[
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
_________________
Trần Thị Thanh Tâm
XÂY DỰNG WEBSITE
WWW.THUVIENVATLY.COM
HỖ TRỢ DẠY VÀ HỌC VẬT LÝ
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Chuyên ngành : Lý luận và phương pháp dạy học Vật Lý
Mã số : 60 14 10 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNTT&TT : Công nghệ thông tin và truyền thông
GV : GV
HS : Học sinh
PTDH : Phương tiện dạy học
PTTQ : Phương tiện trực quan
QTDH : Quá trình dạy học
MVT : Máy vi tính
MP : Mô phỏng
VL : Vật lí
TVVL : Thư Viện Vật Lý
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cùng
với sự phát triển cực kỳ nhanh chóng của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ
thông tin-truyền thông (CNTT&TT) và sự phát triển của khoa học giáo dục, việc nghiên cứu đổi mới
phương pháp dạy học theo hướng tích hợp công nghệ vào dạy học đã và đang được quan tâm đặc biệt ở
mọi quốc gia trên thế giới nhằm kết hợp và phát huy được tính ưu việt của công nghệ hiện đại vào
trong giáo dục. Đổi mới phương phá
p dạy học bằng CNTT&TT cũng là một chủ đề lớn được Unesco
chính thức đưa ra thành chương trình hành động trước ngưỡng cửa của thế kỷ XXI, Unesco dự đoán sẽ
có sự thay đổi nền giáo dục trên thế giới một cách căn bản do ảnh hưởng của CNTT&TT trong những
năm tới.
Đối với nước ta, việc sử dụng C
NTT&TT trong dạy học cũng đã và đang là vấn đề mang tính
thời sự. Đã có nhiều công trình của các tác giả đã công bố cũng như nhiều cuộc hội thảo về sử dụng
thiện và hiện đại hoá thiết bị, công nghệ dạy học; đồng thời hoàn thiện hạ tầng công nghệ thông tin và
truyền thông để mọi trường học đều có thể kết nối vào mạng Internet, các tập thể và xã hội cần qua
n
tâm hơn nữa đến những nỗ lực của GV trong việc ứng dụng CNTT&TT vào giảng dạy…
Những khó khăn chủ quan nê
u trên ảnh hưởng không những đến những cố gắng của từng cá nhân
GV trong việc ứng dụng CNTT&TT vào đổi mới việc dạy và học mà còn trở ngại lớn đến cố gắng
chung của ngành là làm sao đẩy nhanh, đẩy mạnh và hiệu quả việc ứng dụng CN
TT&TT để nâng cao
chất lượng giáo dục.
Hạn c
hế về ngoại ngữ ở số đông giáo viên là rào cản vô cùng lớn ngăn cách giáo viên với nguồn
tài nguyên số khổng lồ trên Inetrnet, trong khi nguồn tài nguyên số bằng tiếng Việt thì hiện còn rất
khan hiếm, do đó nảy sinh nhu cầu trao đổi tư liệu số, kinh nghiệm dạy học với đồng nghiệp khác.
Mặc dù phải thừa nhận rằng hiện tồn tại một nguồn tư liệu số khổng lồ và
không ngừng tăng
trưởng trong cộng đồng giáo viên hiện nay đó là kết quả của những cố gắng cá nhân trong việc ứng
dụng CNTT &TT và dạy học VL như: các phần mềm chuyên dụng, giáo án điện tử, …Cho đến nay
hầu như chúng vẫn chỉ là “tài sản” riêng của mỗi giáo viên, chúng chưa được phổ biến, tình giá trị của
chúng c
hưa được thẩm định do chúng chưa được đánh giá chất lượng một cách khách quan.
Làm
thế nào để phát huy thuận lợi, khắc phục những khó khăn cơ bản và rất chung của số đông
giáo viên để đẩy nhanh việc ứng dụng CNTT&TT vào dạy học vật lí? Giải pháp nào là căn cơ, khả thi?
Giả định rằng nếu c
ó một nguồn tư liệu số đủ phong phú, đủ lớn để đáp ứng được nhu cầu của đa
số giá
o viên bằng tiếng Việt hay các nguồn dữ liệu tiếng nước ngoài được đưa về một mối, được chỉ
dẫn khai thác và sử dụng bằng tiếng Việt thì đó chính là nguồn tư liệu phù hợp nhất với số đông giáo
viên hiện nay.
te này vào hoạt động thực tiễn nhằm thiết lập các mối quan hệ chia sẻ tài nguyên, giúp đỡ,
trao đổi kinh nghiệm trong cộng đồng GV qua đó giúp đỡ họ tiếp cận và ứng dụng CNTT&TT vào dạy
học VL.
3. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là giáo viên và nhu cầu của họ t
rong việc ứng dụng CNTT&TT
trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy vật lý ở trường phổ thông.
