Âm mưu xâm lược Việt Nam của
Pháp & Tình hình Việt Nam
phong kiến giữa TK 19 Năm 1852, Lu-i Bô-na-pác (Luis Bonaparte) được sự ủng hộ của cánh
đại tư sản phản động ở Pháp lên ngôi hoàng đế lập ra đế chế III, xưng là
Na-pô-lê-ông III. Việc chuẩn bị xâm lược Việt nam của Pháp được đẩy
mạnh thêm một bước. Năm 1856 Mông-ti-nhi (De Montigni) được vua
Pháp Na-pô-lê-ông III phái đến công cán tại khu vực ấn Độ, Trung
Quốc, mục đích là điều đình để ký các hiệp ước thương mại thân thiện
với Xiêm, thương nghị với vua Việt Nam về việc giao hiếu và thông
thương, nhưng vì mắc việc tại Xiêm, Môngtinhi đã phái Lơ-Li-ơ-dơ
(LeLieur) hạm trưởng tàu Catinat đem thư trước tới Việt Nam. Ngày
21/9/1856 tàu Catinat tới cửa biển Đà nẵng. Quan trấn thủ Đà Nẵng lại
khước từ không tiếp nhận bức thư của Pháp. Lơ-Li-ơ dơ tức giận sai phá
các thành lũy của quân ta. Ngày 24 tháng 10 năm 1856 một tuần dương
hạm khác do Cô-li-ê chỉ huy lại đến Đà nẵng trực tiếp gửi thư hăm doạ
quan đầu tỉnh Quảng Nam. Sau đơ ít lâu, ngày 23/1/1857 Mông ti nhi tới
Việt nam. Sau nửa tháng thương thuyết không có kết quả Mông-ti-nhi bỏ
về nước. Cùng về Pháp với Mông-ti-nhi có giám mục Pen-lơ-ranh
(Pellerin), bấy lâu nay vẫn lẩn lút ở Việt Nam và trốn được xuống tàu
Catinat. Pen-lơ-ranh đem tình hình cấm đạo và sát tả ở Việt Nam ra
tuyên truyền rồi ra sức xúi dục Chính phủ Pháp hành động bằng vũ lực.
Ngay sau đó, một cơ quan chuyên nghiên cứu vấn đề Việt Nam của
Pháp đã được lập ra vào ngày 22-4-1857 lấy tên là Uỷ ban Nam kì. Lá
cờ ”bảo hộ công giáo” được giương lên để chuẩn bị cho cuộc hành binh
xâm lược.
Chỉ mấy ngày sau khi thành lập, theo lệnh của Na-pô-lê-ông III Uỷ ban
Dụng ý của Pháp là sau khi chiếm được Đà nẵng, sẽ tiến thẳng ra Huế,
buộc triều đình Huế đầu hàng bẻ gãy ý chí kháng chiến của đối phương.
Sáng ngày 1/9/1858 Pháp gửi tối hậu thư cho quan trấn thủ thành Đà
nẵng là Trần Hoàng hạn trong 2 giờ đồng hồ phải trả lời. Vì phải đợi
lệnh triều đình nên Trần Hoàng cứ án binh bất động. Chưa hết 2 giờ hẹn
quân Pháp đã nổ súng dữ dội bẵn phá các mục tiêu trên bờ rồi đổ bộ lên
bán đảo Sơn Trà.
Quân các đồn bên ta bắn trả nhưng vì vũ khí lạc hậu nên không gây cho
quân địch tổn thất.
Được tin bán đảo Sơn Trà rơi vào tay giặc, Tự Đức lệnh cho các quân
thứ cấp tốc tiếp ứng. Nguyễn Tri Phương (đang làm kinh lược sứ lục
tỉnh Nam Kì) được điều ra làm Tổng thống quân thứ Quảng Nam, gấp
rút chấn chỉnh quân ngũ và thống nhất chỉ huy chống giặc. Nguyễn Tri
Phương cho thực hiện kế hoạch gồm hai điểm chính: Thứ nhất là tổ chức
cho dân lùi sâu vào nội địa, làm vườn không nhà trống, triệt để bất hợp
tác với giặc. Thứ hai là triệt để phòng ngự, ra sức đào hào đáp luỹ cản
giặc, không cho giặc đánh lan ra.
Hưởng ứng kế hoạch của Nguyễn Tri Phương, các lực lượng dân binh
cùng nhân dân địa phương ra sức đào hào đắp lũy, phối hợp với quân
của triều đình chặn đánh tàu địch. Những đội dân quân bao gồm “tất cả
những người không đau yếu và tàn tật” được thành lập, chiến đấu vô
cùng quả cảm.
