Luận văn tốt nghiệp
Lời nói đầu
Trong nền kinh tế hàng hoá tiền tệ, điều kiện tiền đề để các doanh
nghiệp có thể thực hiện đợc các hoạt động sản xuất kinh doanh là phải có một
số vốn nhất định. Dựa trên số vốn đó các doanh nghiệp luôn muốn tiến hành
hoạt động sao cho hiệu quả nhất với chi phí thấp. Vì vậy, vấn đề khó khăn cho
các doanh nghiệp là phải tìm ra cách thức sử dụng vốn đúng đắn nhằm phát
huy đợc mọi tiềm lực bên trong và bên ngoài của doanh nghiệp.
Việc sử dụng vốn một cách có hiệu quả, có ý nghĩa hết sức quan trọng
và là điều kiện tiên quyết để các doanh nghiệp khẳng định đợc vị trí của mình
và tìm đợc chỗ đứng vững chắc trong cơ chế mới. Chính vì thế vấn đề sử dụng
vốn đang là vấn đề bức xúc đặt ra đối với tất cả các doanh nghiệp nói chung và
doanh nghiệp Nhà nớc nói riêng.
Trong cơ chế bao cấp, vốn của các doanh nghiệp quốc doanh hầu hết đ-
ợc Nhà nớc tài trợ qua việc cấp phát, số còn lại đợc Ngân hàng cho vay vốn lãi
suất u đãi. Do đó các doanh nghiệp hầu nh không quan tâm đến hiệu quả của
việc sử dụng vốn mà trông chờ, ỷ lại vào Nhà nớc. Tình trạng lãi giả, lỗ thật,
ăn mòn vào vốn xảy ra phổ biến ở các doanh nghiệp quốc doanh.
Trong tình hình mới hiện nay, các doanh nghiệp quốc doanh đã thích
nghi kịp thời, tự chú trọng trong các hoạt động sản xuất kinh doanh, sáng tạo
trong việc sử dụng vốn đảm bảo cho việc kinh doanh ổn định. Tuy nhiên bên
cạnh các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, không ít doanh nghiệp còn lúng
túng trong hoạt động sản xuất kinh doanh, làm ăn có thua lỗ kéo dài, doanh
thu không đủ bù đắp chi phí bỏ ra. Thực tế này do nguyên nhân, mặt trong
những nguyên nhân quan trọng là do việc sử dụng vốn của doanh nghiệp còn
nhiều hạn chế. Do đó đẩy mạnh việc sử dụng vốn trong các doanh nghiệp là
vấn đề cần thiết, nó quyết định đến sự sống còn của mỗi doanh nghiệp.
Hiểu đợc tầm quan trọng của vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nói
chung và hiệu quả sử dụng vốn cố định nói riêng, sau một tháng thực tập tại Hãng
em quyết định chọn đề tài:
Nguyễn Lê Hoà - Lớp K36D4 1
thơng mại, doanh nghiệp thơng mại còn có thể thực hiện các hoạt động kinh
doanh trong các lĩnh vực khác mà pháp luật không cấm nh sản xuất, xây dựng,
vận tải, khách sạn, du lịch, nhằm đa dạng hoá lĩnh vực hoạt động và nâng
cao hiệu quả tổng vốn.
Để tiến hành các hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp thơng mại
phải có đợc các yếu tố cần thiết nh kho tàng, cửa hàng, văn phòng, máy móc
thiết bị phơng tiện vận tải, tiền mặt D ới góc độ hiện vật, các yếu tố này đợc
gọi là những tài sản. Trong điều kiện kinh tế thị trờng, các doanh nghiệp thơng
mại phải sử dụng một lợng vốn nhất định và thôgn qua các phơng thức nhất
định nh đầu t xây dựng, mua sắm, thuê mớn để hình thành các yếu tố tài sản
cần thiết kể trên. Đồng thời các doanh nghiệp thơng mại phải thờng xuyên duy
trì một lợng vốn nhất định để đảm bảo quy mô tài sản thích hợp phục vụ cho
kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó, có thể nói rằng vốn là điều kiện vật chất
tiền đề không thể thiếu đợc để tiến hành mọi hoạt động kinh doanh.