4. Nhiệm vụ ng
hiên cứu
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là tìm ra giải phá
p giúp cho giáo viên vượt qua những khó khăn
nội tại trong việc ứng dụng CNTT&TT vào dạy học Vật Lý ở trường phổ thông.
- Nghiên cứu nội dung cấu trúc chương trình VL THPT để:
o Thiết kế nội dung website, gần gũi với GV và
HS.
o Website thực sự thành nguồn tài liệu bổ trợ, nâng cao cho công t
ác giảng dạy
và học tập.
- Cách thu thập và tổ chức dữ liệu thích hợp.
o Tài liệu giảng dạy, học tập
o Sách báo
o Thư viện các thí nghiệm ảo, media
- Tìm hiểu CNTT&TT hỗ trợ dạy học VL.
- Nghiên cứu nguồn mở Joomla và cách thiết kế website hỗ trợ GV ứng dụng CNTT&TT vào dạy
học VL ở trường THPT.
- Nguyên lý hoạt động của một số web 2.0 đã thành công.
- Các công cụ đánh giá Website 2.0 như Google Analytics, Alexa Ranking
6. Phạm vi nghiên cứu
quen truy cập Internet để tìm kiếm. Do đó, công cụ cần phải xây dựng đó là một website bởi vì đây
là
cách nhanh nhất thông tin có thể đến được với người sử dụng. Tư tưởng chủ yếu của nó chính là sử
dụng cộng đồng phục vụ lại cộng đồng. Các tư liệu được sàng lọc từ nguồn Internet vô tận, được viết,
dịch và đưa lên website bởi chính người dùng. Tiêu chí đánh giá cũng dựa trên người dùng. Khuynh
hướng này được chứng minh có thể thành công vì đã có rất nhiều website với cách hoạt động tương tư
như thế đã thành công vượt bậc trên thế giới như: Y
outube, Myspace, Wikipedia, Mapedia…
Từ những phâ
n tích trên, tác giả đặt giả thuyết khoa học cho đề tài này là: “Nếu tạo ra được một
website cộng đồng về vật lý như một ‘sân chơi’ mang tính tương tác cao thì sân chơi này sẽ thu hút
được sự quan tâm của cộng đồng giáo viên vật lý, tăng cường chia sẻ tư liệu, trao đổi kiến thức, kinh
nghiệm, thông tin và phương pháp giảng dạy. Đặc biệt là sẽ tập trung được nguồn tài nguyên điện tử
rãi rác trong cộng đồng giáo viên tạo thành một kho tư liệu số đa dạng, phong phú, hữu ích, cập nhật
thường xuyên phục vụ cho dạy học vật lý ở trường phổ thông. Đối với mỗi giáo viên, website này như
một công cụ để tự đánh giá tư liệu của bản thân qua nhận xét đánh giá của đồng nghiệp trong cộng
đồng và là công cụ hữu hiệu hỗ trợ cho họ ứng dụng CNTT&TT vào dạy học vật lý một cách thuận
tiện và dễ dàng”.
7. Ý n
ghĩa khoa học và thực tiễn
- Ứng dụng và hiện t
hực hóa ý tưởng mạng xã hội cho mảng giáo dục nói chung và ngành giảng
dạy vật lý nói riêng.
- Xây dựng được một sản phẩm giáo dục có ứng dụng công nghệ thông tin là website
thuvienvatly
.com dành cho đối tượng là giáo viên dạy vật lý và học sinh học vật lý. Sản phẫm
mang tính tương tác cao là sân chơi giao tiếp, trao đổi tài nguyên, kiến thức và kinh nghiệm nhằm
nâng cao chất lượng dạy học vật lý theo hướng tăng cường ứng dụng Internet và công nghệ đa
truyền thông.
- Hình thành ở GV và HS tư duy chia sẻ với cộng đồng. Từ đây là nền tảng để tạo nguồn tư liệu số
1.1. Vai trò của Công nghệ Thông tin & Truyền thông trong đổi mới giáo dục
Công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT&TT) là ngành ứng dụng công nghệ quản lý và xử lý
thông tin. Tốc độ phát triển vũ bão của công nghệ làm cho việc luân chuyển thông tin trở nên cực kỳ
nhanh chóng và vai trò của thông tin ngày càng trở nên quan trọng. Những khả năng mới mẻ và ưu việt
này của CNTT&TT đã nhanh chóng làm thay đổi cách sống, cách làm việc, cách học tập, cách tư duy
và quan trọng hơn cả là cách ra quyết định của con người.
Chí
nh do tốc độ tăng trưởng và đặc điểm của CN
TT&TT nó mà đã có tác động to lớn và toàn
diện đến xã hội loài người, và hiển nhiên cũng tác động mạnh mẽ trực tiếp đến giáo dục, qua đó tác
động sâu sắc đến ba tác nhân trong một hệ thống giáo dục là người học, người dạy và môi trường dạy
và học.
