ĐẶT VẤN ĐỀ
Sau hơn 20 năm thực hiện chính sách đổi mới và hội nhập quốc tế,
Ngành y tế nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, sức khoẻ nhân dân đã
được cải thiện một cách rõ rệt và toàn diện. Nhiều bệnh tật đã được khống chế
và đẩy lùi, hầu hết các chỉ tiêu sức khoẻ cơ bản đã đạt và vượt mức kế hoạch
đề ra[1]. Hệ thống y tế được củng cố và mở rộng, nhằm mục tiêu thực hiện
công bằng, hiệu quả và phát triển, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khoẻ nhân
dân ngày một tăng về số lượng và chất lượng.
Mặc dù đã đạt được những thành quả nhất định, nhưng trong thực tế, hiệu
quả và chất lượng các hoạt động của ngành y tế nói chung và hoạt động khám
chữa bệnh nói riêng, còn thấp, chưa theo kịp yêu cầu của công cuộc đổi
mới[7]. Xã hội hoá dịch vụ y tế có thể được nhìn nhận như một cách tiếp cận
đúng, song cả về mặt cơ chế lẫn kỹ thuật vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập cần
được khắc phục[24].
Thật vậy, theo báo cáo tại Hội thảo về đổi mới quản lý các dịch vụ khám,
chữa bệnh, hệ thống y tế công tại Việt Nam có mạng lưới từ trung ương đến
xã, phường, đã có nhiều thành tựu đáng kể. Tuy nhiên, ít chú trọng đến chất
lượng dịch vụ và sự hài lòng của người bệnh; quản lý chưa tốt dẫn đến kinh
phí khám chữa bệnh không được sử dụng hiệu quả[24] Theo đề xuất của
nhóm nghiên cứu thuộc Bộ Y tế, đổi mới quản lý dịch vụ khám chữa bệnh sẽ
bao gồm cả tăng cường hoạt động y tế công, phát triển y tế tư nhân song song
với phát triển hệ thống thanh tra, giám sát và khuyến khích y tế tư nhân tham
gia các dịch vụ mà Nhà nước chưa thể đáp ứng được. Vấn đề được đặt ra là
người dân khi bị ốm đau thường đến những loại cơ sở khám, chữa bệnh nào?
Giữa các nhóm người dân có thu nhập khác nhau, trình độ học vấn khác nhau,
thì việc sử dụng các dịch vụ khám, chữa bệnh cho họ như thế nào? Đây là vấn
1
đề luôn được ngành y tế quan tâm, nhất là những người làm công tác y tế công
cộng. Đặc biệt, việc tiếp cận cơ sở khám, chữa bệnh của người dân huyện Phú
Tân hiện nay vẫn còn chưa được xem xét.
Xuất phát từ những vấn đề quan tâm trên, chúng tôi tiến hành thực hiện
3
chức cơ sở khám, chữa bệnh từ trung ương đến địa phương, theo địa giới hành
chính hoặc cụm dân cư.
- Về nguồn lực và chi phí y tế: nguồn lực y tế của các nước hoàn toàn
khác nhau và phụ thuộc vào trình độ kinh tế, chính trị của từng nước. Ở các
nước phát triển, nguồn lực kinh tế cho y tế lớn nên hệ thống y tế phát triển.
Chi phí cho y tế của các nước phát triển rất cao như Mỹ, Anh, Nhật, trong đó
đứng đầu là Mỹ. Chi phí y tế bình quân theo đầu người của Mỹ hiện cao nhất
thế giới ( 5.267 USD/người/năm, cao hơn hai lần chi phí ở các nước châu Âu
và gấp đôi ở Anh quốc, Canada, Châu Úc và New Zealand[25]. So với mức
thu nhập bình quân đầu người được chi cho y tế thì ba nước mới gia nhập châu
Âu là Estonia, Hungary và Ba Lan đã có một dịch vụ y tế cực kỳ tốt, trong đó
Estonia thậm chí còn xếp trên Pháp, Anh, Ý và Tây Ban Nha[13].
Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động y tế không phải hoàn toàn phụ thuộc vào
khả năng tài chính và chất lượng khám, chữa bệnh không phải lúc nào cũng tỷ
lệ thuận với chi phí y tế.
- Về chất lượng chăm sóc và điều trị: theo Tổ chức Y tế thế giới (1983):
chất lượng chăm sóc, điều trị bệnh nhân là phải đảm bảo mỗi bệnh nhân về cả
hai mặt, về mặt sức khoẻ: bệnh nhân được thực hiện tất cả các thao tác kỹ
thuật cần thiết để chẩn đoán và điều trị nhằm đem lại kết quả sức khoẻ tốt
nhất, về mặt thứ hai: phải thích ứng với sự phát triển khoa học y học, với giá
cả hợp lý nhất để cho ra kết quả tốt nhất.
Một công ty y tế tư nhân của Thụy Điển (Health Consumer Powerhouse)
vừa công bố kết quả khảo sát vào năm 2005, ở 12 nước theo 5 nhóm là: quyền
lợi và thông tin cung cấp cho bệnh nhân, thời gian chờ đợi cho mỗi lần khám,
kết quả chăm sóc, sự ân cần với bệnh nhân và quá trình cấp thuốc. Những
thông tin được lấy bằng cách nói chuyện với các chuyên gia và bệnh nhân rồi
4
được kiểm tra bởi Tổ chức Y tế thế giới và Tổ chức vì sự cộng tác và phát
triển kinh tế. Theo báo cáo này Hà Lan, Thụy Sĩ và Đức là ba nước có dịch vụ
dịch vụ khác như xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh, và 6.414 phòng chẩn trị y
học dân tộc[4].
- Nhiều kỹ thuật chẩn đoán, điều trị và chăm sóc đã được ứng dụng thành
công như: phẫu thuật tim hở, thay van tim, bắc cầu mạch vành, nối chi, ghép
thận, ghép gan, thụ tinh trong ống nghiệm…
1.1.3.2. Đánh giá thuận lợi, khó khăn, nguyên nhân
- Nhu cầu CSSK của nhân dân càng cao về số lượng, chất lượng, loại
hình và phạm vi cung cấp dịch vụ. Tình trạng quá tải ở các bệnh viện tiếp tục
gia tăng. Chất lượng dịch vụ kỹ thuật và chất lượng phục vụ tuy đã được cải
tiến nhưng chưa đáp ứng nhu cầu của nhân dân. Tình trạng lạm dụng kỹ thuật
cao, xét nghiệm, lạm dụng thuốc và tăng điều trị nội trú trong trường hợp
không cần thiết vẫn tồn tại. Trong khi đó, việc tổ chức thực hiện các chính
sách, chiến lược và kế hoạch y tế còn nhiều bất cập[27].
- Viện phí là nguyên nhân tăng nhu cầu sử dụng dịch vụ một cách giả tạo.
Khi quyền lợi của người thầy thuốc phụ thuộc vào sự chi trả trực tiếp của bệnh
nhân, thầy thuốc có thể chỉ định những dịch vụ hoặc thuốc không thật sự cần
thiết cho người bệnh để tăng thu phí[11].
- Dựa quá nhiều vào việc tự điều trị và vào lời khuyên của người bán
thuốc để chữa bệnh: trong khi hiện tượng bệnh nhân bỏ qua hệ thống y tế để tự
6
đến mua thuốc trực tiếp ở các hiệu thuốc và những người bán thuốc (nghĩa là
tự điều trị) không phải là hiếm ở nhiều nước đang phát triển thì ở Việt Nam
dường như người dân, đặc biệt là người nghèo, dựa quá nhiều vào các quầy
thuốc như là các cơ sở cung ứng DVYT. Các cuộc điều tra gần đây cho thấy
số lần sử dụng tại quầy thuốc chiếm tới 2/3 tổng số lần sử dụng DVYT[2]
(không kể những lượt sử dụng dịch vụ chỉ để mua theo đơn kê của thầy
thuốc). Cả tự điều trị lẫn dựa vào lời khuyên của người bán thuốc đều nguy
hiểm, và chắc chắn là tình trạng đó góp phần làm tăng sự đề kháng kháng sinh
của các vi khuẩn ở Việt Nam.
