QUAN HỆ THƯƠNG MAI VIỆT NAM -
TRUNG QUỐC Thực hiện đường lối đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ
quốc tế và chính sách mở cửa nền kinh tế do Đại hội VI đề ra, Đảng và
Nhà nước ta đã đặc biệt chú trọng phát triển quan hệ với Trung Quốc
trên cơ sở 16 chữ vàng. Kết quả của quá trình đó phần nào thể hiện trong
phát triển các quan hệ kinh tế - thương mại, nhất là hoạt động xuất -
nhập khẩu giữa hai nước.
1 - Phân tích quy mô và tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất - nhập
khẩu hàng hóa giai đoạn 1991 - 2007 Hình 1: Động thái xuất - nhập khẩu của Việt Nam sang thị trường Trung
Quốc.
(Nguồn: Niên giám thống kê 1995-2006 và tính toán của nhóm nghiên
cứu) Từ hình 1 và bảng 1 cho thấy, trong gần 10 năm đầu sau khi hai nước
bình thường hóa quan hệ (1991 - 1999), xuất nhập khẩu tăng đều nhưng
không mạnh. Chênh lệch giữa xuất và nhập khẩu không lớn, nhưng điều
đáng nói là Việt Nam luôn giữ thế xuất siêu cho đến năm 2000 (ngoại lệ
năm 1998 nhập siêu 74,9 triệu USD.
Bảng 1: Kim ngạch XNK Việt Nam - Trung Quốc phân theo từng kế
hoạch 5 năm
thương mại (gồm Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ô-xtrây-li-a, Xin-ga-po, CHLB
Đức, Hà Lan, Anh, Đài Loan và Pháp) hiện đang chiếm 59,20% tổng
lượng hàng hóa của nước ta xuất khẩu ra thị trường thế giới.
Nếu xem xét một cách chi tiết hơn, vấn đề không phải chỉ là tốc độ phát
triển xuất khẩu đã bị chững lại, mà đã xuất hiện xu hướng suy giảm một
cách hết sức đáng lo ngại hiện nay trong việc phát triển thị trường này.
2 - Về cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc
Hiện nay, Trung Quốc đang là bạn hàng nhập khẩu số 1 về cao su, hạt
điều, thứ 3 về thuỷ sản, là nước nhập khẩu trên 56% giá trị rau quả tươi
xuất khẩu của Việt Nam. Ngoài ra, một số mặt hàng tiêu dùng của Việt
Nam cũng bắt đầu thâm nhập và từng bước mở rộng thị phần trên thị
trường Trung Quốc như: giày dép, hàng dệt may, linh kiện điện tử
Trong sáu năm gần đây (2002 - 2007), nhìn chung cơ cấu hàng hóa xuất
khẩu sang thị trường Trung Quốc đã không ngừng được mở rộng. Cụ
thể, ở thời điểm năm 2001, trong danh mục những mặt hàng chủ yếu của
nước ta xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc đạt kim ngạch từ 1 triệu
USD trở lên tuy gồm 15 mặt hàng, nhưng tổng cộng cũng chỉ đạt 1,156
tỉ USD và chiếm 81,52% tổng kim ngạch xuất khẩu của năm này. Năm
2006, tuy danh mục này cũng chỉ tăng lên 18 mặt hàng, nhưng đã đạt
2,331 tỉ USD và chiếm 76,93% trong tổng kim ngạch xuất khẩu. Nếu
năm 2001, quy mô xuất khẩu 10 triệu USD trở lên chỉ gồm 8 mặt hàng,
thì con số này trong năm 2006 đã là 13 mặt hàng. Bảng 2: Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang Trung
Quốc (triệu USD)
nhóm hàng có khối lượng nhập lớn trong thời kỳ này là: máy móc nông
nghiệp và chế biến nông lâm sản, thiết bị sản xuất xi-măng lò đứng, máy
móc cho ngành dệt, thiết bị sản xuất phân bón và các loại máy phát điện
cỡ nhỏ.