Trong khuôn khổ của luận văn tôi chỉ đề cập đến tác nhân thứ ba đó là môi trường m
à trọng tâm
cũng chỉ giới hạn là môi trường CNTT&TT là tác nhân quan trọng ảnh hưởng đến việc dạy và học
trong thời đại ngày nay.
1.1.1. Tạo nên phương tiện dạy học tiên tiến, hiệu quả
QTDH là một quá trình truyền thông bao gồm sự lựa chọn, sắp xếp và phân phối thông tin trong
một môi trường sư phạm thích hợp, có sự tương tác giữa người học và các thông tin. Trong bất kỳ tình
huống dạy học nào cũng có các thông điệp truyền đi. Thông điệp từ người thầy, tùy theo phương pháp
dạy học sẽ được các phương tiện dạy học truyền đến HS.
Phương tiện dạy học (PTDH) bao gồm mọi thiết bị kỹ thuật từ đơn giản đến phức tạp được dùng
trong QTDH để làm dễ dàng cho sự truyền đạt và tiếp thu kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo [6]. Đi cùng sự
phát triển của kỹ thuật và công nghệ, PTDH trong lịch sử giáo dục đã trải qua ít nhất qua bốn giai đoạn
phát triển: (1) phấn, bảng; (2) thiết bị, đồ dùng dạy học: sách giáo khoa, sách bài tập, sổ tay tóm tắt
công thức, phiếu học tập, tạp chí chuyên đề, mẫu vật thật, mẫu vật, m
ô hình, hình ảnh,…; (3) phương
tiện nghe nhìn: máy chiếu, máy ghi âm, audio, video ... ; (4) công nghệ thông tin và truyền thông:
MVT, đĩa mềm, đĩa CD-Rom, đồ chơi, hệ multimedia ...
Trong bốn giai đoạn trên, CN
PTTQ (phim ảnh, buổi phát thanh, truyền hình ...). CNTT&TT giúp chúng ta vượt qua giới hạn của
không gian và thời gian để đưa vào lớp học những sự kiện, quá trình xảy ra ở rất xa hoặc rất lâu trong
quá khứ.
Môi trường đa phương tiện (multimedia) kết hợp những hì
nh ảnh video, camera với âm thanh,
văn bản, biểu đồ … được trình bày qua máy tính theo kịch bản vạch
sẵn nhằm đạt hiệu quả tối đa qua
một quá trình học đa giác quan sẽ kích thích sự chăm chú theo dõi của HS góp phần phát triển sự say
mê hứng thú, tính tích cực chủ động trong học tập, giúp phát triển năng lực nhận thức, năng lực quan
sát, năng lực phân tích, tổng hợp, phê phán… của HS. Hiệu quả của việc tích hợp đó vào quá trình dạy
học được thể hiện t
heo biểu đồ 1.1 sau: 90%
Development (APEID) của UNESCO chuẩn bị cho giai đoạn 2002 - 2007 đó nhấn mạnh đến vấn đề sử
dụng CNTT&TT để đối mới giáo dục (Information and Communication Technologies for Educational
Innovations). Như vậy việc sử dụng CNTT&TT hỗ trợ quá trình dạy học góp phần đổi mới phương
pháp dạy học đã được đặt ra và thực hiện trên phạm vi toàn thế giới. Giáo dục Việt Nam đang dần
chuyển dịch
từ mô hình truyền thống sang mô hình thông tin, trong mô hình này vẫn có sự kết hợp chủ
yếu là máy tính cá nhân và kết hợp với mạng LAN, WAN hoặc INTERNET. Trong điều kiện thực tế
của nhà trường phổ thông Việt Nam hiện nay, việc sử dụng công nghệ thông tin đang ở mức độ sử
dụng máy tính cá nhân cùng các thiết bị ghép nối như ổ đĩa CD, loa, máy chiếu Projector, mạng
internet ...
Ưu điểm nổi bật của phương pháp dạy học bằng CNTT&TT so với phương pháp giảng dạy truyền
thống là những thí nghiệm, tài liệu được cung cấp bằng nhiều hình thức: hình ảnh, văn bản, video với
âm thanh sống động làm cho học sinh dễ thấy, dễ tiếp thu và bằng suy luận có lý, học sinh có thể có
những dự đoán về các tính chất, những quy luật. Đây là một công dụng lớn của CN
TT&TT trong quá
trình đổi mới phương pháp dạy học. Nếu trước kia người ta nhấn mạnh tới phương pháp dạy sao cho
học sinh nhớ lâu, dễ hiểu, thì nay phải đặt trọng tâm là hình thành và phát triển cho học sinh các
phương pháp học chủ động tích cực. Nếu trước kia người ta thường quan tâm nhiều đến khả năng ghi
nhớ kiến thức và thực hành kỹ năng vận dụng, thì nay chú trọng đặc biệt đến phát triển năng lực sáng
tạo của học
sinh. Như vậy, việc chuyển từ “lấy giáo viên làm trung tâm” sang “lấy học sinh làm trung
tâm” sẽ trở nên dễ dàng hơn. Với sự hỗ trợ của CNTT&TT những phương pháp dạy học theo cách tiếp
cận hiện đại: phương pháp dạy học tích cực, phương pháp kiến tạo, phương pháp dạy học theo dự án,
dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề … càng có nhiều điều kiện để ứng dụng rộng rãi [12].