- Sử dụng thuốc không hợp lý và lạm dụng thuốc: sự sẵn có các loại
đến một cơ sở CSSK ban đầu gần nhất – đôi khi mất cả ngày đường hoặc hơn.
Ngoài ra, vì nghèo nên các vùng này khó có thể thu hút được cán bộ y tế đến
làm việc, và vì thế khả năng tiếp cận các DVYT cả công lẫn tư đều rất thấp.
- Qui chế đối với những người cung cấp dịch vụ: tuy đã có nhiều văn bản
qui định các tiêu chuẩn chất lượng tối thiểu và các qui trình kỹ thuật đối với
các cơ sở cung cấp dịch vụ, song việc thực thi các qui định này thông qua
công tác thanh tra thường xuyên các cơ sở y tế vẫn chưa đạt yêu cầu. Một
phần là số lượng các cơ sở cung cấp dịch vụ y tế tăng nhanh, nhất là các cơ sở
cung ứng dịch vụ và quầy thuốc tư nhân. Sở Y tế, cơ quan chịu trách nhiệm
tiến hành thanh tra thường xuyên, lại không có đủ cả nhân lực cũng như ngân
sách để tiến hành các hoạt động này[2]. Thêm vào đó, nhiều Sở Y tế không có
danh sách đầy đủ các cơ sở dịch vụ tư nhân, vì thế chỉ có những cơ sở có đăng
ký mới bị kiểm tra, còn những cơ sở có chất lượng dịch vụ thực sự cần thanh
8
tra – những người hành nghề không có đăng ký – đôi khi lại nằm ngoài vòng
kiểm tra. Trong qui trình thanh tra hiện hành cũng còn tồn tại mâu thuẫn về
quyền lợi, vì thành viên của đoàn kiểm tra thường cũng lại là người cung cấp
dịch vụ vừa làm cho nhà nước lại vừa có phòng khám tư.
1.2. Quan điểm chỉ đạo của Đảng và chính sách của Nhà nước về
công tác khám bệnh, chữa bệnh
1.2.1. Quan điểm chỉ đạo của Đảng
Nghị quyết 46 của Bộ chính trị đã nêu rõ các quan điểm chỉ đạo về công
tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân như sau[5]:
- Sức khoẻ là vốn quý nhất của mỗi con người và của toàn xã hội. Bảo vệ,
chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân là hoạt động nhân đạo, trực tiếp bảo
đảm nguồn nhân lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là một trong
những chính sách ưu tiên hàng đầu của Đảng và Nhà nước. Đầu tư cho lĩnh
vực này là đầu tư phát triển, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ.
- Đổi mới và hoàn thiện hệ thống y tế theo hướng công bằng, hiệu quả và
phát triển, nhằm tạo cơ hội thuận lợi cho mọi người dân được bảo vệ, chăm
dân tộc thiểu số, nhân dân ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn.
- Tăng cường phát triển nguồn nhân lực y tế, đặc biệt là phát triển nguồn
nhân lực y tế ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn. Thực hiện chế độ
luân phiên có thời hạn đối với người hành nghề tại cở sở khám bệnh, chữa
bệnh từ tuyến trên xuống tuyến dưới, từ vùng có điều kiện kinh tế - xã hội
không khó khăn đến vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn.
10
- Đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động khám bệnh, chữa bệnh; khuyến
khích tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh.
- Khuyến khích việc nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ trong
khám bệnh, chữa bệnh.
- Kết hợp y học hiện đại với y học cổ truyền trong khám bệnh, chữa bệnh.
1.3. Khả năng cung cấp dịch vụ khám, chữa bệnh
- Công tác khám, chữa bệnh. Ngành y tế đã thực hiện nhiều giải pháp để
nâng cao chất lượng KCB, chống quá tải thông qua nâng cao chất lượng chẩn
đoán, điều trị để rút ngắn thời gian điều trị, tăng giường bệnh, đầu tư xây dựng
mới, nâng cấp cơ sở, tăng cường chỉ đạo tuyến.
