Kết quả bước đầu về một số chỉ tiêu hình thái cơ bản của người hà nội năm 2010 - Pdf 19

ĐẶT VẤN ĐỀ
Việc xác định các chỉ tiêu sinh học nói chung, nhất là các chỉ tiêu nhân trắc là
một công việc quan trọng và cần được tiến hành thường qui khoảng 10 năm 1 lần [2],
[12], [16] v.v…nhằm:
Làm cơ sở đánh giá hình thái, thể lực và dinh dưỡng của các đối tượng nghiên
cứu trong quần thể, từ đó có hướng quan tâm và lập kế hoạch sát thực để cải thiện
tình trạng dinh dưỡng, nâng cao thể lực, chăm sóc sức khoẻ cho cộng đồng được
nghiên cứu; Tìm hiểu sự khác biệt giữa các nhóm đối tượng ở các vùng miền và các
thời điểm nghiên cứu khác nhau; So sánh giữa các nhóm tuổi tìm ra qui luật của sự
phát triển; Kịp thời cập nhật các chỉ số, các kích thước nhân trắc để áp dụng trong
nhiều lĩnh vực như: khám tuyển quân, tuyển sinh, sắp xếp cán bộ, bổ sung các chỉ
tiêu nhân trắc áp dụng trong sản xuất, trong thiết kế kích cỡ máy móc, dụng cụ sản
xuất, đồ dùng sinh hoạt v.v…
Trong thập kỷ 90 của thế kỷ trước trên phạm vi toàn quốc đã có một
“Dự án điều tra cơ bản một số chỉ tiêu sinh học người Việt Nam bình thường”
[10], [11], mà kết quả của Dự án có giá trị lớn trong thực tiễn cũng như cho khoa học:
góp phần bổ sung cho hằng số sinh học người Việt Nam, là tài liệu tham khảo trong
giảng dạy, nghiên cứu…Từ sau Dự án đó, cho tới nay chưa có cuộc tổng điều tra về
các chỉ tiêu sinh học được thực hiện trên phạm vi toàn quốc.
Ở Hà Nội, trong khoảng 10 năm trở lại đây đã có nhiều công trình nghiên cứu,
đề cập tới một số chỉ tiêu sinh học, ở những quần thể trên phạm vi nhỏ hẹp (cấp xã,
phường hay quận, huyện) [5], [ 7], [ 9] hoặc thực hiện ở những đối tượng là học sinh,
hay người lớn tuổi: [ 7], [ 9]…
Nhất là từ 2 năm nay, Hà Nội đã được mở rộng địa giới hành chính, bao gồm
Hà Nội và toàn bộ tỉnh Hà Tây trước kia, theo Nghị quyết của Quốc Hội số:
15/2008/QH12. Do vậy, những nghiên cứu trên chưa đại diện đầy đủ cho người Hà
Nội với đầy đủ thành phần, tuổi giới, khu vực v.v…
1
Hơn nữa, năm 2010, năm cả nước kỷ niệm Đại Lễ 1000 năm Thăng Long;
Chính vì vậy, việc tiến hành nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh học người Hà Nội,
không những rất cần thiết về mặt khoa học, mà còn có ý nghĩa xã hội, chính trị sâu

