Tân thư và phong trào Duy tân
ở Nhật Bản, Trung Quốc và Việt
Nam thời kì cận đại
Dưới ảnh hưởng của Tân thư, lịch sử xã hội và lịch sử tư tưởng Trung Quốc chuyển
biến một cách mau lẹ. Tuy những “biến pháp” trong Mậu Tuất chính biến (1898) do
Khang Hữu Vi cùng các đồng sự của ông chủ trương không thành (người thì bị giết,
người phải bỏ trốn ra nước ngoài); cách mạng Tân Hợi (1911) thất bại do chưa có một
đường lối chính trị phù hợp và một lực lượng quân sự đủ mạnh, nhưng những tư tưởng
chính trị, tri thức khoa học, văn học nghệ thuật và tư duy lý luận phương Tây đã qua Tân
thư mà thâm nhập vào đời sống xã hội chính trị, vào tâm hồn, tình cảm và lý tưởng cách
mạng của những trí thức ưu tú đang nuôi khát vọng canh tân đất nước.
Phong trào Ngũ Tứ (4-5-1919) là sự kiện có ý nghĩa khép lại thời kỳ Cận đại – một
thời kỳ chứa đựng những biến thiên vĩ đại trong lịch sử tư tưởng Trung Quốc, mở ra thời
kỳ hiện đại với những nhân vật lịch sử khác, những phong trào cách mạng khác đáp ứng
được yêu cầu của lịch sử. Trong phong trào này, tư tưởng dân chủ mới của giới trí thức,
của học sinh, sinh viên và hành động yêu nước của họ có thể được xem như là kết quả của
quá trình tiếp nhận những tư tưởng từ Tân thư thông qua những con đường khác nhau.
Trên phương diện văn hóa và văn học nghệ thuật, Tân thư là yếu tố quan trọng để
hình thành và phát triển tân văn (văn bạch thoại), hình thành nên các cuộc vận động văn
hóa mới với các đại biểu ưu tú như: Lý Đại Chiêu, Trần Độc Tú, Ngô Du, Lỗ Tấn, Hồ
Thích, Thái Nguyên Bồi…
Với Tân thư, các nhà cải cách và duy tân Trung Quốc cận đại không chỉ tìm thấy
phương cách và con đường để đưa Trung Quốc thoát khỏi chế độ phong kiến cổ hủ, mà còn
tìm thấy phương cách và con đường để giải phóng những năng lực trí tuệ - tinh thần tiềm ẩn
gương duy tân thu hút các chí sĩ Việt Nam đến học tập, tiếp thu để cứu nước cứu nòi.
Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh đã từng sang Nhật gặp gỡ và đàm đạo trực tiếp với
Lương Khải Siêu và mỗi người đã tiếp thu từ nhà cải cách nổi tiếng này những tư tưởng,
những chủ trương khác nhau để sau đó, khi về nước, người thì chủ trương bạo động,
người thì chủ trương cải lương, nhưng cả hai đều hướng về mục tiêu duy tân, mục tiêu
dân tộc.
Tuy vào thời kỳ này, để củng cố địa vị thống trị lâu dài ở Việt Nam, thực dân Pháp
đã đưa nhiều học sinh, sinh viên và trí thức trẻ Việt Nam sang du học tại Pháp. Họ giỏi
tiếng Pháp, thấm nhuần văn hóa, khoa học Pháp nhưng ảnh hưởng của họ trong đời sống
tinh thần xã hội chưa đủ mạnh để lấn át ảnh hưởng của nhà Nho thời kỳ này. Ngược lại,
các nhà Nho cũng nhận thấy những hạn chế lịch sử của mình để thông qua chữ Hán mà
tiếp thu phương Tây. Tân thư vì vậy càng trở nên đắc dụng.
Như vậy là, vào thời kỳ Cận đại, ảnh hưởng của phương Tây đến Việt Nam qua 2
con đường: Trực tiếp từ nhà trường Pháp qua Pháp văn và gián tiếp từ Tân thư qua Hán
văn. Con đường trực tiếp giành cho các trí thức mới Tây học, còn con đường gián tiếp
giành cho các chí sĩ, các nhà Nho được đào tạo từ khoa cử phong kiến. Tuy con đường
tiếp thu phương Tây gián tiếp qua Tân thư phần nào bị khúc xạ qua lăng kính tư tưởng
của các nhà duy tân Nhật Bản và Trung Quốc, đặc biệt là của Khang Hữu Vi và Lương
Khải Siêu, nhưng nhờ đó mà các nhà duy tân Việt Nam mới tiếp cận được với thế giới,
khai mở trí tuệ để đón nhận “gió Âu mưa Á”, “thổ nạp Đông-Tây” đưa Việt Nam thoát ra
khỏi vòng luẩn quẩn, lạc hậu của ý thức hệ Nho giáo phong kiến. Mặc dù trong thế tranh
chấp ảnh hưởng với tầng lớp trí thức Tây học được đào tạo trực tiếp từ nền giáo dục Pháp,
các nhà Nho duy tân không đóng được vai trò đại diện cho lực lượng tiên tiến của xã hội,
nhưng với những gì họ tiếp thu được từ Tân thư, qua Tân thư cũng đã góp phần thức tỉnh
“nhân tâm thế đạo”, giống như tiếng gà gáy sáng báo bình minh, đánh thức dân tộc bằng
những tư tưởng mới về dân chủ, tự do và dân sinh dân quyền vốn xa lạ với xã hội phương
Đông và Việt Nam trước đó.
Trên phương diện văn học, nếu như ở Nhật Bản và Trung Quốc, Tân thư là cơ sở
để hình thành tân văn (văn bạch thoại), phê phán cổ văn, đưa đến cho văn học các nước
này những phẩm chất mới về ngôn ngữ, thể loại và chức năng thẩm mỹ của văn học… thì