Với lợng vốn cần thiết ban đầu, các doanh nghiệp thơng mại sử dụng để
hình thành nên các loại tài sản thích hợp bao gồm các tài sản có thời gian sử
dụng, thu hồi giá trị mang tính ngắn hạn và những tài sản có thời gian sử dụng,
thu hồi giá trị mang tính dài hạn. Bộ phận vốn của doanh nghiệp đợc dùng để
hình thành nên những tài sản có thời gian sử dụng, thu hồi giá trị mang tính dài
hạn đợc gọi là vốn cố định của doanh nghiệp. Nói cách khác những tài sản có
thời gian sử dụng, thu hồi và luân chuyển giá trị từ một năm trở lên hoặc qua
nhiều chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp.
Nguyễn Lê Hoà - Lớp K36D4 3
Luận văn tốt nghiệp
1.2. Đặc điểm luân chuyển của vốn cố định.
Vốn cố định là bộ phận của doanh nghiệp đợc sử dụng để hình thành
những tài sản có thời gian sử dụng, thu hồi và luân chuyển giá trị từ một năm
hay chu kỳ kinh doanh bình thờng của doanh nghiệp trở lên. Nói cách khác
vốn cố định là biểu hiện bằng tiền của những tài sản sử dụng mang tính dài
hạn phục vụ cho SXKD của doanh nghiệp. Do đó, sự vận động và luân chuyển
Thông thờng một tài sản đợc coi là TSCĐ nếu thoả mãn đồng thời ba
điều kiện:
- Tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp với t cách là t liệu lao động.
- Có thời gian sử dụng dài, thờng từ một năm trở lên.
- Có giá trị lớn đạt đến một giá trị nhất định. Tiêu chuẩn này phụ thuộc
vào quy định của từng quốc gia trong từng thời kỳ.
Những tài sản không hội đủ các tiêu chuẩn kể trên đợc coi là những tài
sản lu động của doanh nghiệp, bao gồm những tài sản là đối tợng lao động đối
với quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và những t liệu lao động
có giá trị nhỏ hoặc thời gian sử dụng ngắn. Việc nhận biết và phân biệt TSCĐ
và tài sản lu động của doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng không chỉ trong
công tác nghiên cứu mà còn giúp cho doanh nghiệp có thể quản lý, sử dụng tài
sản một cách tốt nhất. Trong thực tế, việc nhận biết TSCĐ dựa trên những tiêu
chuẩn kể trên có thể gặp những khó khăn sau đây:
Một là, việc phân biệt giữa đối tợng lao động với những t liệu lao động
là TSCĐ của doanh nghiệp trong một số trờng hợp nếu chỉ đơn thuần dựa vào
đặc tính hiện vật thì có thể dẫn đến ngộ nhận về TSCĐ. Bởi vì có thể xảy ra
cùng một TSCĐ ở trờng hợp này đợc coi là TSCĐ nhng ở trờng hợp khác chỉ đ-
ợc coi là tài sản lu động. Chẳng hạn, máy móc thiết bị, phơng tiện vận tải, nhà
xởng nếu đ ợc sử dụng để phục vụ cho việc hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp thì coi là TSCĐ, song nếu các tài sản này là các sản phẩm
mới hoàn thành quá trình sản xuất của doanh nghiệp đang đợc bảo quản, chờ
Nguyễn Lê Hoà - Lớp K36D4 5
Luận văn tốt nghiệp
tiêu thụ hoặc là các công trình xây dựng cơ bản cha bàn giao, thì đó chỉ coi là
đối tợng lao động thuộc tài sản lu động của doanh nghiệp. Do đó, để nhận biết
chính xác tài sản cố định trong các doanh nghiệp, ngoài đặc tính hiện vật, còn
phải dựa vào tính chất, công dụng hay vai trò của TSCĐ đối với các quá trình
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
sản xuất.
Trong lý luận, việc nhận thức tính hàng hoá của TSCĐ đợc xem nh một
vấn đề đơn giản tất yếu. Song trên thực tế ở nớc ta, đã có một thời tính hàng
hoá của TSCĐ bị xem nhẹ, TSCĐ đợc coi là một "hàng hoá đặc biệt" hàng hoá
trên danh nghĩa, vì thế nó chỉ đợc phân phối cung cấp trong nội bộ khu vực
kinh tế quốc doanh mà không đợc mua bán, trao đổi rộng rãi trên thị trờng,
điều này đã đa đến hậu quả kìm hãm sức sản xuất xã hội nói chung, trong lĩnh
vực kinh tế nói riêng.