Vào năm 1914, R. Martin được xem là người đặt nền móng cho nhân trắc học
hiện đại với tác phẩm “ Giáo trình về nhân học”, trong đó ông đã đề xuất và hoàn chỉnh
một hệ thống dụng cụ đo đạc, các phương pháp nghiên cứu trong nhân trắc học, đặc biệt là
ứng dụng toán thống kê sinh học trong nghiên cứu nhân trắc (dẫn theo [21]).
3
Kể từ đó các nghiên cứu nhân trắc ngày càng phong phú, phát triển song song
với lịch sử phát triển nhân chủng học. Tuỳ theo mục đích nghiên cứu mà người ta
chia ra: nhân trắc nhân chủng học, chuyên nghiên cứu hình thái các chủng tộc loài
người; Nhân trắc học đường, nghiên cứu sự phát triển và các tiêu chuẩn kiểm tra sức
khoẻ học sinh; Nhân trắc y học, nghiên cứu sự phát triển cơ thể trẻ em theo từng lứa
tuổi, phân loại tình trạng thể lực và dinh dưỡng, xác định những thay đổi do tình
trạng bệnh lý…; Nhân trắc công nghiệp hay ergonomie phục vụ cho lĩnh vực đồ
dùng, dụng cụ và phương tiện sản xuất… [12], [19].
1.2. Tình hình nghiên cứu nhân trắc ở người Việt Nam trưởng thành:
Để tiện theo dõi, chúng tôi xin chia tình hình nghiên cứu nhân trắc ở người
Việt Nam làm 3 giai đoạn, theo các thời kỳ bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước:
Trước năm 1954 ( giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp); từ năm 1954- 1975
( giai đoạn chiến tranh chống đế quốc Mỹ); và sau 1975 ( giai đoạn hòa bình trên
phạm vi cả nước).
1.2.1. Tình hình nghiên cứu trước năm 1954
Việc nghiên cứu nhân trắc được quan tâm từ khá sớm, từ những năm 30 của
thế kỷ XX, tại viện Giải phẫu Hà Nội và ban Nhân học thuộc viện Viễn Đông Bác
Cổ, với những công trình nghiên cứu của Đỗ Xuân Hợp, Bigot, Huard P, được công
bố chủ yếu trong nội san “ Các công trình nghiên cứu của Viện Giải phẫu học, Đại
học Y khoa Đông Dương” từ năm 1936 đến 1944. Tuy nhiên, các công trình trong
thời kỳ này vẫn còn ít nhiều hạn chế, vì chưa vận dụng toán thống kê vào việc trình
bày và nhận định kết quả. Đồng thời các phương tiện nghiên cứu cũng không được
nói tới [6].
Việc nghiên cứu bị gián đoạn qua chín năm kháng chiến chống Pháp và bắt
đầu phục hồi trở lại từ khi hoà bình lập lại ở miền Bắc, năm 1954.

1984, trên 13.223 người ( 6.493 nam và 6730 nữ), ở 15 tỉnh rải khắp 3 miền: Bắc,
Trung, Nam; 5 nhóm tuổi được nghiên cứu là: 17- 19; 20-29; 30-39;40-49; 50-55. Kết quả
của công trình này được xem như là chuẩn mẫu tham khảo thứ hai sau hằng số sinh học.
5
Song đây là công trình ứng dụng vào ergonomie ( thiết kế dụng cụ và nơi làm
việc), nên đối tượng nghiên cứu đa số là công nhân, tuổi tập trung chủ yếu 30- 39.
Như vậy, đối tượng nghiên cứu ít nhiều cũng mang tính chọn lọc, chưa thể đại diện
cho người Việt Nam trưởng thành và cũng do mục tiêu nghiên cứu thiên về tầm vóc
cơ thể, công trình đã ít đề cập tới các chỉ tiêu sinh học khác liên quan tới sức khỏe,
bệnh tật.
Trong thập kỷ 90
Kể từ sau công trình nghiên cứu các chỉ tiêu nhân trắc của viện Khoa Học Kỹ
Thuật Bảo Hộ Lao Động, sang thập kỷ 90 chưa có cuộc điều tra toàn diện nào được
thực hiện trên phạm vi toàn quốc. Chính vì vậy, năm 1994 dự án cấp nhà nước về
“Điều tra cơ bản một số chỉ tiêu sinh học người Việt Nam bình thường ở thập kỷ 90”
đã được tiến hành. Đây là công trình nghiên cứu toàn diện và đầy đủ hơn cả (không
chỉ đại diện đầy đủ các vùng miền trên cả nước mà còn cả những nhóm chỉ tiêu
nghiên cứu). Dự án đã thực hiện ở 19 tỉnh, thành phố, 11 nhóm chỉ tiêu sinh học.
Riêng nhóm chỉ tiêu hình thái có 43.991 người (21.443 nam; 22.548 nữ) được nghiên
cứu, mỗi đối tượng được đo 10 kích thước nhân trắc cơ bản và 4 chỉ số hình thái - thể
lực và dinh dưỡng được tính toán.
Kết qủa dự án không chỉ là một chuẩn tham khảo có giá trị và cập nhật nhất,
mà làm cơ sở cho những nghiên cứu chuyên sâu của nhiều chuyên nghành…
1.3. Tình hình nghiên cứu nhân trắc ở Hà Nội
Cho tới nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu nhân trắc được thực hiện
trên địa bàn Hà Nội (dẫn theo [21]). Ở đây xin tổng quan một số nghiên cứu trong
khoảng 10 năm trở lại đây.
Cuộc tổng điều tra béo phì năm 2005 với 17.213 người trưởng thành trên
phạm vi toàn quốc trong đó có Hà Nộ được đo đạc một số chỉ tiêu nhân trắc. Nguyễn
Công Khẩn, Nguyễn Đức Minh…[7] đã đưa ra kết luận “có sự liên quan chặt chẽ