Hệ thống các bệnh viện công lập được củng cố và phát triển, bước đầu
khắc phục được tình trạng xuống cấp, thiếu hụt giường bệnh. Thiết bị chẩn
đoán và điều trị cơ bản được bổ sung cho bệnh viện huyện và một số thiết bị
hiện đại chuyên sâu được trang bị cho bệnh viện tỉnh, trung ương. Tại các
bệnh viện tuyến trên, nhiều kỹ thuật cao và phức tạp đã được thực hiện thành
công góp phần chữa trị và cứu sống được nhiều bệnh hiểm nghèo.
- Hệ thống y tế tư nhân được quan tâm thúc đẩy phát triển. Đến nay cả
nước có trên 100 bệnh viện tư nhân với hơn 6.000 giường bệnh, 35.000 phòng
khám và hàng chục vạn nhà thuốc tư nhân[28], trên 21.600 nhà thuốc tư nhân,
450 cơ sở sản xuất thuốc y học cổ truyền[4]. Tuy nhiên, quy mô các CSYT
ngoài công lập nhìn chung còn nhỏ.
- Mạng lưới y tế cơ sở phát triển rộng khắp với gần 100% số xã, phường,
thị trấn trong cả nước có cán bộ y tế làm việc, khoảng 65% số xã có bác sĩ,
Mức sống cũng ảnh hưởng đến nhu cầu CSSK, đối với người 15 tuổi trở
lên, 22% người nghèo trả lời là sức khoẻ yếu so với 15,5% ở nhóm người có
thu nhập trung bình và 10% người giàu[1].
Với những sự khác nhau về mức độ và loại bệnh, về mức sống và nơi ở,
mô hình sử dụng DVYT đương nhiên rất khác nhau. Đối tượng cần quan tâm
ở đây là những người có nhu cầu sử dụng DVYT nhưng không tới được CSYT
đúng tuyến phù hợp để điều trị bệnh. Vấn đề thứ hai cần được đặc biệt quan
tâm là khả năng chi trả DVYT của các hộ gia đình mà không dẫn đến nghèo
khổ.
Một vấn đề khác đang rất được quan tâm hiện nay là BHYT có thay đổi
hành vi tìm kiếm DVYT của người dân hay không ? Đối với người nghèo,
BHYT có giúp tăng cường khả năng tiếp cận các DVYT hơn hay không ?
Một nghiên cứu ở tỉnh Hải Phòng năm 2007[14] cho thấy: khi bị ốm,
người dân đến TYT xã 44%, phòng khám đa khoa khu vực, trung tâm y tế 5%.
Có 17,9% tự mua thuốc về điều trị. Gia đình tự chi trả tiền KCB 78%, BHYT
chi trả 15,9%. Có 46,4% hộ gia đình có thuốc dự trữ trong nhà, có trên 10%
hộ gia đình mua thuốc tại các mẹt thuốc ngoài chợ.
Trong khi đó, tình hình sử dụng DVYT chung của cả nước, theo Báo cáo
y tế Việt Nam 2006[1]: trung bình trong một năm, số lượt người dân được tiếp
xúc với DVYT công lập là 280 lượt bình quân 100 người dân, tương đương
với DVYT tư nhân là 287 lượt. Nhìn chung, người dân sử dụng các CSYT
khác nhau, tuỳ thuộc theo điều kiện kinh tế, địa lý và các yếu tố ảnh hưởng
khác. Vấn đề mà hệ thống y tế cần quan tâm tìm hiểu là khi bị bệnh người dân
đi khám chữa bệnh ở đâu, sử dụng DVYT có chất lượng cao hay thấp. Các
phân tích trong nghiên này sẽ tập trung làm rõ các yếu tố kinh tế, địa lý,
13
BHYT…có liên quan đến việc lựa chọn CSYT, đồng nghĩa với việc lựa chọn
chất lượng DVYT như thế nào.
Bảng 1.1: Số lần sử dụng DVYT/người/năm theo loại hình cơ sở dịch vụ
và nhóm chi tiêu đầu người, năm 1993 và 1998.