Sử dụng C
NTT&TT trong học tập sẽ hỗ trợ xây dựng kiến thức ở HS: giúp biểu thị các ý tưởng,
sự hiểu biết của HS, giúp HS tạo ra kiến thức một cách có hệ thống, phát huy khả năng tư duy sáng tạo.
CNTT&TT tạo cơ hội cho HS làm quen với một môi trường học tập mới trong đó họ có nhiều điều
kiện hơn để ôn tập, củng cố, tự kiểm tra k
iến thức ...; giúp cho HS tiếp xúc, tìm chọn được những tài
số nhóm làm bài tập, sau đó các nhóm phối hợp các hoạt động với nhau.
- Lớp học trong phòng m
áy tính, có cổng nối Internet và một số thiết bị khác như máy
chiếu, máy in, máy scan… Thầy giáo là người đưa ra các chủ đề, dự án học tập, nêu nhiệm vụ, giới hạn
thời gian, trình bày các bài trình diễn mẫu, đưa ra các tiêu chí đánh giá, … HS hoạt động độc lập hoặc
theo nhóm, cuối hoạt động HS trình bày các sản phẩm, tự đánh giá va tổng kết …
Hình thức học tập trực tuyến (online) ngày càng phát triển mạnh mẽ . Hiện nay, c
ó nhiều
phần mềm đã trở thành sản phẩm thương mại hóa dưới các tên gọi khác nhau như trường ảo, lớp học
ảo, phòng thí nghiệm ảo, lớp học mọi nơi, ... với mục đích đổi mới phương thức dạy và học truyền
thống. GS. Kar-Tin Lee, Hiệu trưởng Trường toán, khoa học và giáo dục công nghệ ở Queesland đã
nêu 10 ưu điểm của việc học trực tuyến như sa
u:
- Học được bất kể lúc nào trong ngày
- Học phù hợp với sức của mình
- Học rất nhanh
- Được tương tác nhiều hơn với giáo viên
- Được thảo luận nhiều hơn
- Có thể vươn tới nhiều nơi trên thế giới
- Học được từ các chuyên gia giỏi
- Học phí rẻ mà vận dụng được nhiều
- Thu thập từ Internet đư
ợc nhiều nguồn thông tin
Đối với hình thức học tập trực truyến, từ xa, tại nhà…, CN
TT&TT như một công cụ, phương tiện
hỗ trợ cho việc học tập của HS. HS sử dụng CNTT&TT như một phương tiện, công cụ để tiếp nhận,
trao đổi, xuất bản thông tin. Với cách tiếp cận này, đòi hỏi ở HS có kỹ năng nhất định về sử dụng M
VT
cũng như phải có vốn ngoại ngữ nhất định để có thế phát huy được hiệu quả dạy học. Bên cạnh đó,
người GV phải là người có thể làm chủ được các thiết bị hỗ trợ cho việc dạy học, là người có thể sử
Các quá trình vật lí vi mô là các quá trình nội tại của sự vật, hiện tượng hay siêu vĩ mô
xảy ra
trong vũ trụ đều nằm ngoài khả năng quan sát trực tiếp của con người cũng rất cần được trực quan hóa
để thuận lợi cho việc hình dung và nghiên cứu nó. Khi chưa có sữ hỗ trợ của CNTT&TT, người ta phải
sử dụng các mô hình biểu tượng và hình dung ra sự vận động của nó, nghiên cứu nó qua trí tưởng
tượng. Điều đó gây khó khăn rất lớn cho học sinh khi học tập các phần kiến thức này. Mô phỏng đã
giúp trực quan hóa các mô hình biểu tượng và các quá trình xảy ra trong nó như: chuyển động hỗn loạn
của phân tử khí, chuyển động của electron trong nguyên tử, hấp thụ, bức xạ ánh sang, vận động của các
hành tinh trong hệ Mặt trời, trong vũ trụ.
Việc MP bằng MV
T giúp đông đảo HS dễ dàng tham gia vào quá trình học tập vì nó tạo ngữ
cảnh, tạo c
ái nhìn tổng quát về kiến thức, cho phép tiếp cận với vấn đề thực tế, cho phép người dùng
tương tác với thí nghiệm bằng cách thay đổi các thông số đầu vào của thí nghiệm nhờ các công cụ nhập
liệu. Điều quan trọng là khi sử dụng MVT trong dạy học VL, trong việc MP các hiện tượng, quá trình
VL là các nhà lý luận dạy học, GV phải có được ý tưởng rõ rệt của việc sử dụng MVT để giải quyết
vấn đề gì, mà thiếu nó thì không t
hể có hiệu quả hay sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong dạy học.
