Giá trị tư tưởng thiền học trong
"Cư trần lạc đạo phú" của Trúc Lâm
đầu đà Trần Nhân tong Kinh nghiệm cho thấy, thể chứng thực tại một cách trọn vẹn khi nào tâm thức
bước ra khỏi vòng luẩn quẩn phân biệt “nhị kiến” để an nhiên tự tại mà Trần Nhân
Tông tâm đắc trong Thượng sĩ hành trạng: “Ta trộn lẫn cùng thế tục, hòa cùng ánh
sáng, đối với mọi vật chưa từng xúc phạm hay trái ngược”. Trong Hội thứ nhất, ông
khẳng định rõ:
Mình ngồi thành thị;
Nết dụng sơn lâm,
Muôn nghiệp an nhàn lặng an nhàn thể tính;
Nửa ngày rồi tự tại thân tâm (tr.506).
Thực tại ấy hiển hiện ra đấy, từ xưa đến nay phô bày mọi nơi, mọi lúc mà Trần
Nhân Tông cho là tùy duyên mà vui với đạo trong Cư trần lạc đạo phú. Thể chứng thực
tại là thể chứng Phật tâm, là tự tại giải thoát Niết bàn ngay giữa dòng đời, đúng như tinh
thần Hòa quang đồng trần của Tuệ Trung:
Cơ tắc xan hề hòa la phạn,
Khốn tắc miên hề hà hữu hương.
Hứng thời xuy hề vô khổng địch,
Tĩnh xứ phần hề giải thoát hương.
(Đói thì ăn chừ, cơm tùy ý,
Mệt thì ăn chừ, làng không làng.
Hứng lên chừ, thổi sáo không lỗ,
Lắng xuống chừ, đốt giải thoát hương) (tr.278-280).
Do đó, chúng ta chẳng có gì ngạc nhiên khi Trần Nhân Tông viết Cư trần lạc
đạo phú và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca và các tác phẩm khác nữa, trong đó giá trị
làm; không lợi, không nhiễm thì Bồ tát làm” nhằm cứu vãn khủng hoảng.
Các thiền sư giai đoạn này đã có ý thức đi tìm một hướng đi mới cho Phật giáo.
Kết quả, Thiền phái Thảo Đường, Trúc Lâm ra đời, giới xuất gia không còn đóng
khung hoạt động trong ngôi chùa, họ cũng kết hợp với Phật tử tham gia công việc xã
hội. Cuộc sống của giới xuất gia từ đây nặng tính thế tục. Chủ trương tùy tục hình
thành và đi vào đời sống thực tiễn. Ta thấy ngay trong Hội thứ hai, Trần Nhân Tông
kêu gọi thực thi đạo đức, bỏ xan tham, đừng có cầu danh, sống cuộc sống giản dị, tiết
kiệm để đối trị tham nhũng: “Dừng hết tham sân mới lảu lòng mầu viên
giác”, hay “Cầm giới hạnh, địch vô thường, nào có sá cầu danh bán chác; Ăn rau
trái, nghiệp miệng chẳng hiềm thửa đắng cay”.
Sống trong một xã hội loạn ly, vào những năm tháng cuối đời Lý, đầu đời Trần,
giới Phật giáo phải ý thức về mình để có thái độ sống biết giữ đạo và gánh vác việc
đời. Quan điểm của Trần Nhân Tông là phải tùy tục. Tùy tục là sống theo với đời mà
vẫn giác ngộ. Điểm này, trước đó Trường Nguyên cũng bàn đến với khái niệm tại
quang tại trần, nhưng lý do vì sao thì Trường Nguyên không phát biểu rõ. Và Thường
Chiếu đã bổ sung bằng cách diễn đạt khá rõ với quan điểm tùy tục khi người học trò
hỏi về pháp thân: Tại thế vi nhân thân/ Tâm vi Như Lai tạng/ Chiếu diệu thả vô
phương/ Tầm chi cánh tuyệt khoáng (Ở thế là nhân thân/ Tâm là Như Lai tạng/ Chiếu
dọi khắp muôn phương/ Nếu tìm không thấy bóng)
(9)
Pháp thân hay tự tính giác ngộ
được Thường Chiếu gọi là Như Lai tạng thì tồn tại khắp nơi. Có điều, con người tồn tại
qua xác thân ngũ uẩn, việc xác lập xác thân trở nên quan trọng đối với ông. Trần Thái
Tông sau này cũng chú trọng vấn đề sắc thân khi đi tìm sự giác ngộ. Quan điểm này có
được là do Thường Chiếu và các nhà tư tưởng Thiền phái đã biết y cứ vào tư
tưởng Đại phương quảng Hoa Nghiêm kinh (số 52, ĐTK 279, tờ 275b 17-18: “Một là
tất cả, tất cả là một” để làm cơ sở lý luận, nhất là vận dụng vào đời sống, thực thi công
việc hộ nước an dân: “Như một lỗ chân lông mà biểu hiện đủ pháp giới thì tất cả lỗ
chân lông đều như thế. Nên biết tâm không thì không một kẽ hở nào không là thân
Phật”