Quầy thuốc 6,78 5,45 7,30 7,55 6,84 6,78
Thầy lang 0,36 0,25 0,35 0,27 0,34 0,58
Khác 0,00 0,00 0,01 0,00 0,00 0,00
1.4.2. Khác biệt về tổng mức sử dụng dịch vụ theo vùng
Tỷ lệ khám chữa bệnh hàng năm có sự thay đổi đáng kể theo vùng. Qua
bảng 1.2 ta thấy tỷ lệ này thấp nhất ở các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây
nguyên và cao nhất ở Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long. Cụ thể, tỷ
lệ sử dụng DVYT/ người/ năm ở Đông Nam Bộ cao gấp gần 2,5 lần so với
Tây nguyên. Ngoài ra, tỷ lệ sử dụng dịch vụ theo cơ sở cung cấp dịch vụ cũng
khác nhau giữa các vùng. Chẳng hạn, tỷ lệ sử dụng dịch vụ bệnh viện công là
cao nhất ở vùng Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Hồng và thấp nhất là ở
14
miền núi phía Bắc và Tây nguyên. Mặt khác, tỷ lệ sử dụng dịch vụ trạm y tế
xã bình quân đầu người là cao nhất ở các vùng đồng bằng sông Cửu Long,
miền núi phía Bắc và Tây nguyên. Tỷ lệ sử dụng dịch vụ tại các phòng khám
tư cao nhất ở vùng Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long và thấp nhất ở
miền núi phía Bắc.
Bảng 1.2: Số lần sử dụng dịch vụ/người/năm theo vùng, năm 1998
Cơ sở cung cấp
dịch vụ
Miền
núi
phía
Bắc
ĐB
sông
Hồng
Bắc
trung
bộ
Một thực trạng rất phổ biến hiện nay trong hành vi tìm kiếm DVYT của
người dân là tình trạng tự điều trị. Theo Bộ y tế[1], thì tỷ lệ các đợt ốm tự mua
15
thuốc về chữa chiếm đến khoảng 3/4 số đợt ốm (73%). Tỷ lệ này thấp hơn ở
trẻ em dưới 5 tuổi, nhưng vẫn chiếm 2/3 số đợt ốm (65,5%). Đối với người già
tỷ lệ này cũng khá cao khoảng 50 đến 70%.
Bảng 1.3: Sự phân bổ số lần sử dụng dịch vụ theo cơ sở cung cấp dịch vụ
và nhóm chi tiêu bình quân đầu người, năm 1998
Cơ sở cung cấp
DVYT
Tổng
số
Nhóm chi tiêu bình quân đầu người
Nhóm
thấp
nhất
Nhóm
2
Nhóm
3
Nhóm
4
Nhóm
cao
nhất
Bệnh viện công 5,84 3,15 3,75 4,63 7,22 9,55
Trạm y tế 5,56 7,39 6,84 6,91 5,62 1,72
Các CSYT công khác 2,42 2,05 1,79 2,13 3,14 2,89
Tất cả CSYT công 13,82 12,59 12,38 13,67 15,98 14,16
PK, bác sỹ tư 17,02 14,93 14,46 17,38 16,00 21,38
đó lý giải tại sao tỷ lệ sử dụng dịch vụ của người nghèo lại thấp hơn người
giàu – vì giá mà họ phải trả cho những dịch vụ là cao so với thu nhập. Chất
lượng chấp nhận được của dịch vụ cũng phần nào ảnh hưởng đến yêu cầu.
Cùng một giá cả dịch vụ, sự cải thiện về chất lượng dịch vụ sẽ giúp tăng việc
sử dụng dịch vụ. Ngược lại, ở những CSYT có chất lượng dịch vụ bị người
dân đánh giá là kém thì tỷ lệ sử dụng dịch vụ sẽ thấp. Yếu tố này đi ngược lại
lợi ích của người nghèo, vì ở hầu hết các nước, so với người giàu thì người
nghèo chỉ có đủ điều kiện tiếp cận dịch vụ có chất lượng thấp hơn. Điều đó
cũng có nghĩa là cần căn cứ vào chất lượng dịch vụ để định giá cho những
DVYT mà người nghèo sử dụng.