Tóm lại, sự hỗ trợ của MVT và các phần mềm đã chuẩn bị sẵn giúp HS nghiê
n cứu được các mối
quan hệ có tính qui luật trong các hiện tượng VL một cách nhanh chóng.
1.2.2. Hỗ trợ thí nghiệm và phân tích quá trình vật lý
1.2.2.1.
Hỗ trợ thí nghiệm vật lý
Trong các ứng dụng của CNTT&TT vào dạy học VL thì việc sử dụng M
VT hỗ trợ các thí
nghiệm VL được ghép nối với MVT là một trong các ứng dụng đặc trưng nhất của nó.
Việc sử dụng các thí nghiệm
VL ghép nối với MVT có tiến trình như sau: Tiến hành thí nghiệm
chuyển động và vẽ đồ thị theo thời gian. Các công đoạn phân tích, xử lý số liệu và trình bày kết quả.
Tất cả công việc đó đều có thể nhờ phần mềm thực hiện một cách tức thời. Các kết quả này được trình
bày chính xác, rõ ràng trên màn hình ở dạng bảng hay đồ thị tuỳ theo lệnh được nhập vào. Cuối cùng,
người học sẽ dựa vào kết quả mà MVT
đã phân tích để đưa ra dự đoán (giả thuyết) về qui luật chuyển
động và kiểm tra tính đúng đắn của dự đoán, điều chỉnh dự đoán để tìm ra qui luật.
Nhờ phương pháp này mà phạm
vi các quá trình VL được nghiên cứu rộng hơn (các dạng
chuyển động một chiều, trong mặt phẳng…). Ưu điểm này tạo điều kiện xóa bỏ sự ngăn cách giữa nhà
trường và thế giới bên ngoài, cho phép đưa các hiện tượng có thực trong đời sống sinh động hằng ngày
vào bài giảng, tạo hứng thú học tập cho HS. Tiết kiệm thời gian do các thao tác tính toán, xử lý, lập
bảng biểu… được máy móc thực hiện. GV và HS được giải phóng khỏi những công việc tính toán
không quan trọng trong quá trình nhận thức, dành được nhiều thời gian hơn cho những giai đọan nhận
thức mang tính sáng tạo như đề xuất giả thiết, xây dựng phương án kiểm tra g
iả thuyết…
Hiện na
y, ở các nước phát triển, việc phân tích các quá trình VL đã được ứng dụng ở các trường
phổ thông để nghiên cứu, tìm ra qui luật của nó.
1.2.3.
Thí nghiệm ảo
Thí nghiệm ảo là tập hợp các tài nguyên số đa phương tiện dưới hình thức đối tượng học tập,
nhằm mục đích mô phỏng các hiện tượng VL xảy ra trong tự nhiện hay trong phòng thí nghiệm. Thí
nghiệm ảo có đặc điểm là có tính năng tượng tác cao, giao diện thân thiện với người sử dụng và có thể
mô phỏng những quá trình, điều kiện tới hạn khó xảy ra trong tư nhiê
n hay khó thu được trong phòng
thí nghiệm. Thí nghiệm ảo giúp giảm thiểu việc học chay do thiếu phương tiện, điều kiện thí nghiệm
giúp người học chủ động học tập phù hợp với tinh thần người học là trung tâm của giáo dục hiện đại.
Ví dụ thực hiện thí nghiệm
Cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng CNTT&TT ở trường học còn yếu và
thiếu. Tỷ lệ HS/ máy vi
tính, tỷ lệ GV/ máy vi tính còn rất lớn, việc tạo cơ hội truy cập và sử dụng Internet dành cho giáo viên
các vùng sâu chưa được thực hiện triệt để và có chiều sâu do t
hiếu kinh phí, do tốc độ đường truyền
không bảo đảm. Các phương tiện, thiết bị phục vụ cho việc đổi mới phương pháp dạy học bằng phương
tiện chiếu projector… còn thiếu; chính sách, cơ chế quản lý thiếu thống nhất và còn nhiều bất cập.
Sĩ số học sinh trong một đơn vị lớp quá đông. Việt Nam có một nền kinh tế đang phát triển
với áp lực dân số hơn 85 triệu dân, trong đó số người ở độ tuổi đi học chiếm
28,73%, trường học liên
tục được xây mới nhưng vẫn đang bị quá tải, chưa đáp ứng được nhu cầu học tập của trẻ em. Sĩ số học
sinh hầu hết ở các trường học ở Việt Nam số lượng học sinh trong một lớp trung bình khoảng 45-50
HS/lớp. Quá nhiều HS trong một lớp học khiến cho việc thực hiện các phương pháp dạy học hiện đại
gặp khó khăn, GV không đủ thời gian để quan tâm đầy đủ đến từng cá nhân HS.