Phối hợp với mặt trận Đà nẵng, nhân dân Nam bộ cùng với quân đội
triều đình cơi cao thêm thành lũy,củng cố thêm hệ thống phòng thủ. Đội
nghĩa binh của Trương Định được tập hợp, ra sức tập luyện, chuẩn bị
đánh Pháp.
Tiếng súng xâm lăng của quân Pháp ở Đà Nẵng đã thổi bùng ngọn lửa
Ngày 9/2/1859 quân Pháp tập trung ở Vũng tàu gồm 20 chiến thuyền
trong đó có 4 tàu buôn chở lương thực.
Ngày 10/2 chúng công phá pháo đài Phúc Thắng ở núi Lại Sơn (thuộc
tỉnh Biên hòa). Sau đó tàu Pháp theo sông Cần Giờ tiến vào Gia Định.
Trong vòng 6 ngày liên tiếp, quân Pháp vừa đi vừa đánh phá các đồn bốt
và các ụ cản trên sông. Sáng 17/2/1859, chiến thuyền địch tập trung hỏa
lực bắn vào thành Gia Định - một thành lũy được xây dựng từ khi
Nguyễn Ánh lấy lại được đất Nam Kỳ. Thời Minh Mạng (1837) thành
được xây lại, theo hình vuông, mỗi chiều 475 thước, tường thành được
xây bằng đá ong, gạch, đất
Lúc quân Pháp đến, trong thành có khoảng 1.000 quân Nguyễn và chứa
đầy khí giới, lương thực đủ cung cấp cho khoảng 10.000 quân giữ thành
trong 1 năm.
Trận chiến diễn ra dữ dội trong suối buổi sáng ngày 17/2. Đến khoảng
giữa trưa quân ta phải rút, bỏ lại trong thành 200 đại bác bằng đồng và
bằng gang, 20.000 vũ khí các loại, 86.000 kg thuốc súng, 9 chiến thuyền
đã đóng và đang đóng nằm dưới ụ. Sau khi Gia Định thất thủ. Vũ Duy
Ninh là quan trấn thủ thành sợ trách nhiệm đã treo cổ tự tử, mở đầu cho
một chuỗi tự sát của một bầy tôi bất lực dưới trướng Tự Đức.
Trong khi quân Nguyễn liên tiếp thất bại, phải rút quân thì thực dân
Pháp lại rơi vào thiên la địa võng của cuộc chiến tranh nhân dân ở Nam
bộ. Chúng phải giăng lực lượng ra để đối phó với nhiều toán dân binh
mọc lên ở khắp nơi ví như toán quân của Lê Huy (trước là quân nhân bị
thải hồi), toán quân của Trần Thiện Chính (trước là tri huyện bị triều
đình cách chức). Dân các vùng đất mà Pháp chiếm được đều tự tay thiêu
huỷ nhà cửa bỏ đi hoặc tự động tổ chức thành đội ngũ đánh giặc.
Trước khi rút, Pháp mở rộng phạm vi chiếm đóng quanh thành Gia định,
chiếm Chợ lớn - trung tâm thương mại của Nam kỳ lục tỉnh lúc bấy giờ.
Mặc dù với một lực lượng ít ỏi, chỉ chưa đầy 1.000 quân nhưng nhờ
chiến thuật ”thủ để hòa” (cố thủ rồi thương thuyết) của triều đình
Nguyễn, nên 1.000 quân Pháp vẫn ung dung đi lại, xuôi ngược trên các
dòng sông, ra bể, buôn bán kiếm lời, vừa để nuôi quân vừa để mua
chuộc một số người giao thương với chúng, biết được tình hình nội địa
của ta, dụ được một số người làm tay sai, tạo thêm điều kiện để mở rộng
cuộc xâm lăng.
Trong lúc đó, dưới quyền chỉ huy của tổng thống quân vụ đại thần
Nguyễn Tri Phương có tới hàng vạn quân song không chủ trương tranh
thủ thời cơ tấn công tiêu diệt địch mà suốt trong 1 năm (1860) Nguyễn
Tri Phương một mặt án binh bất động, mặt khác chỉ chú tâm huy động
quân đội và dân binh xây dựng Đại Đồn (Chí Hòa) với thành lũy kiên
cố, tưởng rằng như vậy sẽ có thể làm nản ý chí xâm lăng của giặc. Sự sai
lầm trong chiến lược phòng ngự bị động này đã khiến Nguyễn Tri
Phương đã không những không đuổi được 1.000 quân giặc đóng trên
phòng tuyến các chùa (từ Thị Nghè đến Mai Sơn) dài 10 cây số, có chỗ
ta địch cách nhau chưa đầy 500 mét, mà ngược lại, Đại đồn vô hình đã
biến thành một cái rọ 3 cây số vuông nhốt hàng ngàn binh lính, chuẩn bị
làm mồi cho đạn đại bác có hạt nổ của địch.