1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ước mơ lâu đời của loài người là sống trường thọ, hơn nửa thế kỷ trước
đây người ta còn nói với nhau rằng: “Nhân sinh thất thập cổ lai hy” (người
thọ 70 xưa nay hiếm). Thế nhưng cùng với sự tiến bộ về khoa học công nghệ,
đời sống vật chất của con người ngày càng hoàn thiện, các kỹ thuật y học
ngày càng tiến bộ, tuổi thọ của con người ngày càng tăng, dẫn đến số người
cao tuổi trong cộng đồng ngày càng tăng tạo ra quá trình tích tuổi.
Quá trình tích tuổi trong dân cư đã đặt loài người trước thách thức mới,
một loạt vấn đề phức tạp về tâm lý xã hội nhu cầu phục vụ đời sống bảo vệ
sức khoẻ, chăm sóc lúc đau ốm,…. Đứng trước hiện tượng mới này, ngay các
nước tiên tiến về mặt kinh tế khoa học kỹ thuật, tổ chức xã hội cũng chưa
được chuẩn bị đầy đủ, đang còn trong thời kỳ tìm kiếm phương án giải quyết
đồng bộ và tối ưu.
Trong tiến trình lão hoá, con người có những biến đổi sâu sắc về hình
thái, cấu trúc sinh hoá các tế bào cũng như về hoạt động chức năng của các
nội tạng. Do những biến đổi này, một chế độ dinh dưỡng phù hợp với cơ thể
khi còn ở lứa tuổi trẻ dần dần trở nên không thích hợp đối với lứa tuổi trung
niên. Ðến lứa tuổi từ 60 trở lên nếu không được điều chỉnh một cách tương
xứng, thực hiện chế độ ăn không tốt sẽ không đảm bảo trạng thái sức khoẻ
bình thường, vì đã chứa đựng những yếu tố gây bệnh, có nhiều bất ổn dẫn đến
bệnh tật, gây tàn phế hoặc tử vong [27],[76], [83].
Người cao tuổi là đối tượng cần được chăm sóc đặc biệt về dinh dưỡng
vì cơ thể thường đã bị lão hoá. Chức năng của các cơ quan, bộ phận đều bị
suy giảm và thường hay mắc các bệnh mạn tính. Chế độ ăn và cách ăn uống
sao cho phù hợp với người cao tuổi là hết sức quan trọng [75]. Vì vậy, nghiên
cứu về tình trạng dinh dưỡng người cao tuổi là đáp ứng tính giá trị xã hội.
2
Việt Nam cũng đang đối mặt với quá trình tích tuổi, quan tâm đến vấn đề
này Đảng và Nhà nước đã có nhiều chính sách, chiến lược để cả cộng đồng
tính chính xác quá trình sinh học. Có người nhiều tuổi nhưng trong vẫn trẻ,
khoẻ mạnh. Trái lại cũng có người chưa nhiều tuổi nhưng đã có nhiều biểu
hiện của sự già. Tiến trình lão hoá do rất nhiều nguyên nhân đã và đang được
nghiên cứu. Vì vậy, sự phân chia theo tuổi chỉ có tính chất ước lệ và chỉ có
giá trị tương đối [9],[32],[35],[57].
Hiện nay khái niệm tuổi già hay người cao tuổi được một số nước trên
thế giới, trong đó có một số nước châu Âu và ngay cả nước Mỹ đã đề nghị sử
dụng đối với người trên 65 tuổi [32], [83],[86].
Theo Tổ chức y tế thế giới, sự sắp xếp các lứa tuổi như sau:
- 45 đến 59: tuổi trung niên
- 60 đến 74: người nhiều tuổi
- 75 đến 90: tuổi già
- Trên 90 : người già sống lâu
Cách quy định trên đây hiện đang được nhiều nước áp dụng [32],[35].
Ở Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã ký
sắc lệnh công bố Pháp lệnh Người Cao Tuổi vào ngày 12/05/2000 [73]. Sau 9
năm thực hiện pháp lệnh, Quốc Hội Nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt
Nam đã hệ thống, chỉnh sửa và công bố thay thế pháp lệnh bằng Luật Người
cao tuổi vào ngày 23/11/2009 [54]. Trong đó, quy định rõ: “ Người cao tuổi
(NCT) được quy định là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên”.