Nội dung chương trình hiện nay chưa có sự thay đổi căn bản, mô hình dạy học vẫn còn đang
trong giai đoạn của mô hình dạy học truyền thống chú trọng nội dung kiến thức, chương trình học vẫn
cứng nhắc, quá tải, chú trọng và
o kỹ năng tái hiện nội dung học tập chứ không phải các kỹ năng sống.
Cơ chế kiểm tra, đánh giá, thi cử: việc đánh giá thi cử hiện nay còn rất nặng nề, thiên về
đánh giá mức độ đồng hóa kiến thức của HS. Dưới áp lực không ngừng của thi cử cả thầy và trò đều
phải gắng sức để: thầy truyền đạt đư
ợc hết các nội dung bài học, trò phải lĩnh hội hết các nội dung ấy.
Trong một cơ chế thi cử như hiện nay, cơ hội để ứng dụng CNTT trong dạy học gặp rất nhiều khó
khăn, và cách dạy truyền thống vẫn tỏ ra ưu thế để “hoàn thành” các nội dung chương trình học tập.
Ngoài ra, cách đánh giá một tiết dạy có ứng dụng CNTT còn lúng túng, chưa xác định hướng ứng dụng
CN
TT&TT trong dạy học.
Thiếu tài nguyên học tập bằng Tiếng Việt: cho đến nay, tài nguyên số phục vụ cho việc dạy
học trên thế giới thật sự không lồ, tuy nhiên GV gần như vẫn không tận dụng được chúng một cách
hiệu quả vì tuyệt đại đa số đều không phải bằng Tiếng Việt. Việc nghiên cứu và tạo ra tài nguyên bằng
năm nay trong QTDH, truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Phương pháp dạy học cũ vẫn còn như
một lối mòn khó thay đổi, sự uy quyền, áp đặt vẫn chưa thể xoá được trong một thời gian trước mắt khi
mà phương pháp cũ vẫn đáp ứng tốt nhu cầu thi cử. Việc dạy học có ứng dụng CNTT&TT tạo ra môi
trường tương tác giữa người-máy, người với người, người với tư liệu luôn đi kèm với nó sử dụng
các
cách dạy học hiện đại như dạy theo nhóm, dạy phương pháp tư duy sáng tạo cho học sinh…; đồng thời
cũng như dạy học sinh cách biết, cách làm, cách chung sống và cách tự khẳng định m
ình… Tất cả
những điều đó vẫn còn mới mẻ đối với giáo viên. Muốn thực hiện tốt các phương pháp mới thì đòi hỏi
giáo viên phải đầu tư công sức nâng cao kiến thức về phương pháp sư phạm lẫn kiến thức tin học để có
thể kết hợp hài hòa các phương pháp dạy học đồng thời phát huy ưu điểm CNTT&TT. Tâm lý ngại
khó, ngại thay đổi cũng làm thành một yếu tố cản trở quá
trình ứng dụng CNTT&TT vào dạy học.
1.3.3. Giải pháp
Tất cả những khó khăn căn bản nêu trên, cả chủ quan lẫn khách quan, đã đưa đến một thực tế:
những năm gần đây CNTT&TT dù đã được đưa vào QTDH, vẫn chưa thể phát huy tính trọn vẹn tích
cực và tính hiệu quả của nó. Làm thế nào để khắc phục các khó khăn kể trên?
Trong các thách thức trên, một số các khó khăn có thể khắc phục đã được các cấp quản l
ý giáo
dục qua
n tâm và đưa ra các giải pháp như:
Đối với vấn đề cơ sở vật chất: Nhà nước v
à bản thân các nhà trường cần đầu tư hơn nữa
kinh phí cho các thiết bị dạy-học hiện đại. Vấn đề cơ sở vật chất là đòi hỏi hàng đầu khi ứng dụng
CNTT&TT&TT vào dạy-học. Thiết bị phải thật sự hiệu quả, chất lượng (hì
nh ảnh, âm thanh,…) sao
cho HS dễ quan sát và tạo được sự hứng thú trong học tập.
Đối với việc đào tạo đội ngũ GV: Nhà nước cần phải có những chủ trương, chính sách, chế
độ bồi dưỡng cho việc soạn giảng bằng GAĐT, khuyến khích việc ứng dụng CNTT&TT&TT trong
dạy-học. Đội ngũ GV là điều kiện tiếp theo có tầm quan trọng không kém. GV cần được học, tập huấn
phản á
nh đúng nội dung, giá trị nghệ thuật và thực tế thì không nên sử dụng. Chuẩn kiến thức ở mức
độ vận dụng cần kết hợp bảng và sử dụng các phương pháp dạy-học khác mới có hiệu quả.
