Ngô Quyền khởi nghĩa đánh bại quân xâm
lược Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm
Mậu Tuất 938 1.Trận đánh trên sông Bạch Đằng của Ngô Quyền dưới con mắt
nghệ sĩ
Tháng 4-1937, Dương Đình Nghệ bị Kiều Công Tiễn, hào trưởng đất
Phong Châu giết chết để đoạt chức Tiết độ sứ. Ngô Quyền, vừa là bộ
tướng, vừa là con rể của Dương Đình Nghệ tiến quân ra Bắc để trừ kẻ
phản bội. Trước sự phẫn nộ của nhân dân, Kiếu Công Tiễn nhanh chóng
cầu cứu vua Nam Hán. Nắm lấy cơ hội, vua Nam Hán dù được triều thần
can ngăn nhưng vẫn quyết tâm chiếm nước ta cho bằng được.
Vua Nam Hán đã phong cho con hai là Vạn vương Hoằng Tháo chức
Tĩnh hải quân tiết độ sứ, thống lĩnh thủy quân 'vượt biển sang nước ta
với danh nghĩa giúp Kiều Công Tiễn đánh Ngô Quyền. Bản thân nhà vua
đem quân đến đóng ở trấn Hải Môn, tỉnh Quảng Tây, sát với biên giới
nước ta để kịp thời tiếp viện.
Khi quân Nam Hán còn chưa đến nước ta, Ngô Quyền cùng đội quân
của mình đã tiến ra Bắc tiêu diệt Kiều Công Tiễn tại thành Đại La. Trừ
xong họa trong nước, Ngô Quyền cùng toàn dân chuẩn bị đánh giặc
ngoại xâm. ông nhận định: “|Hoằng Tháo là một đứa trẻ dại, đem quân
từ xa đến, quân lính mỏi mệt lại nghe được tin Công Tiễn đã bị giết,
không có người làm nội ứng, đã mất vía trước rồi. Quân ta sức còn
mạnh, địch với quân mỏi mệt, tất phá được".
Thần tích và truyền thuyết dân gian các làng Nam Hải, Đằng Hải đều nói
rõ: từ Bình Kiều, Hạ Đoạn tới Lương Khê (thuộc An Hải, Hải Phòng) là
30cm trong một giờ, ào ào xuôi ra biển, mực nước chênh lệch khi cao
nhất và thấp nhất cũng trên 3m. Với chế độ nhật triều, thời gian từ lúc
nước triều lên cho đến lúc xuống thấp nhất chỉ trong vòng một ngày.
Ngô Quyền đã huy động quân dân vào rừng đẵn gỗ, vót nhọn, bịt sắt rồi
đóng xuống dòng sông, bãi cọc tạo thành bãi chướng ngại ở hai bên cửa
sông. Khi nước triều lên, cả bãi cọc ngập chìm dưới nước nhằm chặn
đường rút của thủy quân địch. Cả một đoàn binh thuyền cửa Hoằng
Tháo vượt biển tiến vào sông Bạch Đằng. Ngô Quyền cho quân thủy
dùng thuyền nhẹ đón đánh địch từ xa, quân ta giả thua rút chạy. Hoằng
Tháo cho quân đuổi theo, vượt qua bãi cọc, tiến sâu vào thế trận quân ta
đã dàn sẵn. Khi thủy triều xuống, quân ta bất ngờ tiến công mãnh liệt
Quân địch bị chặn bởi bãi cọc, không rút chạy được bị. Quân giặc phần
bị giết, phần bị chết đuối, thiệt hại đến quá nửa. Hoằng Tháo đã bỏ mạng
theo Kiều Công Tiễn, đội quân xâm lược hoàn toàn tan rã. Vua Nam
Hán đang điều quân sang tiếp viện cho con nhưng nửa đường nghe tin
Hoằng Tháo chết trận quá đau xót, y thu nhặt tàn quân rút chạy. Ý chí
xâm lược của nhà Nam Hán bị đè bẹp.
Vua Nam Hán đã mắc phải sai lầm vô cùng lớn cũng chi vì lòng tham
không đáy. Nuôi mộng bành trướng, chiếm lĩnh nước ta, chúng không
biết suy xét thực tế rằng Kiều Công Tiễn là một kẻ "vô luân, bất nhân",
nhẫn tâm giết hại chủ tướng là "bất nghĩa", hại cha nuôi của mình là "bất
hiếu', lại đang tâm bán nước là "bất trung"; chính vì thế y không được
lòng bộ tướng, binh sĩ cũng như lòng dân, cả nước lên án kẻ tội đồ; vậy
thì làm sao có khả năng "giúp sức" cho quân xâm lược tiến vào lãnh thổ.
Cái chết của Kiều Công Tiễn, Hoằng Tháo, sự thua trận của quân Nam
Hán là tất yếu !
2.Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 đã đánh dấu sụ chấm dứt thời kỳ
thời kỳ độc lập lâu dài, bứt ra khỏi sự đô hộ của ngoại bang.
Lịch sử đã ghi nhận: Ngô Quyền là vị vua đã khai tử thời đại Bắc thuộc
kéo dài hơn 1.000 năm (từ năm 111 TCN đến năm 938, trừ ba năm 40-
42 nước ta được độc lập dưới triều Trưng Vương), là người có công tái
tạo, đã khai sinh ra thời đại tự chủ của dân tộc Việt với các triều đại Ngô
- Đinh - Tiền Lê - Lý - Trần - HỒ - Hậu Trần - Hậu Lê - Trịnh - Nguyễn
- Tây Sơn
Ngô Quyền được coi là vị vua đứng đầu các vua của nước ta (theo quan
điểm của Đại Việt sử ký toàn thư). Chiến thắng Bạch Đằng đã thể hiện
tài năng quân sự và ý chí quyết thắng của người anh hùng dân tộc Ngô
Quyền; đồng thời cũng là thành quả của cuộc kháng chiến anh dũng và
đầy sáng tạo của nhân dân ta sau hơn 30 năm làm chủ đất nước Thắng
lợi ấy nói lên sự lớn mạnh của nhân dân ta về trí tuệ và khả năng đánh
bại kẻ địch không những chỉ bằng du kích mà cả bằng chính quy, không
những chỉ ở trên bộ mà cả bằng thủy chiến. Chiến thắng Bạch Đằng là
một ví dụ điển hình về tinh thần mưu trí và có tính toán một cách chính
xác trong nghệ thuật chiến dịch của lịch sử chiến đấu chống ngoại xâm
của dân tộc ta. Nó đã khẳng định quyền làm chủ của nhân dân ta trên
vùng đất của tổ tiên thời Văn Lang - Âu Lạc và tạo thêm một niềm tin,
một niềm tự hào sâu sắc lên bước đường xây dựng đất nước độc lập, tự
chủ sau này.
Nhà sử học Ngô Thì Sĩ (thế kỷ XVIII) đã đánh giá đúng vị trí và ý nghĩa
lịch sử của chiến thắng Bạch Đằng khi viết: "Trận thắng lợi trên sông
Bạch Đằng và cơ sở sau này cho việc phục lại Quốc thống. Những chiến
công các đời Đinh, Lê, Lý, Trần vẫn còn nhờ vào cái uy lẫm liệt để lại
ấy." "Trận Bạch Đằng này là vũ công cao cả, vang dội đến nghìn thu, há
phải chỉ lừng lẫy ở một thời bấy giờ mà thôi đâu” (Ngô Thì Sĩ, Việt sử
tiêu án).