Trong nền kinh tế hàng hoá, xây dựng hoặc lắp đặt những t liệu lao động
đợc coi là vốn cố định của doanh nghiệp, khác với đối tợng lao động, đặc điểm
cơ bản của TSCĐ - những t liệu lao động chủ yếu là chúng có thể tham gia một
cách trực tiếp hoặc gián tiếp vào nhiều chu kỳ sản xuất. Trong quá trình đó
mặt dầu TSCĐ bị hao mòn, h hỏng hoàn toàn hoặc xét thấy không có lợi về
mặt kinh tế thì khi đó chúng mới đợc thay thế đổi mới.
Việc quản lý vốn cố định và TSCĐ trên thực tế là một công việc phức
tạp. Để giảm nhẹ khối lợng quản lý, về tài chính kế toán ngời ta có những quy
định thống nhất về tiêu chuẩn giới hạn về giá trị và thời gian sử dụng của một
TSCĐ. Thông thờng một t liệu lao động phải đợc đồng thời thoả mãn hai tiêu
chuẩn dới đây thì đợc coi là TSCĐ.
- Phải có thời gian sử dụng tối thiểu (thờng là 1 năm trở lên)
- Phải có giá trị tối thiểu đến một mức quy định (hiện nay quy định là có
giá trị từ 10 triệu đồng Việt Nam).
Nếu thiếu một trong hai điều kiện trên thì t liệu lao động đợc coi là công
cụ lao động và do nguồn vốn lu động tài trợ.
Nguyễn Lê Hoà - Lớp K36D4 7
Luận văn tốt nghiệp
Tuy nhiên do yêu cầu của công tác quản lý trong một số trờng hợp đặc
biệt dù giá trị đơn vị và thời gain sử dụng không đạt tiêu chuẩn nhng vẫn đợc
coi là TSCĐ nh tổ hợp các đồ dùng trong phòng làm việc, phòng họp, phòng
khách, khách sạn
đó.
b. Nguyên giá tài sản phải đợc xác định một cách tin cậy.
c. Có thời gian sử dụng từ 1 năm trở lên
d. Có giá trị từ 10.000.000đồng (mời triệu đồng) trở lên.
Trong thực tế có những hệ thống đợc cấu thành bởi nhiều bộ phận tài
sản riêng lẻ có thời gian sử dụng khác nhau và nếu thiếu một bộ phận nào đó
mà cả hệ thống vẫn thực hiện đợc chức năng hoạt động chính. Nhng do yêu
cầu quản lý, sử dụng đòi hỏi phải theo dõi riêng từng bộ phận tài sản thì mỗi
bộ phận đó vẫn đợc coi là một TSCĐ hữu hình độc lập. Chẳng hạn nh ghế
ngồi, khung và động cơ trong một máy bay.
+ TSCĐ vô hình: Là những tài sản cố định không có hình thái vật chất
cụ thể, thể hiện một lợng giá trị lớn đã đầu t có liên quan và phát huy tác dụng
trong nhiều kỳ kinh doanh của doanh nghiệp. Ví dụ nh chi phí thành lập doanh
nghiệp, chi phí mua bằng phát minh sáng chế Theo chế độ tài chính doanh
nghiệp hiện hành, các khoản chi phí thực tế mà doanh nghiệp đã chi ra nếu
thỏa mãn đồng thời hai điều kiện sau thì đợc coi là TSCĐ vô hình:
- Có thời gian sử dụng hay phát huy tác dụng tối thiểu là một năm.
- Có giá trị tối thiểu là 10.000.000đồng.
Việc phân loại TSCĐ theo tiêu thức kể trên sẽ giúp doanh nghiệp thấy đ-
ợc cơ cấu vốn đầu t vào TSCĐ theo hình thái biểu hiện, từ đó có thể đa ra các
quyết định đầu t, sử dụng TSCĐ hay điều chỉnh cơ cấu này sao cho phù hợp và
có hiệu quả nhất.
