên diện rộng những hiện tượng văn học ở thời kỳ
chuyển đổi mô hình này như hướng đi, sự đổi khác của văn học mới thời Ngũ tứ cùng
sự phát sinh, phát triển của văn học nước Cộng hòa, v.v…
Việc xây dựng học khoa văn học đương đại còn có một hiện tượng đáng được
quan tâm, đó là văn học Hồng Công, Đài Loan và văn học Hoa văn hải ngoại đã được
đưa vào tầm ngắm của người nghiên cứu. Viện nghiên cứu văn học cũng kịp thời khôi
phục Phòng nghiên cứu văn học, văn hóa Hồng Công, Ma Cao và thiết lập một đề tài
lớn: Biên soạn và nghiên cứu sử liệu văn học Đài Loan. Tất cả đều là những việc quan
trọng về mặt xây dựng học khoa.
IV. Suy nghĩ về việc nghiên cứu văn học trở về với truyền thống, với kinh điển
Trong quá trình thanh lý và sắp xếp lại học khoa, một mặt cần suy nghĩ lại về thói
tệ chia quá nhỏ chuyên ngành, nhấn mạnh tính quan trọng của nghiên cứu tổng hợp; mặt
khác lại có một khuynh hướng là trở về với truyền thống, với kinh điển văn học, nhấn
mạnh nghiên cứu cá biệt. Mục tiêu cuối cùng của cả hai là bước cho nhanh vào tiến trình
lịch sử Trung Quốc hóa nghiên cứu văn học.
1. Góc nhìn thời gian, không gian của nghiên cứu văn học sử
Nghiên cứu biên niên văn học, nghiên cứu địa lý văn học trở thành điểm học thuật
trong thế kỷ mới. Đương nhiên số sách nghiên cứu biên niên văn học hiện có đều là văn
bản trên giấy theo truyền thống, thiếu hẳn cảm giác lập thể. Theo ý nghĩa hiện đại, nghiên
cứu biên niên văn học nên tận dụng biện pháp khoa học kỹ thuật hiện đại, đem những tư
liệu về cuộc đời nhà văn các triều đại Trung Quốc, năm ra đời tác phẩm, dòng phái văn
văn học sử không bao giờ có thể phản ánh trăm phần trăm giai đoạn lịch sử đó. Chẳng
hạn, trước sau phong trào Ngũ tứ, chủ lưu của văn đàn là gì? Văn học sử bảo cho chúng ta
biết đó là phong trào văn hóa mới do các bậc tinh anh văn hoá như Hồ Thích, Trần Độc
Tú, v.v… xướng xuất và chỉ đạo. Nhưng văn học mà dân chúng quan tâm dường như vẫn
là tác phẩm của phái Uyên ương hồ điệp
(3)
và những thứ đó từ đầu chí cuối luôn giữ một
khoảng cách với văn hóa chủ lưu. Ảnh hưởng của văn hóa tầng lớp dưới này thường lớn
hơn ảnh hưởng của văn hóa chủ lưu, nhưng sau này người viết văn học sử không bao giờ
đưa những tác giả đó vào vì theo cách nhìn của họ, những người ấy không cùng đẳng cấp.
Nhưng kinh nghiệm lịch sử lại bảo cho chúng ta biết rằng địa vị của thứ văn hóa ấy trong
điều kiện nhất định có thể làm nảy sinh sự chuyển hoá không hề ngờ tới. Trong văn học
sử Trung Quốc, rất nhiều thể văn và trào lưu tư tưởng học thuật phần lớn đều bắt nguồn từ
dân gian. Cho dù là một số văn hóa ngoại lai thì cũng thường là thông qua dân gian rồi
dần dần ảnh hưởng tới xã hội thượng tầng.
Sự biến đổi của văn hoá đương đại lẽ nào lại không phải là như thế? Theo sự biến
đổi cực nhanh của xã hội, tầng lớp xã hội cũng phân hoá tăng tốc. Hô ứng với điều đó thì
trong giới tư tưởng xuất hiện cái gọi là “tân tả phái” cùng trào lưu tư tưởng tự do chủ
nghĩa. Khoảng giữa và cuối năm 1990, có một loạt sáng tác “viết về tầng đáy”, phản ánh
tình trạng sinh tồn của tầng lớp dưới trong xã hội đã được văn đàn chú ý. Đương nhiên,
khái niệm “viết về tầng đáy” đã xác đáng hay chưa đến bây giờ vẫn còn tranh luận, nhưng
quan tâm tới hiện tượng này rồi kết hợp với thực tế văn học sử Trung Quốc mà giải thích
về mặt lý luận thì quả thật còn rất nhiều không gian để mà nghiên cứu.