4
1.2. TÌNH HÌNH VÀ QUY MÔ DÂN SỐ NGƢỜI CAO TUỔI
1.2.1. Số ngƣời cao tuổi trên thế giới
Theo Tổ chức Y tế thế giới ( WHO) năm 1950, người cao tuổi mới chỉ
có 214 triệu, năm 1970 số người 60 tuổi trở lên trên toàn cầu là 291 triệu,
chiếm 8% toàn dân số thế giới. Năm 1975 đã là 346 triệu, đến năm 2000 là
590 triệu. Tỷ lệ này tăng nhanh hơn ở các nước đang phát triển, từ 5,4% lên
7%, từ 137 triệu năm 1970 lên 354 triệu năm 2000, có nghĩa tăng 2,6 lần [32].
Năm 2008, theo báo cáo thống kê của WHO số người trên 60 tuổi đã
chiếm tỷ lệ 11% dân số toàn cầu. Trong đó, khu vực châu Âu có tỷ lệ cao nhất
Thấp nhất
Nhật
82
Bốt-soa-na
35
Ai-xơ-len
81
Lê-sô-tô
35
Thuỵ Điển
81
Soa-di-lân
35
Ôx-trây-li-a
80
Dăm-bi-a
37
Ca-na-đa
80
Ăng-gô-la
40
Pháp
80
Si-ê-ra Lê-ôn
40
I-ta-li-a
80
Dim-ba-bu-ê
41
Na-uy
Hungari
Cuba
66,64
66,30
72,42
73,50
Liên Xô (củ)
64,00
74,00
Mông cổ
64,00
65,00
6
Nhìn chung nữ giới cao tuổi thọ cao hơn nam giới, tình trạng đó dẫn đến
tỷ lệ chênh lệch giữa nam và nữ trong số người cao tuổi [32].
Bảng 1.3. Số nam có so với 100 nữ theo độ tuổi, loại nước
Năm
Độ tuổi
1975
Dự báo 2025
Nƣớc đang
phát triển
Nƣớc
phát triển
Nƣớc đang
phát triển
Nƣớc
tỷ lệ so với tổng dân số cũng tăng. 7
Bảng 1.4.Một số đặc điểm về người cao tuổi ở nước ta [4],[5],[32].
Năm
Dân số
60 tuổi
100 tuổi
Tuổi thọ trung bình
Nam
Nữ
Chung
1960 (Ở Miền Bắc)
814.591 (5%)
710 30,0
1974 (Ở Miền Bắc)
1.645.659 (6,9%)
903 58,0
1979
52.806.090
3.728.110(7,06%)
2.731
63,6
sức lao động chứ không phải “chân yếu tay run” và không làm được việc gì.
Thực tế, ngày càng nhiều người cao tuổi tham gia các công việc quan trọng
trong xã hội sau khi đã về hưu: tình nguyện viên, truyền đạt kinh nghiệm và
kiến thức cho người trẻ, giúp đỡ gia đình các công việc nhà… Ở Châu Phi,
những bệnh nhân AIDS được cha mẹ họ chăm sóc, khi họ qua đời con của họ
lại tiếp tục được ông bà chăm sóc. Ở Tây Ban Nha, người cao tuổi, đặc biệt là
phụ nữ cao tuổi, đã chăm sóc các bệnh nhân, những người không nơi nương
tựa. Những đóng góp to lớn ấy chỉ có thể được bảo đảm nếu người cao tuổi có
đầy đủ sức khoẻ.
Tuy nhiên, một trong những mối lo ngại lớn hiện nay là cùng với sự già
đi của dân số là sự gia tăng các bệnh mạn tính ở người cao tuổi: bệnh tăng
8
huyết áp, bệnh tim mạch, tiểu đường, alzheimer, ung thư, bệnh phổi tắc nghẽn
mãn tính… Theo thống kê, phần lớn người cao tuổi lại đang sống tại các nước
đang phát triển. Để người cao tuổi vẫn có thể tham gia tích cực đóng góp sức
lao động cần phải có những chính sách phù hợp về chăm sóc sức khoẻ người
cao tuổi.