Yếu tố thứ tư là khoảng cách địa lý từ nơi cư trú đến CSYT. Ở Việt Nam,
khoảng cách địa lý đến cơ sở y tế dường như không phải là một yêu tố quan
trọng quyết định tỷ lệ sử dụng DVYT vì đất nước ta có mạng CSYT công rộng
17
khắp. Tuy nhiên, ở vùng núi và vùng sâu thì việc tiếp cận CSYT là khó khăn
vì mật độ dân cư thấp và đường sá khó đi. Vì những người nghèo nhất lại sống
ở những vùng như vậy, nên khoảng cách trung bình từ nhà đến CSYT đối với
người nghèo là lớn hơn so với người không nghèo. Khoảng cách xa hơn làm
tăng thêm chi phí cơ hội khi phải đến cơ sở cung cấp dịch vụ, vì vậy nó cũng
là yếu tố làm giảm tỷ lệ sử dụng DVYT.
Yếu tố nữa có ảnh hưởng quan trọng đến việc sử dụng DVYT là trình độ
học vấn. Bằng chứng thực tế cho thấy những người có học vấn cao hơn thì sử
dụng DVYT nhiều hơn so với những người học vấn kém. Điều này đặc biệt
đúng đối với việc sử dụng dịch vụ chăm sóc trẻ em; những đứa trẻ mà mẹ có
học vấn cao hơn thì khi ốm đau thường có điều kiện để điều trị hơn những trẻ
mà mẹ học vấn thấp hoặc không có học vấn. Người nghèo điển hình là có
trình độ học vấn thấp hơn và thực tế này giúp giải thích tại sao họ có mức sử
dụng DVYT thấp hơn người giàu.
Hành vi tìm kiếm dịch vụ y tế: phần lớn những cuộc điều tra nhóm có
trọng tâm cho thấy dân nghèo nông thôn coi việc phải sử dụng những DVYT
+ Thu nhập bình quân đầu người: tương đương 14 triệu/ người/ năm.
+ Mật độ dân số trung bình là 254 người/km
2
[12].
1.5.2. Đặc điểm về y tế
Hiện Phú Tân có 4 đơn vị y tế tại huyện (Phòng y tế, Trung tân Y tế,
Bệnh viện Đa khoa và Trung tâm Dân số Kế hoạch hoá gia đình)[6]. Tuyến xã
có 8 Trạm y tế, 1 Phòng khám đa khoa khu vực và có 75/ 75 tổ y tế ấp, khóm.
Về lĩnh vực y tế tư nhân hoạt động cũng khá phong phú, đa dạng toàn huyện
19
có tất cả 65 cơ sở hành nghề y, dược tư nhân và DVYT[20]. Công tác quản lý
y, dược tư nhân chưa thật sự chặt chẽ, bên cạnh đó do trình độ dân trí còn giới
hạn, điều kiện đi lại còn khó khăn nên sự chọn lựa các dịch vụ y tế của người
dân còn hạn chế. Nhất là đối tượng nghèo, thiếu hiểu biết, họ không có nhiều
lựa chọn, mà chỉ đến những cơ sở y tế nào thuận lợi nhất, mà không biết đến
chất lượng, kể cả những cơ sở chưa đủ điều kiện hành nghề. Một đặc điểm khá
phổ biến trong những năm gần đây mà chưa được khắc phục, là tình trạng các
ghe bán hàng – bán khắp các nẽo đường, kênh rạch trong địa bàn- và các tiệm
tạp hoá thường kèm theo bán các loại thuốc điều trị bệnh, mà người dân vẫn
chấp nhận sử dụng vì họ cho rằng thuận tiện, mà không nghỉ đến việc lợi bất
cập hại của việc tự điều trị này. Theo báo cáo của Trung tâm y tế[23], trong
năm 2009 toàn huyện có 120 giường bệnh; tổng số lần khám, kê đơn là
260.534; tổng số bệnh nhân điều trị nội trú 7.527; tổng số bệnh nhân điều trị
ngoại trú 928. Về bảo hiểm y tế: toàn huyện có khoảng 31.205 người tham gia,
chiếm 27,54% dân số.