* Phân loại TSCĐ theo mục đích sử dụng:
Nguyễn Lê Hoà - Lớp K36D4 9
Luận văn tốt nghiệp
Theo tiêu thức này, toàn bộ TSCĐ của doanh nghiệp đợc chia thành ba
loại sau:
+ TSCĐ sử dụng cho mục đích kinh doanh: Đây là các tài sản do doanh
nghiệp sử dụng trong các lĩnh vực khác nhau nhng nhằm mục đích kinh doanh.
Chẳng hạn nh kho tàng, cửa hàng, nhà xởng, máy móc thiết bị dùng cho các
ẩm, hút bụi
+ Vờn cây lâu năm, súc vật làm việc và (hoặc) cho sản phẩm là các vờn
cây kinh doanh lâu năm nh vờn chè, vờn cà phê, vờn cao su, vờn cây ăn quả,
thảm cỏ, thảm cây xanh, súc vật làm việc và (hoặc) cho sản phẩm nh đàn voi,
đàn bò, đàn trâu, đàn nhựa,
Phơng pháp phân loại này cho thấy công dụng cụ thể của từng loại
TSCĐ của doanh nghiệp, từ đó tạo điều kiện cho doanh nghiệp có thể đa ra các
biện pháp, quản lý khai thác sử dụng và trích khấu hao thích hợp.
* Phân loại tài sản theo tình hình sử dụng.
Theo tiêu thức này, tổng thể TSCĐ của doanh nghiệp đợc chia thành các
loại sau:
+ TSCĐ đang sử dụng tại doanh nghiệp: Đây là những TSCĐ của doanh
nghiệp sử dụng cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, phúc lợi, sự nghiệp, an
ninh, quốc phòng của doanh nghiệp.
+ TSCĐ cho thuê.
+ TSCĐ cha cần dùng: Là những TSCĐ của doanh nghiệp cần thiết cho
các hoạt động của doanh nghiệp song hiện tại cha đợc đa ra sử dụng, đang
trong quá trình dự trữ, cất trữ để sử dụng sau này.
+ TSCĐ không cần dùng chờ nhợng bán, thanh lý: Là những TSCĐ
không cần thiết hay không phù hợp với hoạt động của doanh nghiệp hoặc đã h
hỏng cần đợc nhợng bán, thanh lý để giải phóng mặt bằng, thu hồi vốn đầu t.
Nguyễn Lê Hoà - Lớp K36D4 11
Luận văn tốt nghiệp
Cách phân loại này cho thấy tình hình khai thác sử dụng TSCĐ của
doanh nghiệp, từ đó có thể đề ra các biện pháp quản lý và nâng cao hiệu quả sử
dụng TSCĐ.
* Phân loại TSCĐ căn cứ vào quyền sở hữu.
Tổng thể TSCĐ của doanh nghiệp đợc chia thành hai loại:
+ TSCĐ thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp: Là các loại TSCĐ đợc
đầu t bằng nguồn vốn của doanh nghiệp, doanh nghiệp có quyền sở hữu và sử
dụng và trích khấu hao thích hợp.
3.2. Kết cấu tài sản cố định
Kết cấu TSCĐ là tỷ trọng giữa nguyên giá của một loại TSCĐ nào đó so
với tổng nguyên giá toàn bộ TSCĐ của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định.
Kết cấu TSCĐ giữa các ngành sản xuất không giống nhau, thậm chí giữa
các doanh nghiệp trong một ngành nào đó cũng không giống nhau, sự khác
nhau hay sự biến động về kết cấu của mỗi doanh nghiệp trong các thời kỳ phụ
thuộc vào các nhân tố nh khả năng tiêu thụ sản phẩm trên thị trờng, khả năng
thu hút vốn đầu t, phơng hớng mục tiêu sản xuất kinh doanh, trình độ trang bị
kỹ thuật, quy mô sản xuất.
Việc phân loại và phân tích tình hình kết cấu của chúng là một căn cứ
quan trọng để xem xét quyết định đầu t cũng nh việc giúp cho việc tính toán
chính xác khấu hao TSCĐ. Một trong những nhiệm vụ của công tác quản lý
vốn cố định ở một doanh nghiệp.