Hội nghị Toàn cầu về tích tuổi lần 7 ở Singapore, Tổ chức Sức khoẻ Thế
giới đã khuyến cáo thực hiện “Chăm sóc sức khoẻ ban đầu thân thiện với lứa
tuổi” tại các trung tâm chăm sóc sức khoẻ ban đầu của cộng đồng với nhiệm
vụ là truyền thông giáo dục sức khoẻ; huấn luyện kỹ năng, thói quen, hành vi
có lợi đối với sức khoẻ cho người cao tuổi và chăm sóc khoẻ cho họ.
Theo Tổ chức Sức khoẻ Thế giới: “Người cao tuổi khoẻ mạnh chính là
một nguồn lực quan trọng cho gia đình, cộng đồng và nền kinh tế”. Chính vì
lẽ đó cần có nhiều nghiên cứu về tích tuổi và đề ra các giải pháp kéo dài cuộc
sống khoẻ cho người cao tuổi.
Đảng, Quốc Hội, Nhà Nước và Chính Phủ Việt Nam đã ban hành các
văn bản để khẳng định vai trò của người cao tuổi trong xã hội và đề ra nhiều
chủ trương, chính sách liên quan đến việc chăm sóc bảo vệ sức khỏe người
chủ tuổi [3],[78].
Cân nặng là một kích thước tổng hợp cơ bản không thể thiếu được để
đánh giá về nhiều mặt như thể lực, dinh dưỡng, sự tăng trưởng. Tuy nhiên,
riêng cân nặng không cho phép đánh giá thể lực hay dinh dưỡng mà nó phải
kết hợp với một hay nhiều kích thước khác như chiều cao để lập ra các chỉ số
đánh giá thể lực, hay dinh dưỡng [2],[28],[81],[82].
Ở người khoẻ mạnh khối lượng của cơ thể đạt mức tối đa vào tuổi 50,
giữ mức tương đối ổn định cho đến lứa tuổi 70, sau đó giảm dần [35],[81].
Những biến động trong các tham số về chiều cao và cân nặng là phản
ánh tổng quát và đại thể của những biến đổi do tích tuổi tế bào, phân tử và
dưới phân tử. Có thể xác nhận biến đổi này qua các tham số về biến đổi cấu
trúc và biến đổi chuyển hoá [81],[82],[84[.
10
1.4. KHÁI NIỆM VỀ TÌNH TRẠNG DINH DƢỠNG
Tình trạng dinh dưỡng (TTDD) là tập hợp các đặc điểm chức phận, cấu
trúc và hoá sinh phản ánh mức đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể [28].
TTDD của các cá thể là kết quả của ăn uống và sử dụng các chất dinh
dưỡng của cơ thể. Số lượng và chủng loại thực phẩm cần để đáp ứng nhu cầu
dinh dưỡng của con người khác nhau tuỳ theo tuổi, giới, tình trạng sinh lý,…
và mức độ hoạt động của thể lực và trí lực.
TTDD tốt phản ánh sự cân bằng giữa thức ăn ăn vào và hoạt động của cơ
thể, khi cơ thể có tình trạng dinh dưỡng không tốt (thừa hoặc thiếu dinh
dưỡng) là có thể hiện vấn đề về sức khoẻ hoặc dinh dưỡng hoặc cả hai.
TTDD của một quần thể dân cư được thể hiện bằng tỷ lệ của các cá thể
bị tác động bởi các vấn đề dinh dưỡng, mà ta có thể so sánh với các số liệu
quốc gia hoặc cộng đồng khác [28].
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và tổ chức Lương Nông của Liên Hiệp
Quốc (FAO) đều khuyến nghị dùng Chỉ số khối cơ thể (Body Mass
Index=BMI) để đánh giá tình trạng dinh dưỡng ở người trưởng thành. Công
thức tính:
Cân nặng (kg)
18,5 - 22,99
Bình thường
23 - 24,99
Thừa cân
25 - 29,99
Béo phì độ 1
30 - 34,99
Béo phì độ 2
≥ 35
Béo phì độ 3
Ngoài ra, để đánh giá mức độ phổ biến tình trạng suy dinh dưỡng của
một quần thể trong cộng đồng [2], Tổ chức Y tế Thế giới (WHO- 1995) đã
khuyến nghị dùng các ngưỡng sau đây :
- Tỷ lệ thấp 5- 9% quần thể có BMI < 18,5
- Tỷ lệ vừa 10- 19% quần thể có BMI <18,5
- Tỷ lệ cao 20- 39% quần thể có BMI <18,5
- Tỷ lệ rất cao ≥40% quần thể có BMI <18,5
1.5. SUY DINH DƢỠNG
1.5.1. Khái niệm suy dinh dƣỡng
Suy dinh dưỡng là tình trạng gây ra do sự thiếu hụt các chất dinh dưỡng
mà cơ thể cần thiết, việc này có thể là do ăn quá ít hoặc ăn không đồng đều
các thực phẩm căn bản như đạm, chất béo, chất bột đường, các vitamin và
khoáng vi lượng khác. Ngoài ra, còn có thể do cấu trúc cơ thể thay đổi dẫn
đến kém hấp thu hoặc không hấp thu các chất dinh dưỡng[16],[20].
