Giá trị tư tưởng thiền học trong "Cư trần lạc đạo phú" của Trúc Lâm đầu đà Trần Nhân tong potx - Pdf 19

Giá trị tư tưởng thiền học trong
"Cư trần lạc đạo phú" của Trúc Lâm
đầu đà Trần Nhân tong Hình tượng này là tiêu biểu cho mẫu người Đại Việt thời đại Đông A nói chung,
chứ không phải riêng gì cho Phật giáo. Những người làm nên sự nghiệp hào hùng của
dân tộc vào thời này hầu hết là Phật tử. Điển hình cho mẫu người lý tưởng này là Tuệ
Trung. Ông có thái độ sống nhập thế tích cực vì dân, vì nước chứ không vì sự giải
thoát riêng mình. Ông trở thành vị tướng tài có công trong cuộc kháng chiến chống
Nguyên Mông, đồng thời cũng là thiền sư ngộ đạo thể hiện rõ sự tự tại, giải thoát. Tinh
thần này khiến người ta sống tự tại, nhất là luôn ý thức làm những việc nên làm và
không nên làm, có khi tạo ra những điều kỳ diệu cho nước nhà bất chấp mọi chướng
duyên.
Sự phát triển đất nước sau chiến tranh khiến nhà Trần có chính sách lâu dài về
vấn đề dân số, kéo theo vấn đề kinh tế, an ninh chính trị. Bốn năm sau, Trần Nhân
Tông tiếp tục sự nghiệp Nam tiến của cha mình là sáp nhập hai châu Ô Mã và Việt Lý
(Thừa Thiên - Huế ngày nay) vào bản đồ Đại Việt. Từ đây, Đại Việt không chỉ giải
quyết được vấn đề áp lực gia tăng dân số mà còn thiết lập được một nền an ninh vững
mạnh. Về mặt lý luận, với Phật quan Bụt ở trong lòng (Hội thứ năm) tạo ra sự bình
đẳng về con người giải thoát, bình đẳng về quyền lợi xã hội và khi đi vào hoạt động
thực tiễn với tinh thần nhập thế, nó đã tác động mạnh mẽ trong công cuộc Nam tiến
của dân tộc. Hơn nữa, công cuộc chấn hưng đất nước đòi hỏi phải thực hiện việc tái
thiết các công trình văn hóa bị kẻ thù tàn phá. Dưới tác động của chủ trương xây dựng
mẫu người Phật tử lý tưởng, người dân đã tích cực tái thiết. Trong Cư trần lạc đạo
phú, Trần Nhân Tông nói rõ việc tái thiết quốc gia đó thật là sinh động: “Dựng cầu đò,
giồi chiền tháp, ngoại trang nghiêm sự tướng hãy tu” (Hội thứ tám) (tr.508) Việc
Trần Nhân Tông đem mười điều thiện dạy khắp đã phản ánh chính sách dùng Chánh

loạt vấn đề đặt ra cho Phật giáo Đại Việt, đáp ứng các nhu cầu đòi hỏi của dân tộc. Sau
thời Trần Nhân Tông, Phật giáo còn tích cực nhập thế với những nhiệm vụ mới mà lịch
sử giao phó.
2.3. Ý thức tự chủ trong vấn đề sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt
Kể từ khi truyền bản của thiền sư Chân Nguyên được ni cô Diệu Liên ấn bản vào
năm 1745 đến nay đã hơn ba thế kỷ, Cư trần lạc đạo phú đã được in nhiều lần qua
nhiều triều đại khác nhau. Điều đó chứng tỏ sức hấp dẫn với người đọc không chỉ về
mặt tư tưởng Thiền học mà còn đề cao ý thức tự chủ sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt của
cha ông ta ngày xưa. Ta cũng thấy, vào thời Lê Sơ và thời Mạc, Phật giáo phục hưng
với việc dịch kinh sách ra tiếng Việt như Đại báo phụ mẫu ân trọng kinh của thiền sư
Viên Thái, việc in lại các tác phẩm sử học Phật giáo như Nam tông tự pháp đồ của
Trạng nguyên Lương Thế Vinh,Thánh đăng ngữ lục của thiền sư Chân Nguyên và việc
cổ xuý dùng tiếng Việt của thiền sư Pháp Tính trong Chỉ Nam ngọc âm giải nghĩa.
Cư trần lạc đạo phú là một tác phẩm thuộc thể loại phú tiếp thu từ thể loại văn
học Trung Hoa. Lưu hiệp trong Văn tâm điêu long đã viết: “Phú giả, phô dã” (Phú
chính là trình bày). Do đó, đặc trưng của thể phú là trình bày cái đẹp, lời văn trong phú
lấy sự vật để nói cái chí. Một trong những thuộc tính sớm được xác định của thể phú
là “tả chí”
(17)
. Cái “chí” ở đây được Đặng Thai Mai giải thích: “Ta nên hiểu chữ “chí”
ở đây là “tâm” của kẻ sĩ. Cho nên “chí” không chỉ có phần nghị lực, phần ý chí mà
thôi, mà nó có phần tâm tình kẻ sĩ nữa”
(18)
Phú ở Trung Hoa và Việt Nam đều được
hiểu trong tinh thần đó.
Ở Việt Nam, phú xuất hiện từ đời Trần. Gần đây, Tổng tập Văn học Việt
Nam giới thiệu thêm một vài bài phú chữ Hán đời Trần, mà trước đó đã công bố 13
bài in trong Quần hiền phú tập, có lúc được gọi là Phú đời Trần – Hồ
(19)
.

tưởng dân tộc trong vấn đề sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt.
3. Kết luận
Giá trị nội dung của tư tưởng Thiền học của Cư trần lạc đạo phú là thế. Nó được
đúc kết và hình thành chủ thuyết “Cư trần lạc đạo” là nhằm đáp ứng các yêu cầu lý
luận cho một giai đoạn Phật giáo mới. Một giai đoạn Phật giáo với sự hình thành và
phát triển Thiền phái Trúc Lâm với chủ trương nhập thế tích cực hơn bao giờ hết để
mọi người Phật tử vừa thực hiện nhiệm vụ xây dựng một đời sống theo đạo lý Thiền
tông nhưng đồng thời họ cũng tham gia làm tròn trách nhiệm của một công dân có đạo
đối với việc xây dựng và phát triển đất nước.
Nói rõ hơn, Cư trần lạc đạo phú viết bằng chữ Nôm, sử dụng ngôn ngữ tiếng
Việt của Trần Nhân Tông ra đời vào thế kỷ XIII là nhằm tạo một diện mạo mới, một
sức sống mới cho Phật giáo Việt Nam bằng cách đưa các giá trị tư tưởng Thiền học
của Thiền phái Trúc Lâm vào việc thực thi nhiệm vụ xây dựng và phát triển đất nước
Đại Việt trở nên hùng cường. Việc sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt mà Trúc Lâm Đầu
Đà Trần Nhân Tông chủ trương chính là sự thể hiện ý thức tự chủ văn hoá của cả một
dân tộc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status