Đối với vấn đề hạn chế ngoại ngữ ở GV và vấn đề thiếu tư liệu dạy-học: đây là hai vấn đề
có liên quan mật thiết với nha
u. Tư liệu điện tử trên Internet dành cho dạy học hầu hết ở các trang web
nước ngoài, các sản phẩm dạy học thiết thực đều đòi hỏi bản quyền cũng như chuyển đổi ngôn ngữ
sang tiếng Việt. Nhu cầu nhanh chóng đổi mới phương pháp dạy học, ứng dụng CNTT&TT trong
giảng dạy trở nên cấp bách tr
ong giai đoạn hiện nay trong khi đó không thể yêu cầu tất cả GV đều phải
biết ngoại ngữ để sử dụng được các tư liệu nước ngoài bởi vì học ngoại ngữ là một vấn đề lâu dài và
hết sức khó khăn. Giải pháp tốt cho vấn đề này nhất thiết phải là nhà nước, các trường đại học, cao
đẳng … tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho việc tạo ra các sản phẩm có
chất lượng cao phục vụ cho
đổi mới chất lượng dạy-học trong ngành sư phạm. Cụ thể tiếp tục nghiên cứu sản xuất các đồ dùng và
các phương tiện dạy-học, xây dựng thêm các phần mềm, sản xuất các băng hình dạy-học, tiến tới sản
xuất sách điện tử, kho tư liệu điện tử thiết thực phù hợp c
ho việc dạy-học ở các trường phổ thông.
Ứng dụng hiệu quả CNTT
&TT vào dạy học đòi hỏi rất nhiều nỗ lực từ nhiều phía như nhà
nước, xã hội, các nhà cải cách giáo dục và bản thân đội ngũ GV, nếu thiếu một trong các thành tố trên
thì công cuộc đổi mới sẽ không thể thành công như mong muốn.
1.4. Giải pháp xây dựng thư viện điện tử dưới hình thức website cộng đồng
1.4.1. Mục đích
Việc nghiên cứu xây dựng thư viện điện tử hỗ trợ dạy học Vật Lý- gọi tắt là Thư Viện Vật Lý
(TVVL)- với mục đích: tạo ra nguồn tài nguyên thuần Việt hỗ trợ dạy học Vật Lý ở trường phổ thông
nhằm khắc phục nhanh chóng hiệu quả thực trạng thiếu hụt tài nguyên số bằng tiếng Việt do hai
nguyên nhân cơ bản là tình trạng khan hiếm
tài nguyên tiếng Việt và hạn chế về trình độ ngoại ngữ ở
GV khi tiếp cận với nguồn tài nguyên nước ngoài.
sẻ, trao đổi tư liệu, ki
nh nghiệm, góp ý không ngừng để phát triển và nâng cao chất lượng nguồn tài
nguyên số với đồng nghiệp trong cả nước, nhu cầu giúp đỡ và được giúp đỡ để phát triển nghề
nghiệp.Vì thế, cần có biện pháp hỗ trợ lực lượng GV tiếp cận được với các tài nguyên đang tồn tại một
cách tản mạn và đáp ứng được nhu cầu trao đổi thông tin trong cộng đồng.
Làm thế nào để phát huy thuận lợi, khắc phục những khó khăn cơ bản và rất chung của số đông
giáo viên nhằm đẩy nhanh việc ứng dụng CNTT&TT vào dạy học vật lí? Giải pháp nào là căn cơ, khả
thi?
Giả định rằng nếu c
ó một nguồn tư liệu số đủ phong phú, đủ lớn để đáp ứng được nhu cầu của đa
số giáo viên bằng tiếng Việt hay các nguồn dữ liệu tiếng nước ngoài đư
ợc đưa về một mối, được chỉ
dẫn khai thác và sử dụng bằng tiếng Việt thì đó chính là nguồn tư liệu phù hợp nhất với số đông giáo
viên hiện nay.
Làm
thế nào để một cách nhanh nhất có thể quy tụ các nguồn tài nguyên số phục vụ dạy học VL
phổ thông bằng tiếng Việt có chất lượng và phù hợp về một mối. Làm thế nào để không ngừng làm
giàu và không ngừng nâng cao c
hất lượng nguồn tài nguyên này?
Ta có thể hình dung ra mức độ đồ sộ và đa dạng cần thiết của nguồn dữ liệu số này do nhu cầu sử
dụng chúng là rất lớn và không ngừng tăng lên, cũng thấy ngay rằng không thể có một cá nhân hay một
tổ chức nào có thể đứng ra xây dựng toàn bộ cơ sở dữ liệu đáp ứng được mọi mo
ng muốn và yêu cầu
ngày càng tăng của giáo viên. Rõ ràng là, một nguồn dữ liệu số như vậy thì không ai khác, chính
những có nhu cầu sử dụng và có khả năng tạo ra phải cùng tham gia xây dựng, vì hơn ai hết, chính họ
mới biết họ cần những gì, cần như thế nào và cần để làm gì. Sự đông đảo về lực lượng tham gia xây
dựng sẽ nhanh chóng tạo nên sự giàu có, đa dạng và sự phát triển không ngừng của nguồn tài nguyên
số. Ngược lại, nguồn t
ài nguyên số được tạo ra sẽ quay trở lại phục vụ cộng đồng giáo viên, sự đông
Website là tập hợp của rất nhiều trang web - một loại siêu văn bản (tập tin dạng HTML hoặc
XHTML) trình bày thông tin trên mạng Internet- tại một địa chỉ nhất định để người xem có thể truy
cập vào xem. Tất cả các website đều được thiết lập quanh trang chủ (homepage) giữ nhiệm vụ như một
điểm xuất phát đến các trang web phức tạp khác trong web site. Trong hệ thống phân cấp, trang chủ
chiếm vị trí trên đỉnh của sơ đồ. Trang web đầu tiên người xem truy cập từ tên miền thường đư
ợc gọi
là trang chủ (homepage), người xem có thể xem các trang khác thông qua các siêu liên kết (hyperlinks)
từ trang này .