Mặc dù gọi là suy dinh dưỡng protein năng lượng, nhưng đây không
12
chỉ là thiếu protein và thiếu năng lượng mà còn thường kết hợp thiếu nhiều
chất dinh dưỡng khác, đặc biệt là các vi chất dinh dưỡng. Bệnh thường thấy
ở trẻ nhỏ, nhưng cũng có thể thấy ở trẻ lớn và nhất là rất nhiều người cao
tuổi cũng mắc phải không phải do nguồn cung các chất dinh dưỡng thiếu,
bệnh nguy hiểm nhất là ung thư, đái tháo đường, [38],[82],[84].
Một số nghiên cứu cho thấy: sụt cân nhiều ngoài ý muốn kết hợp với một
tỷ lệ tử vong là 25% trong vòng 18 tháng sau; sụt cân đáng kể ở người cao
tuổi có tỷ lệ tử vong là 9 - 38% trong khoảng thời gian 2-3 năm sau
[35],[38],[81],[83].
1.6. THỪA CÂN- BÉO PHÌ
1.6.1. Khái niệm về thừa cân- béo phì
Trong một thế giới mà sự cung cấp thực phẩm chỉ thực hiện từng đợt, sự
tồn tại rất cần đến một khả năng dự trữ năng lượng dư chưa cần sử dụng ngay.
Nên các kho mỡ dự trữ được phân phối rộng khắp cơ thể, nó dự trữ năng
lượng dưới dạng triglycerid, khi cần nó phóng thích năng lượng dưới dạng
các acid béo để vận chuyển và dễ sử dụng tại các nơi khác. Tuy nhiên, khi có
nhiều dạng thực phẩm, có lối sống ít vận động hơn, cũng do ảnh hưởng của di
truyền mà hệ thống sinh lý lại tăng hoạt động dự trữ mỡ, gây ra hậu quả
nghiêm trọng cho sức khoẻ con người [83].
Thừa khối mỡ là bệnh rất phổ biến trong thời đại ngày nay, đặc biệt ở
người cao tuổi, đó là bệnh thừa cân (overweight). Dịch tễ học hiện đại cho
biết thừa cân là một yếu tố nguy cơ rất lớn, tác hại sâu xa, thúc đẩy trạng thái
già trước tuổi, các bệnh nhiễm mỡ xơ mạch, bệnh tăng huyết áp, bệnh đái
tháo đường và các bệnh chứng cổ điển của chúng.
Có nhiều khái niệm về thừa cân và béo phì. Tuy nhiên, Tổ chức Y tế Thế
giới đã đưa ra định nghĩa về thừa cân và béo phì như sau:
- Thừa là tình trạng cân nặng vượt quá cân nặng “nên có” so với chiều cao.
- Béo phì là tình trạng tích luỹ mỡ thái quá và không bình thường một
cách cục bộ hay toàn thể tới mức ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ [36].[83],[89].
14
1.6.2. Khái niệm về béo bụng
Ngoài cách phân loại thừa cân béo phì theo BMI mà Tổ chức Y tế Thế
giới khu vực Tây Thái Bình dương (WPRO) và Hội Đái tháo đường Châu Á
khuyến cáo, tỷ số vòng eo/vòng mông cũng có giá trị để đánh giá sự phân bố
huyết áp nhẹ, vừa, nặng [26],[50].
Theo quan niệm hiện nay của TCYTTG thì huyết áp thấp hơn
(HATT/HATTr=120/80mmHg) được xem là huyết áp tối ưu không gây hại
cho sức khoẻ.