* Về đối tượng nghiên cứu:
- Đó là những người bình thường về mặt nhân trắc, cụ thể như sau:
+ Không có những dị dạng, dị tật bẩm sinh hay mắc phải làm ảnh hưởng tới
những số liệu được thu thập, như: gù, vẹo, thọt, …
+ Không có những bệnh hay trong tình trạng làm ảnh hưởng tới kích thước
được đo, như: hen, teo đét, phụ nữ có thai …
- Hợp tác tốt khi được đo.
* Về địa điểm nghiên cứu:
Là các xã thuộc 2 huyện: Mỹ Đức, Ba Vì và các phường thuộc 2 quận Đống
Đa, Hoàn Kiếm.
2.1.2. Số lượng đối tượng nghiên cứu: xem bảng 1
Bảng 1: Đối tượng nghiên cứu theo khu vực và giới
Quận / Huyện
Chung
Hoàn Kiếm Đống Đa Mỹ Đức Ba Vì
Nam
n 1798 1682 1613 1824 6917
% 12,0% 11,2% 10,7% 12,1% 46,1%
Nữ
n 2048 2076 2035 1939 8098
% 13,6% 13,8% 13,6% 12,9% 53,9%
Tổng
N 3846 3758 3648 3763 15015
% 25,6% 25,0% 24,3% 25,1% 100,0%
Giá trị
kiểm định
t
3
= 17,105; P = 0,001
2.2. Phương pháp nghiên cứu:

Chiều cao đứng:
- Mốc đo: từ mặt đất tới đỉnh đầu (Vertex)
-Tư thế và kỹ thuật đo: đối tượng được đo đứng thẳng, tư thế tự nhiên, đầu
thẳng sao cho đuôi mắt và ống tai ngoài nằm trên một đường nằm ngang song song
với mặt đất; bốn điểm: chẩm, lưng, mông và gót chạm vào thước đo.
Chiều cao ngồi:
9
Tư thế và kỹ thuật đo: người được đo ngồi thoải mái trên một ghế mặt phẳng
cao chừng 50cm, đầu thẳng, mắt nhìn ra trước sao cho cho đuôi mắt và ống tai ngoài
nằm trên một đường nằm ngang song song với mặt đất, thân buông lỏng tự do, chân
mở tự nhiên, giữa thân và đùi, giữa đùi và cẳng chân tạo thành góc vuông. Thước đo
đặt trên mặt ghế, sao cho 3 điểm: chẩm, lưng và mông chạm vào thước đo.
Vòng ngực:
- Mốc đo: có nhiều mốc đo vòng ngực, song để thống nhất với các công trình
nghiên cứu gần đây và với “dự án điều tra cơ bản một số chỉ tiêu sinh học người Việt
Nam bình thường ở thập kỷ 90”, mốc đo là qua mũi ức.
- Kỹ thuật đo: cũng giống như các kích thước vòng khác, khi đo cần đảm bảo
chắc chắn thước dây không bị xoắn, bị lệch, thước dây phải nằm vuông góc với trục
của thân, nghĩa là nằm trên mặt phẳng nằm ngang (song song với mặt đất).
+ Vòng ngực hít vào hết sức (HVHS), đo lúc đối tượng vừa hít vào hết sức.
+ Vòng ngực thở ra hết sức (TRHS), đo lúc đối tượng vừa thở ra hết sức.
- Những điểm cần lưu ý: theo kinh nghiệm của chúng tôi, khi đo vòng ngực
cần lưu ý những điểm sau:
+ Khi người đo vòng thước dây qua ngực và luồn thước dây vào bên trong 2
tay người được đo, người được đo thường giơ 2 tay lên cao mà không thả tay về tư
thế đứng tự nhiên, làm cho số đo lúc đó thường nhỏ hơn từ 2- 3 cm so với số đo đúng
( tức là lúc đối tượng đứng thẳng, 2 tay duỗi thẳng dọc theo 2 bên đùi – tư thế đứng
tự nhiên).
+ Với phụ nữ, nhất là phụ nữ cao tuổi, vú thường xệ (vú mướp), nên khi luồn
dây, cần đảm bảo chắc chắn là dây ở sau vú, tránh dây đè lên hai tuyến vú làm sai số đo.