II. Hiệu quả sử dụng vốn cố định và sự cần thiết phải thực
hiện việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định cảu các
doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trờng.
1. Hiệu quả sử dụng vốn cố định và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả
sử dụng vốn cố định.
1.1. Hiệu quả sử dụng vốn cố đinh:
Đối với các doanh nghiệp, vốn cố định là một bộ phận quan trọng trong
cơ cấu vốn. Trình độ quản lý vốn cố định ảnh hởng rất lớn đến kết quản sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Do vậy, việc quản lý vốn cố định đợc coi là
một trọng điểm của công tác tài chính doanh nghiệp. Vấn đề đặt ra cho các
Nguyễn Lê Hoà - Lớp K36D4 13
Luận văn tốt nghiệp
nhà quản lý là làm thế nào để vốn cố định đạt hiệu quả cao nhất trong suốt quá
trình tham gia vào sản xuất và mang lại lợi nhuận tối đa.
Hiệu quả sử dụng vốn cố định là mối quan hệ giữa kết quả đạt đợc trong
quá trình đầu t, khai thác sử dụng vốn cố định vào sản xuất và số vốn cố định
Luận văn tốt nghiệp
VCĐ đầu kỳ
(hoặc cuối kỳ)
= Vốn cố định đầu năm + Vốn cố định cuối năm
2
VCĐ đầu kỳ
(hoặc cuối kỳ)
=
Nguyên giá TSCĐ
đầu kỳ (cuối kỳ)
-
Số khấu hao lũy kế
đầu kỳ (cuối kỳ)
+
Các khoản đầu t dài hạn và
chi phí XDCB đầu (cuối kỳ)
- ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn cố định tham gia sẽ tạo ra
bao nhiêu đồng doanh thu thực hiện trong kỳ.
(2) Hàm lợng VCĐ: Là đại lợng nghịch đảo của hệ phục vụ vốn cố định.
Hàm l
ợng
VCĐ
=
VCĐ bình quân trong kỳ
Doanh thu thực hiện trong kỳ
- ý nghĩa: Để tạo ra một đồng doanh thu trong kỳ thì doanh nghiệp phải
sử dụng bao nhiêu đồng vốn cố định.
(3) Hệ số sinh lời của vốn cố định (tỷ lệ lợi nhuận vốn cố định)
- ý nghĩa: Trong kỳ một đồng vốn cố định tham gia sẽ tạo ra bao nhiêu
đồng lợi nhuận.
Thu nhập đầu t dài hạn
Vốn đầu t dài hạn bình quân
- ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh trong một đồng vốnbỏ ra để đầu tdài
hạn thì có bao nhiêu đồng lợi nhuận thu đợc từ hoạt động đó.
(1.2.2) Các chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả sử dụng tài sản cố định trong
doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng tài sản cố
định của doanh nghiệp nhằm đạt đựoc các mục tiêu kinh tế của doanh nghiệp
trong một thời kỳ nhất định và đợc biểu hiện mối quan hệ giữa kết quả sản
xuất kinh doanh đạt đựoc trong kỳ với chi phí đầu t để có đợc tài sản cố định
trong kỳ. Các chỉ tiêu đo lờng hiệu quả sử dụng tài sản cố định bao gồm:
(2.1) Hệ số sử dụng tài sản cố định
Hệ số sử dụng
TSCĐ
=
Tổng nguyên giá TSCĐ bình quân đang sử dụng trong kỳ
Tổng nguyên giá TSCĐ bình quân hiện có trong kỳ
- ý nghĩa: Trong một đồng nguyên giá tài sản cố định hiện có trong
doanh nghiệp thì bao nhiêu đồng nguyên giá tài sản cố định đợc sử dụng. Do
đó chỉ tiêu này phản ánh tỷ lệ huy động các tài sản cố định vào sử dụng kinh
doanh. Tỷ lệ này càng cao thì khả năng khai thác tài sản cố định vào sử dụng
càng triệt để hay doanh nghiệp đầu t mua sắm hợp lý.
