Âm mưu xâm lược Việt Nam của Pháp & Tình hình Việt Nam phong kiến giữa TK 19_2 doc - Pdf 19

Âm mưu xâm lược Việt Nam của
Pháp & Tình hình Việt Nam
phong kiến giữa TK 19

Việc cai trị trong các làng thì nhất nhất ở tay ban hội tề, hương chức.
Ban hương chức có nhiều quyền hành trong làng. Ngoài việc thu thuế,
bắt sưu, bắt lính còn đảm đương việc chia công điền, công thổ. Họ đuợc
quyền cho mướn công điền để thu tô; lập sổ bộ người và đất, đề ra lệ
làng hình thành cơ chế “tự trị” với những luật kệ hà khắc, phức tạp.
Nói cách khác, dưới các thôn xã, quyền bính nằm trong tay bộ phận phú
hào, cả về kinh tế, cai trị, giáo dục. Vận mạng của dân làng phụ thuộc
vào các tổng lí, kì dịch.

Bộ luật Gia Long (còn gọi là Hoàng Việt luật lệ) nói là đã tham khảo bộ
luật Hồng Đức thời Lê nhưng thực chất đã gạt bỏ những điều tiến bộ của
luật Hồng Đức, sao chép gần hết bộ luật của triều Mãn Thanh, một quốc
gia phong kiến phản động nhất châu Á. Trong tổng số 328 điều thì có tới
166 điều là luật hình, 58 điều luật quân sự. Để áp dụng có hiệu lực bộ
luật trên, nhà Nguyễn lập ra một tổ chức chuyên trách về tư pháp ở cấp
tỉnh gọi là Ty Niết.

Quần chúng nhân dân bị áp bức thậm tệ. Ngoài thuế khóa, sưu dịch họ
còn phải chịu vô số luật lệ quái gở ví dụ:dù có tiền cũng không được xây
nhà lầu. Nhà dân không được làm theo kiểu ”Nội công ngoại quốc”
Dân thường không được ăn vận quần áo có các mầu vàng, lam, tím chỉ
được dùng màu đen, nâu. Không được đi giày Về kinh tế xã hội:

Thời Nguyễn, chế độ sở hữu ruộng đất công đã suy yếu nhiều. Nạn chấp

trong đó có 16 quyết định cho áp dụng ở Lục tỉnh, 2 ở Bắc thành,1 ở
vùng Kinh kì và 6 đối với toàn quốc. Trong Nam cũng như ngoài Bắc,
hình thức chủ yếu là chiêu mộ dân lưu tán để khai hoang lập ấp. Đồn
điền phát triển mạnh ở Lục tỉnh, theo hình thức: hoặc Nhà nước giao cho
binh lính hay tù nhân bị lưu đày khai hoang, hoặc cho tư nhân chiêu mộ
dân khai thác. Một số quan lại tổ chức tốt việc khai hoang như Nguyễn
Công Trứ lập ra hai huyện Kim Sơn, Tiền Hải và một số tổng ở Nam
Định; Nguyễn Văn Thoại đào sông Núi Sập Thoại Hà, kênh Vĩnh Tế và
khẩn hoang vùng Châu Đốc (An Giang); Trương Minh Giảng lập được
25 thôn ở vùng biên giới Việt Nam- Căm Pu Chia; Nguyễn Tri Phương
lập được 21 cơ đồn điền và tổ chức 124 ấp ở Lục tỉnh. Diện tích đất
nông nghiệp nhờ thế mà đã tăng nhanh so với trước. Theo thống kê vào
năm 1820 có 3.076.300 mẫu; năm 1840:4.063.892 mẫu và năm 1847
tăng lên 4.278.013 mẫu.

Tuy diện tích canh tác có tăng nhưng tình trạng dân lưu tán vẫn tiếp tục
xảy ra vì số đất khai hoang được chỉ một thời gian sau đã lại rơi vào tay
giai cấp địa chủ phong kiến.

Tình trạng của nông nghiệp đã như vậy, thì công thương nghiệp lại càng
bi đát.

Dưới thời Nguyễn, nhà nước vẫn duy trì chế độ công tượng cũ. Việc
lùng bắt các thợ giỏi đưa về kinh đô phục vụ cuộc sống cung đình khiến
cho thủ công dân gian ngày thêm tàn lụi. Thêm vào đó là chính sách
ngăn sông cấm chợ, tục giấu nghề và các quy định ngặt nghèo vô lý của
nhà nước như cấm buôn bán đồ sắt, cấm khai thác mỏ ở một số vùng; tư
nhân không được giao thương với nước ngoài đã khiến cho các trung
tâm thương mại trở nên thưa thớt, công thương nghiệp tiêu điều. Những
người thợ khéo tay nhiều khi chỉ được sử dụng vào việc làm thỏa mãn

cuộc khởi nghĩa năm 1854 ở vùng Sơn Tây (giặc Châu chấu) do Cao Bá
Quát, một nhà thơ và nhà tư tưởng bậc nhất thế kỉ 19 lãnh đạo. Theo
thống kê chưa đầy đủ chỉ từ năm 1848 khi Tự Đức lên ngôi đến năm
1862 là năm thực dân Pháp cuớp trắng ba tỉnh miền Đông Nam Kì đã có
40 cuộc khởi nghĩa và nếu tính đễn năm 1883, khi nhà Nguyễn ký điều
ước Hác măng, thừa nhận sự chiếm đóng của Pháp trên toàn cõi Việt
nam thì các cuộc khởi nghĩa chống triều đình đã lên tới con số 103.