(mà ở những tuổi này là 10 năm xếp vào 1 nhóm).
Phân chia nhóm tuổi nghiên cứu:
Theo cách phân chia tuổi của dự án "Điều tra cơ bản" [11] để thuận lợi cho
việc so sánh kết quả giữa các vùng, các miền, cũng như trên phạm vi toàn quốc của
11
dự án. Đồng thời cách chia này cũng cho phép so sánh được với nhiều nghiên cứu của
thế giới, cụ thể như sau:
•Từ 16-24 tuổi: Mỗi năm 1 nhóm tuổi, nhằm đánh giá sự tăng trưởng của các
kích thước nhân trắc, giai đoạn sau dậy thì đến tuổi hết lớn 1 cách chính xác.
• Từ 25 tuổi trở đi: 5 - 10 năm cho một nhóm tuổi (25 - 29; 30- 39; 40 -49… ≥ 60).
2.2.4. Xử lý số liệu:
2.2.4.1 Xử lý thô
Nhằm loại bỏ những phiếu sai, những số liệu bất thường, những nhầm lẫn vốn
thường gặp trong điều tra nhân trắc. Xử lý thô gồm 2 bước:
Bước 1: xử lý thô với từng phiếu đo, nên làm ngay sau khi đo đạc.
Bước 2: xử lý thô trên máy tính. Số liệu sau khi đã được nhập vào máy tính,
phải được kiểm tra và xử lý thô theo từng kích thước và từng đối tượng được đo. Ví
dụ, kiểm tra về kích thước chiều cao đứng hay chiều cao ngồi cần phải loại bỏ hoặc
điều chỉnh những trường hợp bất thường. Có thể do nhập nhầm số liệu, do sai từ
phiếu đo chưa được xử lý v.v…Với từng đối tượng cũng phải kiểm tra lại từng số
liệu, sự tương quan giữa các kích thước đó; thường do nhập nhầm hay lộn số đo,
chẳng hạn vòng ngực HVHS phải lớn hơn vòng ngực TRHS, chiều cao ngồi phải nhỏ
hơn chiều cao đứng.
2.2.4.2 Phân tích và xử lý kết quả:
Bằng phần mềm: Epidata 3, SPSS 16.0 và STATA 8.0

12
CHƯƠNG III:
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Chiều cao đứng:

khá rõ rệt sau tuổi 40.
Ở nữ nhìn chung tăng trưởng chiều cao tương tự như nam giới, tức là sau tuổi
16 chiều cao tiếp tục tăng lên và đến tuổi 21 thì đạt ở cao nhất với (
x
= 156,04cm).
Sau tuổi này chiều cao duy trì, tuy có giao động ít nhiều cho tới nhóm tuổi 30-39. Và
cũng sau tuổi 40, chiều cao nữ giảm xuống khá nhanh chóng.
14
3.2 Chiều cao ngồi:
Chiều cao ngồi người Hà Nội theo tuổi và giới được thể hiện qua bảng 3.
Bảng 3: Chiều cao ngồi người Hà Nội theo tuổi và giới
Nhóm tuổi Nam Nữ
n
X
SD
n
X
SD
16
309 86,72 4,733 311 83,14 3,55
17
307 87,62 4,35 356 83,55 3,59
18
247 87,33 5,12 317 83,19 3,52
19
288 86,59 4,50 335 82,12 4,90
20 -24
1377 86,38 4,53 1613 81,27 4,59
25 - 29
450 86,45 4,20 584 81,51 4,67

X
X
Hình 2: Cân nặng theo tuổi và giới
Qua hình 2 và bảng 3 cho thấy, cân nặng của cả hai giới tăng dần theo tuổi,
tuy có giao động ít nhiều ở một số nhóm tuổi, và cân nặng người Hà Nội đạt cao nhất
ở nhóm tuổi 40-49 (
x
lần lượt cho nam và nữ là 58,53; 50,86 kg) , sau tuổi này cân
nặng giảm đi khá nhanh chóng.
17
3.4 Vòng đầu:
Vòng đầu người Hà Nội theo tuổi và giới được thể hiện qua bảng 5.
Bảng 5: Vòng đầu người Hà Nội theo tuổi và giới
Nhóm tuổi Nam Nữ
n
X
SD
n
X
SD
16
309 54,60 2,73 311 53,51 1,85
17
307 54,97 2,27 355 54,06 2,28
18
247 54,99 2,98 317 53,96 1,70
19
287 54,69 2,40 335 53,56 2,00
20 -24
1377 55,27 2,45 1612 53,61 2,20