(2.2) Hiệu suất sử dụng tài sản cố định
Hệ số sử dụng
TSCĐ
=
Tổng công suất sử dụng thực tế bình quân trong kỳcủa TSCĐ
Tổng công suất thiết kế bình quân trong kỳ của TSCĐ
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng tận dụng công suất thiết kế của các tài
sản cố định đang sử dụng.
(2.3) Hệ số phục vụ tài sản cố định trong doanh nghiệp
- ý nghĩa: Trong kỳ một đồng chi phí sử dụng tài sản cố định tham gia
tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận doanh nghiệp.
2. Sự cần thiết phải thực hiện việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố
định trong các doanh nghiệp.
Việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định trong hoạt động sản xuất
kinh doanh của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trờng hiện nay là rất
cần thiết. Nó quyết định đến sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp.
Điều này xuất phát từ những lý do chủ yếu sau:
Xuất phát từ ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định:
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định là đảm bảo với số vốn hiện có
tham gia vào sản xuất, thông qua sự tác động của các biện pháp tổ chức và
Nguyễn Lê Hoà - Lớp K36D4 17
Luận văn tốt nghiệp
quản lý thích hợp, khai thác một cách triệt để khả năng vốn có của nó để
nhanh chóng thu đợc lợi nhuận. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định có ý
nghĩa thúc đẩy vòng quay của vốn và đẩy nhanh nhịp độ đổi mới tài sản cố
định theo kịp với trình độ phát triển khoa học kỹ thuật, mở rộng sản xuất mà
không cần phải bỏ thêm vốn đầu t xây dựng mới tài sản cố định, vừa tiết kiệm
đợc sản xuất, vừa làm hạ giá thành sản phẩm, từ đó lợi nhuận của doanh
nghiệp sẽ tăng lên.
Xuất phát từ mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp:
Tối đa hoá lợi nhuận là mục tiêu cần phải đạt đợc của bất kỳ một doanh
nghiệp nào khi tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Lợi nhuận là kết
quả tài chính cuối cùng của các hoạt động sản xuất, kinh doanh, là chỉ tiêu
chất lợng để đánh giá hiệu quả kinh tế của các hoạt động của doanh nghiệp vì
doanh nghiệp có tồn tại và phát triển đợc hay không đều quyết là doanh nghiệp
có tạo ra lợi nhuận hay không. Việc thực hiện đợc chỉ tiêu lợi nhuận là một
điều quan trọng đảm bảo cho tình hình tài chính cuả doanh nghiệp đợc vững
chắc. Để đạt đợc điều này, các doanh nghiệp cần phải tăng cờng công tác tổ
chức quản lý sản xuất, tổ chức thực hiện việc quản lý và sử dụng có hiệu quả
lý cho các doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh và hớng các hoạt động
đó theo kế hoạch kinh tế vĩ mô nh: các quy định về thuế đối với mỗi loại hình
sản xuất kinh doanh đợc Nhà nớc khuyến khích hay hạn chế, chính sách thuế
đối với các máy móc thiết bị vì đa số những TSCĐ của các doanh nghiệp đều
phải nhập khẩu từ nớc ngoài, các quy định khác của Nhà nớc trong việc quản
lý và sử dụng vốn cố định ở các doanh nghiệp cũng có ảnh hởng lớn đến hiệu
quả sử dụng vốn cố định nh: quy định về việc đánh giá, đánh giá lại TSCĐ,
quy định trích lập quỹ khấu hao Nhân tố này là một nhân tố quan trọng ảnh
hởng tới việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định của doanh nghiệp.
* Thị trờng và cạnh tranh: Trong điều kiện hiện nay, vấn đề đặt ra cho
các doanh nghiệp là phải sản xuất những sản phẩm có chất lợng cao, giá thành
hạ đáp ứng nhu cầu của thị trờng mà điều này chỉ xảy ra khi doanh nghiệp tích
cực nâng cao hàm lợng công nghệ kỹ thuật của TSCĐ. Điều này đòi hỏi các
Nguyễn Lê Hoà - Lớp K36D4 19
Luận văn tốt nghiệp
doanh nghiệp phải có một kế hoạch quản lý và tổ chức tốt hiệu quả sử dụng
vốn cố định (TSCĐ) nhằm đạt đợc mục tiêu trên.