1.6.4. Thừa cân- béo phì ở ngƣời cao tuổi
Tuổi tác lại làm biến đổi cơ thể theo chiều hướng dễ thừa cân, chiều cao
giảm dần, khối cơ giảm đi, tích tụ mỡ bất thường. Hai đòn bẫy dọn đường đi
đến thừa cân cần được xem xét một cách nghiêm khắc là thiếu vận động và ăn
thừa. Tư liệu của Liên Xô củ cho biết hiện nay 2/3 dân cư không tập thể dục,
cứ 2 người dân là có một người thừa cân,… ở những người cao tuổi tỷ lệ
người thừa cân là 53% ở nam giới và 64% ở nữ giới (M. Mohr, 1975)[35].
Ngày nay, béo phì được biết đến như là một vấn đề sức khỏe cộng đồng
quan trọng ở nhiều nước Đông Âu, Tây Âu, Bắc Mỹ và Nam Mỹ. Ở nhiều
nước phát triển, tỷ lệ người béo lên tới 30 hoặc 40%, nhất là ở độ tuổi trung
niên và chống béo phì trở thành một mục tiêu sức khỏe cộng đồng quan trọng.
Ở Mỹ, tỷ lệ dân số thừa cân [Chỉ số khối cơ thể (BMI) ≥ 25] hoặc béo phì
(BMI ≥ 30) tăng một cách rõ rệt hơn 20 năm qua; năm 2000, có 67% nam giới
thừa cân trong đó 27,7% béo phì, phụ nữ thừa cân ít hơn 62% nhưng béo phì
nhiều hơn 34% [31].
Tỷ lệ thừa cân – béo phì thì cũng rất cao ở Australia, tỷ lệ thừa cân ở
nam giới từ 44% năm 1992 lên 62,3% năm 1997 và 63% năm 1999 và ở nữ từ
30% năm 1992 lên 46,6% năm 1997 và 47% năm 1999. Ở hầu hết các nước
Châu Âu, tỷ lệ béo phì người trưởng thành từ 10 – 25%. Theo cuộc điều tra về
16
sức khỏe năm 1998 ở Đức, tại Tây Đức: tỷ lệ thừa cân ở tuổi 18-79 tuổi là
52% ở phụ nữ và 67%ở nam giới, béo phì là 18% ở nam và 24,5% ở nữ, trong
khi đó tỷ lệ thừa cân ở Đông Đức còn cao hơn ở Tây Đức. Béo phì thật sự là
vấn đề sức khỏe cộng đồng hàng đầu ở các nước đã phát triển [31].
Không những ở các nước và khu vực nói trên nơi tỷ lệ béo phì ở người
trưởng thành dao động từ 13% đến trên 20% mà ngay cả ở những nước đang
càng tăng. Nếu như năm 1960, tỷ lệ người bị bệnh tăng huyết áp ở người lớn
phía Bắc Việt Nam chỉ là 1% và hơn 30 năm sau (1992), thì tỷ lệ này đã là
11,7%, tăng lên hơn 11 lần và mỗi năm tăng trung bình 0,33%. Năm 2002, tỷ
lệ người bi bệnh tăng huyết áp đã tăng đến 16,3%, trung bình mỗi năm tăng
0,46%. Tốc độ gia tăng về tỷ lệ THA trong cộng đồng ngày càng tăng cao. Tỷ
lệ THA ở vùng thành thị là 22,7%, nông thôn (12,3%). Với dân số 84 triệu
người tính đến năn 2007, Việt Nam ước tính có khoảng 6,85 triệu thì đến
năm 2025 sẽ có khoảng 10 triệu người bị THA, nếu không có các biện pháp
phòng chống triệu người Việt Nam bị THA [13].
Các biến chứng của THA là rất nặng nề như tai biến mạch máu não, nhồi
máu cơ tim, suy tim, suy thận, mù lòa Những biến chứng này có ảnh hưởng
lớn đến người bệnh, gây tàn phế và trở thành gánh nặng về tinh thần cũng như
vật chất của gia đình bệnh nhân và xã hội. Bệnh tăng huyết áp là nguyên
nhân chính (chiếm 59,3% các nguyên nhân) gây ra tai biến mạch máu não
(TBMMN) nhồi máu cơ tim, suy tim… Như vậy, hàng năm chúng ta phải
chi một khoản kinh phí rất lớn tới cả ngàn tỷ đồng để trực tiếp điều trị bệnh
và phục vụ những người bị liệt, tàn phế, mất sức lao động do TBMMN, nhồi
máu cơ tim, suy tim …
Thực hiện lối sống lành mạnh phù hợp là một biện pháp chính để phòng
ngừa thừa cân béo phì cũng như bệnh tăng huyết áp.