20 -24
1375 84,37 5,34 1613 78,08 5,86
25 - 29
451 84,93 5,26 584 78,66 5,97
30 - 39
231 86,33 5,29 444 79,03 6,75
40 - 49
191 86,22 5,21 382 79,00 6,49
50 - 59
205 87,45 5,99 411 80,02 6,90
≥ 60
264 86,00 6,44 421 78,26 7,49
3.6 Vòng ngực trung bình:
Vòng ngực trung bình người Hà Nội theo tuổi và giới được thể hiện qua bảng 7.
Bảng 7: Vòng ngực trung bình người Hà Nội theo tuổi và giới.
Nhóm tuổi Nam Nữ
n
X
SD
n
X
SD
16
308 75,30 6,75 310 69,75 5,86
19
17
306 76,99 6,24 355 71,03 6,04
18
247 77,66 6,53 315 72,21 5,77
19

25 - 29 356 20.19 2.09 514 20.18 1.96
30 - 39 232 20.87 2.44 417 20.98 2.62
40 - 49 197 21.55 2.83 394 21.56 2.77
50 - 59 203 21.63 2.81 398 21.69 2.73
≥ 60 252 21.53 2.92 410 21.24 3.19
Hình 3: BMI theo tuổi và giới
Bảng 9: BMI theo 6 nhóm tuổi và giới
Nhóm
tuổi
Nam Nữ
n SD n SD
20-24 1377 20,30 1,91 1612 19,69 1,67
25 - 29 356 20.19 2.09 514 20.18 1.96
30 - 39 232 20.87 2.44 417 20.98 2.62
40 - 49 197 21.55 2.83 394 21.56 2.77
21
X
X
50 - 59 203 21.63 2.81 398 21.69 2.73
≥ 60 252 21.53 2.92 410 21.24 3.19
- Về diễn biến BMI theo tuổi: ở cả hai giới BMI nhìn chung tăng dần theo
tuổi, tuy có giao động ít nhiều ở nam giới và đạt cao nhất vào tuổi 50- 59 với BMI
trung bình của nam và nữ tương ứng là: 21,6 và 21,69. Sau tuổi này BMI ở cả 2 giới
giảm đi khá rõ nét.
- Về tình trạng dinh dưỡng của người Hà Nội được trình bày cùng với phần
bàn luận.
22
CHƯƠNG IV:
BÀN LUẬN
4.1 Về chiều cao đứng:

Giới
Malaysia 1995 Trung Quốc 1990’S Người Hà Nội 2010
Tuổi Chiều cao Tuổi Chiều cao Tuổi Chiều cao
Nam
18 - 29 164,20 20 - 29 168,7 25 - 29 166.64
30 - 39 162,80 30 - 39 168,9 30 - 39 166.24
40 - 49 162,1 40 - 49 167,7 40 - 49 164.66
50 - 59 160,5 50 - 59 166,6 50 - 59 162.83
≥ 60
159 60 - 69 164,9
≥ 60 159.45
Nữ
18 - 29 151,5 20 - 29 157,5 25 - 29 154.63
30 - 39 151,6 30 - 39 157,5 30 - 39 154.29
40 - 49 150,4 40 - 49 156,4 40 - 49 153.48
50 - 59 148,3 50 - 59 155,1 50 - 59 152.29
≥ 60
146,3 60 - 69 153,2
≥ 60 148.44
* Diễn biến chiều cao theo tuổi:
Ở cả hai giới chiều cao tăng lên khá nhanh từ tuổi 16 đến tuổi 18-19, sau đó
chiều cao tiếp tục tăng song tốc độ giảm dần và đạt lớn nhất với nam ở tuổi 23-24(
x
=
167,31cm); với nữ ở tuổi 21(
x
= 156,04cm). Diễn biến chiều cao theo tuổi cũng phù
hợp và tương tự như của Nguyễn Trường An nghiên cứu ở người miền Trung [1],của
Trịnh Văn Minh và cs trong báo cáo dự án điều tra cơ bản [11] và của Trần Sinh
Vương nghiên cứu ở người đồng bằng Bắc bộ [21] .v.v


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status