20
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
- Dân số mẫu: hộ gia đình và cán bộ ngành y tế huyện Phú Tân.
−
=
Trong đó:
- n : là số mẫu nghiên cứu
- Z: là ước lượng khoảng tin cậy của kết quả nghiên cứu; với mức tin cậy
mong muốn là 95% thì Z = 1,96.
- p: là tỷ lệ người dân tiếp cận cơ sở y tế. Theo một nghiên cứu tại Hải
Phòng năm 2007[14], cho thấy tỉ lệ sử dụng DVYT công là 44%, chúng tôi
chọn p là 0,44.
- C: là sai số cho phép, trong nghiên cứu này, chúng tôi chọn C = 5%,
tức C = 0,05
Thay số vào công thức trên, ta có n= 380. Cỡ mẫu được nhân với hiệu lực
thiết kế mẫu (DE) là 2[14]: n x 2= 760. Vậy cỡ mẫu sau khi làm tròn là 800 hộ
gia đình.
2.2.2.2. Nghiên cứu định tính
- Thảo luận nhóm tập trung: bao gồm 10 lãnh đạo các đơn vị y tế tuyến
huyện: Phòng y tế, Trung tâm Y tế, Bệnh viện Đa khoa và Trung tâm Dân số –
kế hoạch hóa gia đình.
- Phỏng vấn sâu bán cấu trúc: phỏng vấn tất cả 9 Trưởng trạm y tế.
22
2.2.3. Phương pháp chọn mẫu
Để thu thập số liệu chúng tôi tiến hành chọn mẫu nhiều giai đoạn[15],
[17].
2.2.3.1. Giai đoạn 1: chọn xã, thị trấn nghiên cứu bằng phương pháp
phân tầng và ngẫu nhiên
Toàn huyện có 8 xã và thị trấn Cái Đôi Vàm. Do thị trấn có tính đặc thù
riêng nên là đơn vị được phân tầng đầu tiên để chọn vào mẫu. 8 xã còn lại
được phân làm 2 vùng theo điều kiện địa lý: vùng xa trung tâm huyện (có 4
xã: Phú Mỹ, Phú Tân, Phú Thuận, Việt Thắng); vùng gần trung tâm huyện (có
ngẫu nhiên)
Giai đoạn 3 (chọn
ngẫu nhiên hệ
thống)
Dân số
nghiên cứu được chọn
2.2.4. Các biến số cần nghiên cứu
2.2.4.1. Nhóm biến số về đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
- Giới tính: nam, nữ
- Tuổi: phân làm 4 nhóm
+ Nhóm tuổi từ: 18 - 30 + Nhóm tuổi từ: 31- 45
+ Nhóm tuổi từ: 46 - 60 + Nhóm tuổi: > 60
- Dân tộc: Kinh, Khmer, Hoa, khác
- Nghề nghiệp: nông dân, cán bộ/viên chức, nghề thủ công, nghề tự do
- Trình độ học vấn:
+ Mù chữ + Tiểu học
+ THCS + THPT
+ CĐ/ĐH
- Vùng địa lý: trung tâm huyện, gần trung tâm huyện, xa trung tâm huyện
2.2.4.2. Nhóm biến số về sự tiếp cận và sử dụng dịch vụ KCB của
người dân
- Nhu cầu sử dụng DV KCB của người dân (đợt ốm/người/năm): tính
theo giới, tuổi, dân tộc, nghề nghiệp, trình độ học vấn và vùng địa lý
- Sử dụng dịch vụ KCB trung bình/người/năm
- Số lần sử dụng dịch vụ KCB:
+ 1- 3 lần
+ > 3 lần
- Loại hình cơ sở y tế người dân tiếp cận:
+ KCB công : trạm y tế, BVH, bệnh viện tỉnh/trung ương
+ KCB tư nhân: y tư nhân, dược tư nhân, YHDT tư nhân