18
1.7. VẤN ĐỀ NUÔI DƢỠNG NGƢỜI CAO TUỔI Ở VIỆT NAM.
Ở Việt Nam, điều kiện sống ngày một tăng góp phần tích cực vào việc
nâng cao sức khoẻ của người cao tuổi. NCT sống ở khu vực nông thôn có sức
khoẻ tốt hơn. Điều này cho thấy môi trường sống ở khu vực đô thị ồn ào, náo
nhiệt, ô nhiễm có ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ NCT. Nhờ những thành tựu to
lớn của sự nghiệp đổi mới, sức khoẻ và đời sống của người cao tuổi tại các
tỉnh đã được cải thiện rõ rệt. Sức khoẻ người cao tuổi tuy đã được nâng cao
dần song tình trạng các cụ mắc phải các chứng bệnh nguy hiểm vẫn còn khá
nay vẫn là chủ yếu, các tổ chức xã hội, các cơ quan đoàn thể vào cuộc vẫn
chưa nhiều và chưa thực sự. Yếu tố kinh tế là một trong những nguyên nhân
quan trọng tác động đến hình thức giúp đỡ của xã hôị đối với người cao tuổi.
Các hình thức thăm hỏi động viên chiếm tỷ lệ cao ở khu vực nông thôn, còn
giúp đỡ về vật chất ở khu vực thành thị cao hơn khu vực nông thôn [3].
Tuy nhiên do trình độ dân trí còn thấp và tác động của nền kinh tế thị
trường trong mưu sinh cho cuộc sống, nên vấn đề chăm sóc và nuôi dưỡng
người cao tuổi tại gia đình vẫn còn nhiều bất cập. Người cao tuổi tại hộ gia
đình chưa có chế độ ăn riêng, chưa được cập nhật các kiến thức về phòng
chống các bệnh liên quan đến dinh dưỡng.
1.8. MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ VỀ NUÔI DƢỠNG NGƢỜI CAO TUỔI
1.8.1. Chế độ ăn uống thích bợp
Người cao tuổi trong gia đình cần có chế độ ăn riêng, những món ăn cho
người già nên được chú ý từ khâu lựa chọn thực phẩm đến chế biến do khác
biệt về đặc điểm cơ thể và nhu cầu dinh dưỡng [18].
Theo thời gian, một số bộ máy hoạt động của cơ thể NCT xuất hiện sự
thay đổi. Các giác quan suy giảm hơn như: mắt nhìn mờ, mũi ngửi kém, cảm
giác ở lưỡi cũng không còn nhạy làm cho việc ăn uống kém ngon. Hơn nữa,
các chân răng bắt đầu yếu, cơ xương hàm teo nhão làm cho sức nhai bị giảm
đi khá rõ. Các tuyến tiêu hóa, dạ dày, ruột gan đều giảm chức năng, dẫn đến
20
việc tiêu hóa và hấp thụ thức ăn bị ảnh hưởng, quá trình đào thải chất độc
kém, táo bón xảy ra thường xuyên hơn. Hiểu biết những khó khăn trong ăn
uống ở NCT, chúng ta có nhiều cách để đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng phù hợp
với đối tượng này. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý một đặc điểm ở NCT là do hoạt
động ít, khối cơ bắp giảm nên nhu cầu về năng lượng và dinh dưỡng cũng
giảm đi, vì vậy càng lớn tuổi càng ăn ít hơn lúc trẻ. Mục đích của dinh dưỡng
lúc này là giúp cho NCT có được một cân nặng hợp lý nhất, để duy trì sức
khỏe và không bị các nguy cơ của suy dinh dưỡng hay thừa cân, béo phì [19].
Ngoài việc ăn sao cho tốt, đúng khoa học, đảm bảo sức khỏe thì việc
Glucid có hai loại: loại hấp thu nhanh như glucose, saccaroz có trong
bánh ngọt, xiro, kẹo, mứt,…và loại hấp thu chậm như tinh bột có trong ngũ
cốc (gạo, ngô, khoai). Ăn nhiều đường, uống nhiều nước ngọt, ăn nhiều bánh
ngọt, kẹo sẽ được hấp thu nhanh, buộc tuyến tụy tăng điều tiết Insulin nhiều.