Một website thông thường được chia làm 2 phần:
Giao diện người dùng (front-end): Giao diện người dùng là định dạng trang web được trình
bày trê
n màn hình của máy tính của người xem (máy khách) được xem bằng các phần mềm trình duyệt
web như Internet Explorer, Firefox, ...
Giao diện và các chương trình được lập trình để website hoạt động (back-end).
Tùy thuộc vào Back-end mà website chia làm hai loại:
- Website động (Dynamic website) là website có cơ sở dữ liệu, đư
ợc cung cấp công cụ quản lý
website (Admin Tool) để có thể cập nhật thông tin thường xuyên, quản lý các thành phần trên
website. Loại website này thường được viết bằng các ngôn ngữ lập trình như PHP, Asp.net,
JSP, Perl,..., quản trị Cơ sở dữ liệu bằng SQL hoặc MySQL,...
- Website tĩnh do lập trình bằng ngôn ngữ HTML theo từng trang như brochure, không có cơ
sở dữ liệu và không có công cụ quản lý thông tin trên website. Người quản lý phải biết kỹ
thuật thiết kế trang w
eb (thông thường bằng các phần mềm như FrontPage, Dreamwaver,...)
khi muốn thiết kế hoặc cập nhật thông tin của những trang web này.
Đặc điểm tiện lợi của website: thông tin dễ dàng cập nhật, thay đổi, người sử dụng có thể xem
thông tin ngay tức khắc, ở bất kỳ nơi nà
o, tiết kiệm chi phí in ấn, gửi bưu điện, fax, thông tin không
giới hạn và không giới hạn phạm
vi khu vực sử dụng (toàn thế giới có thể truy cập).
sở dữ liệu rất quan trọng. Dữ liệu ấy phải được cập nhật dễ dàng và thuận lợi, yêu cầu kíc
h thước lưu
trữ phải tối thiểu, truy cập nhanh chóng, dễ dàng chia sẻ, dùng chung hay trao đổi giữa nhiều người
dùng. Đặc biệt với dạy học, cấu trúc cơ sở dữ liệu phải hướng tới việc hình thành những thư viện
điện tử trong tương lai, như thư viện các bài tập, đề thi; thư viện các tranh ảnh, các phim học tập; thư
viện các tài liệu giáo khoa,... Cùng với việc xây dựng website, cần xâ
y dựng các công cụ nhập dữ
liệu một cách thuận tiện, đơn giản để mọi người có thể tham gia bổ sung dữ liệu.
Đảm bảo tính thân thiện trong sử dụng: Xu hướng xây dựng các phần mềm hiện nay là
chương trình phải có giao diện hết sức thân thiện đối với mọi người theo nghĩa dễ tìm hiểu, dễ tiếp
cận, dễ thao tác, dễ sử dụng, tận dụng được các thói quen có sẵn.
Lưu ý là việc phải thực hiện qua
nhiều bước để đến được thông tin cần thiết cản trở người sử dụng đến với website.
1.5.3. Vai trò của website hỗ trợ dạy học vật lý
Website là công cụ hỗ trợ hoạt động dạy của GV:
- Website dùng cho GV dạy tại lớp học.
- Website cung cấp nguồn tài liệu để GV tham khảo và chia sẻ thông tin:
+ Với nguồn tư liệu dồi dào trong website: hình ảnh, ảnh động, video, Flash, các
nguồn tư liệu văn bản…giúp GV có thể khai thác để minh họa, mô phỏng, định hướng tốt được nội
dung bài học, lôi cuốn HS tham gia tích cực vào bài học.
+ Với hệ thống bài giảng được thiết kế công phu, hỗ trợ cho GV hướng dẫn HS
làm việc với nội dung bài mới đạt hiệu quả cao.
+ Với hệ thống bài tập, câu hỏi đư
ợc sắp xếp có ý đồ sư phạm sẽ giúp cho GV
hướng dẫn HS ôn tập, rút ngắn được thời gian trình bày của giáo viên.
- Website dạy học còn
là công cụ giúp GV có thể trao đổi chuyên môn với nhau nhằm
nâng cao tay nghề, qua đó tích lũy kinh nghiệm và phát huy tính sáng tạo trong hoạt động giảng dạy