* Các nhân tố khác: Các nhân tố này có thể coi là nhân tố bất khả kháng
nh thiên tai, dịch hoạ cũng có tác động trực tiếp lên công tác quản lý và sử
dụng vốn cố định của doanh nghiệp. Mức độ tổn thất về lâu dài hay tức thời là
hoàn toàn không thể biết trớc, chỉ có thể dự phòng trớc nhằm giảm nhẹ thiên
tai mà thôi.
1.2. Các nhân tố chủ quan.
* Nhân tố con ngời: Ngời lao động có trình độ tay nghề cao, ý thức trách
nhiệm công việc tốt thì nó sẽ thúc đẩy sản xuất, làm ra nhiều sản phẩm đáp
ứng nhu cầu thị trờng. Hay nói cách khác là đạt đợc năng suất lao động cao,
tiết kiệm thời gian, vật liệu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Ngời lãnh đạo phải có năng lực trình độ, bao quát đợc hết công việc, sử
dụng đợc hết khả nng, năng lực của công nhân cũng nh trong sản xuất kinh
doanh phải có đầu óc tinh tờng năng động mới đáp ứng đợc nhanh chóng với
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định là vấn đề luôn đòi hỏi sự nỗ lực
của các doanh nghiệp, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay vấn đề này lại càng trở
nên cấp thiết.
Hiện nay các doanh nghiệp hoạt động theo cơ chế thị trờng luôn phải
cạnh tranh với nhau gay gắt, muốn tồn tại và đứng vững trên thị trờng đòi hỏi
các doanh nghiệp phải hoạt động kinh doanh có hiệu quả, bảo toàn và phát
triển đợc đồng vốn của mình. Muốn thực hiện đợc mục tiêu này, đòi hỏi các
doanh nghiệp phải thực hiện tốt việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đặc biệt là
trong điều kiện hiện nay khi mà các doanh nghiệp thực sự là một đơn vị kinh tế
tự chủ, tự tổ chức quá trình sản xuất kinh doanh, tự tìm đầu vào và đầu ra cho
sản xuất và tự chịu trách nhiệm về hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
Một thực trạng khá phổ biến trong thời gian vừa qua ở các doanh nghiệp
nớc ta là việc quản lý và sử dụng vốn cố định còn rất kém, hiệu quả thấp ảnh
hởng không nhỏ đến kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Trong các
doanh nghiệp vốn đợc hình thành từ nhiều nguồn khác nhau: nguồn vốn điều
Nguyễn Lê Hoà - Lớp K36D4 21
Luận văn tốt nghiệp
lệ, doanh nghiệp tự bổ sung, nguồn vốn liên doanh. Ngoài ra, các doanh
nghiệp còn có thể huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu, cổ phiếu, vay
ngắn hạn, dài hạn của các tổ chức kinh tế nh tín dụng, ngân hàng Trong quá
trình sản xuất còn gặp nhiều khó khăn, việc bổ sung vốn cố định bằng quỹ của
doanh nghiệp còn hạn chế và việc huy động vốn góp liên doanh cũng trở nên
khó khăn hơn, điều này dẫn đến nguồn vốn cố định của doanh nghiệp chủ yếu
là do nguồn ngân sách cấp. Trong quá trình sản xuất, các doanh nghiệp này
phải trích khấu hao những TSCĐ thuộc nguồn vốn ngân sách cấp để trả lại cho
Nhà nớc do đó không tránh khỏi tình trạng trích khấu hai nhỏ giọt, hơn nữa
vốn cố định có vòng quay ra chậm, đối với máy móc thiết bị trung bình từ 15
đến 20năm nên dẫn đến tình trạng các doanh nghiệp ít quan tâm đến hiệu quả
đầu t vốn cố định, làm cho tình trạng TSCĐ đợc trang bị một cách chắp vá,
không đồng bộ và theo một cơ cấu bất hợp lý, việc quản lý và sử dụng TSCĐ
* Làm tốt công tác đầu t xây dựng, mua sắm TSCĐ:
Hiệu quả sử dụng vốn cố định trớc hết phụ thuộc vào chất lợng của công
tác đầu t mua sắm, xây dựng TSCĐ.