Phong trào nông dân khởi nghĩa nói trên đã khẳng định rằng, vào lúc
thực dân Pháp chuẩn bị nổ súng xâm lược nước ta là lúc mâu thuẫn giữa
nông dân với phong kiến đã trở nên hết sức sâu sắc. Tuy nhiên nông dân
bao giờ cũng là một lực lượng yêu nước quan trọng. Họ tỏ ra hết sức
tỉnh táo và nhậy bén trước thời cuộc và có sức sống, sức quật khởi trong
cuộc kháng chiến chống Pháp. Chính quần chúng nhân dân, trong đó chủ
yếu là nông dân, chứ không phải là ai khác đã trở thành chỗ dựa của các
sĩ phu yêu nước, làm tách một bộ phận phong kiến tiến bộ ra khỏi triều
đình phong kiến đầu hàng, tiếp tục lãnh đạo cuộc đấu tranh chống xâm
lăng của dân tộc ta ở giai đoạn sau. II.Thực dân Pháp xâm lược Việt Nam. Cuộc kháng chiến ở Đà Nẵng
và Gia Định (1858-1859)

2.1. Âm mưu đánh nhanh thắng nhanh của Pháp

Nguyễn Ánh, sau khi lên ngôi (1802) lấy hiệu Gia Long đã có các chỉ dụ
đặc biệt ưu ái đối với các giáo sĩ người Pháp. Tuy vậy, sự hoạt động ráo
riết của các thế lực theo đạo thiên chúa và các cố đạo người Âu đã khiến
Gia long lo ngại, cảnh giác và đề phòng. Năm 1817. Gia long đã cự
tuyệt việc yết kiến của phái bộ Pháp do Lu-i XVIII cử đến, đồng thời


Ngoài các chiến dịch tuyên truyền tại Pháp, Hội truyền giáo hải ngoại
Pháp còn kích động những phần tử bất hảo trong số gần 50 vạn giáo dân,
liên tiếp gây ra các vụ rắc rối, gây hận thù lương - giáo, vi phạm luật lệ
triều đình cố làm mục ruỗng xã hội Việt nam bằng cách chia rẽ nội bộ
dân tộc ta, đi tới thủ tiêu tinh thần kháng chiến cũng như sức đề kháng
của nhân dân ta trước quân xâm lược. Tiến thêm một bước, ngày
25/2/1843 tàu chiến Pháp Heroine vào Đà nẵng. Hạm trưởng Favin
Lơvêque xin tha cho 5 giáo sĩ bị kết án tử hình đang còn bị giam ở Phú
Xuân

Năm 1845 thiếu tướng hải quân Cécile chỉ huy hạm đội Đông Hải phái
tàu Alemêne đến Đà Nẵng, yêu cầu thả giám mục Le febvere bị kết án tử
hình đang bị giam tại Huế.

Năm 1847 biết ở Phú Xuân không còn có giáo sĩ nào bị giam nữa, chính
phủ Pháp mới sai đại tá hải quân Lepierre lên thay Cecile phản đối việc
cấm đạo ở Việt Nam và yêu cầu Thiệu Trị để cho dân được tự do theo
tôn giáo mới.
Tháng 3 - 1847 hai tàu chiến Pháp tới Đà nẵng. Thuyền trưởng và giáo
sĩ Pháp ngang nhiên đi thẳng vào công quán đe dọa. Trấn thủ Đà Nẵng,
một mặt không chịu nhận thư của đại diện Pháp, mặt khác ra lệnh cho
binh lính sẵn sàng đối phó. Thấy vậy Lapierre đã ra lệnh cho hai tàu
chiến Pháp bắn phá 5 chiếc tàu đồng của quân ta rồi cho nổ neo kéo
buồm ra khơi. Ngày 15/7/1847 chiến hạm Pháp lại kéo đến bắn phá dữ
dội các chiến thuyền của triều đình đậu tại Đà Nẵng. Tình thế trở nên
căng thẳng.

Nghe tin quân Pháp hành hung tại Đà Nẵng. Vua Thiệu Trị vô cùng tức
giận đã hạ dụ: ”cấm đạo sát tả” (cấm đạo, giết giáo dân) để đối phó, rồi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status