Trớc khi đầu t cần nghiên cứu kỹ lỡng, kiểm tra về điều kiện, khả năng
tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp mình, điều kiện cung ứng vật t, khả năng
tận dụng thời gian làm việc và tận dụng công suất của TSCĐ. Dựa trên cơ sở
phân tích đó đi đến quyết định sử dụng loại TSCĐ nào là hợp lý, sau đó tiến
hành lựa chọn các đối tác đầu t.
Muốn nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định thì phải xác định đợc
khâu chủ yếu để đầu t, cơ cấu đầu t và việc đầu t đó phải tính toán đợc một
cách chính xác hiệu quả kinh tế mang lại. Trong thực tế nếu khả năng tiêu thụ
sản phẩm trên thị trờng là lớn thì việc đầu t sẽ phải chú trọng đến các TSCĐ
tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm, có nh vậy mới phát
huy đợc hết hiệu quả của đồng vốn và hiệu quả mà TSCĐ mang lại.
Đối với việc mua sắm, trang bị TSCĐ cần đợc lựa chọn phơng án đầu t
thích hợp mang lại hiệu quả cao nhất, nghiên cứu thị trờng cẩn thận, nắm bắt
kịp thời tiến bộ khoa học kỹ thuật, điều tra, xem xét phân tích khả năng tiêu
Nguyễn Lê Hoà - Lớp K36D4 23
Luận văn tốt nghiệp
thụ của thị trờng, nhu cầu thị hiếu của ngời tiêu dùng, điều kiện cung cấp vật t,
điều kiện khả năng tận dụng thời gian làm việc và công suất của TSCĐ.
Chỉ tiến hành đầu t, mua sắm những máy móc thiết bị thực sự cần thiết,
phù hợp với trình độ phát triển khoa học kỹ thuật, yêu cầu và khả năng khai
thác của doanh nghiệp, tránh dự trữ quá mức thiết bị gây ứ đọng vốn. Chủ
động đầu t theo hớng tăng tỷ trọng của những TSCĐ đóng vai trò chủ đạo
trong sản xuất kinh doanh, giảm tỷ trọng các loại TSCĐ không phát huy hiệu
quả trong sản xuất kinh doanh xuống.
Cùng với việc chủ động mua sắm TSCĐ, để tăng năng lực sản xuất
doanh nghiệp cần phải tổ chức sắp xếp hợp lý cơ cấu TSCĐ theo yêu cầu sản
xuất chính trên cơ sở thực trạng TSCĐ hiện có, vì năng lực sản xuất của doanh
động hoá, hoàn thiện quy trình công nghệ, tổ chức sản xuất dây chuyền trên
cơ sở tập trung đối u, sản xuất những sản phẩm đồng loạt, chọn nguyên vật
liệu phù hợp với yêu cầu của quy trình công nghệ, có kế hoạch bảo dỡng, sửa
chữa, đổi mới TSCĐ, từng bớc cải thiện và nâng cao mức sống cho ngời lao
động trong sản xuất, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định và TSCĐ trong
doanh nghiệp.
* Tổ chức và thực hiện tốt việc khấu hao và sử dụng khấu hao:
Trích khấu hao cơ bản là một hình thức để thu hồi vốn cố định, phục vụ
cho việc tái sản xuất TSCĐ nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu sản xuất nâng cao
hiệu quả sử dụng đồng vốn bỏ ra. Cùng với sự phát triển không ngừng của các
tiến bộ khoa học kỹ thuật, thì TSCĐ càng phải chịu ảnh hởng này càng lớn của
hao mòn vô hình. Do đó, việc làm thế nào để thực hiện khấu hao TSCĐ một
cách hợp lý, tính đúng và tính đủ hao mòn hữu hình lẫn hao mòn vô hình để
đảm bảo thu hồi đầy đủ và kịp thời vốn cố định, khắc phục đợc tình trạng phải
thanh lý trớc thời hạn sử dụng làm lãng phí vốn và tránh đợc hao mòn vô hình
là một vấn đề mà các doanh nghiệp luôn quan tâm.
Quyết định 166/1999/QĐ-BTC ngày 30/12/1999 đã giải quyết đợc
những vấn đề cơ bản giúp cho các doanh nghiệp linh hoạt và tự tin hơn trong
Nguyễn Lê Hoà - Lớp K36D4 25