Nhất là ở NCT có khả năng điều tiết chuyển hóa thấp, nên cần có chế độ hạn
chế sử dụng các loại đường, kẹo, nước ngọt [46].
Cần lưu ý một đặc điểm ở NCT là do hoạt động ít, khối cơ bắp giảm
nên nhu cầu về năng lượng và dinh dưỡng cũng giảm đi, vì vậy càng lớn
tuổi càng ăn ít hơn lúc trẻ. Cơ thể NCT chỉ cần được cung cấp một lượng
tinh bột đầy đủ, tuy nhiên nên hạn chế dùng đường và bánh kẹo ngọt. Mục
đích của dinh dưỡng lúc này là giúp cho NCT có được một cân nặng hợp lý
nhất, để duy trì sức khỏe và không bị các nguy cơ của suy dinh dưỡng hay
thừa cân, béo phì [19].
1.8.3. Sử dụng đạm
Cùng với độ tuổi, lượng calo sử dụng cần phải giảm một chút, tuy nhiên
vẫn phải được cung cấp thỏa đáng. Ăn ít có thể gây nên hiện tượng bị thiếu
protid (chất đạm) và dẫn đến teo cơ, chóng mệt mỏi. Về các chất dinh dưỡng,
thì nhu cầu của cơ thể về chất đạm ở người trưởng thành và người có tuổi là
22
như nhau. Khuyến cáo nhu cầu về chất đạm trên cân nặng ở tuổi già là 1-
1,2g/kg/ngày và gần tương đương với nhu cầu về đạm ở tuổi trẻ em, vì nhu
cầu đạm cho quá trình tái tạo ở tuổi già là rất lớn. Ở tuổi già, quá trình lão hóa
diễn ra mạnh mẽ, do vậy lượng chất đạm phải được cung cấp đầy đủ để phục
vụ cho việc tái tạo các tổ chức mô. Một số NCT, vì một lý do nào đó (do
không nhận thức được ý nghĩa của việc ăn uống điều độ và hợp lý, do bệnh
tật, do hoàn cảnh, do yếu tố tâm lý…) thường ăn ít, đặc biệt là ăn không đủ
các chất đạm và kết quả là cơ thể gầy yếu, mệt mỏi, suy giảm khả năng đề
kháng của cơ thể và dễ bị mắc bệnh [19].
1.8.4. Sử dụng chất béo
Đối với người lớn tuổi, việc ăn nhiều chất béo luôn không tốt cho sức
quả và rau, trong khi thức ăn của người NCT cần phải chứa nhiều các vitamin
khác nhau (rau quả, trái cây), các chất khoáng và chất xơ. Chất xơ có trong
trái cây, rau và ngũ cốc. Chất xơ có tác dụng phòng ngừa bệnh táo bón ở tuổi
già, ngoài ra chất xơ còn có tác dụng làm giảm mức độ cholesterol trong máu.
Cần rèn cho mình thói quen ăn hoa quả hàng ngày để tăng cường cung cấp
vitamin cho cơ thể. Cơ thể NCT thỉnh thoảng nên được cung cấp vitamin bổ
sung ở dạng dược phẩm. Đặc biệt là các vitamin nhóm B, vitamin có tính chất
chống lão hóa như vitamin A, C, E [19].
Đặc biệt, chuối còn có tỷ lệ kali/natri rất cao (396/1). Do đó, chuối có
tác dụng rất tốt trong việc hạ huyết áp và chống đột quỵ. Lượng kali cao
còn giúp bù trừ lại phần nào khuynh hướng ăn vào lượng muối nhiều hơn
khuyến cáo.
Chế biến các món ăn hỗn hợp có nhiều gia vị kích thích ăn ngon miệng
nên làm thức ăn mềm, nấu nhừ (chú ý tới món canh) vì tuyến nước bọt và
hàm răng của người nhiều tuổi hoạt động kém, khó nhai và nuốt thức ăn [18].
24
1.8.7. Hoạt động thể lực
Chế độ ăn uống đầy đủ các chất dinh dưỡng, đủ calo, có tỷ lệ cân đối
giữa các chất, kết hợp việc tăng cường tập luyện thể dục thể thao với các bài
tập rèn sức bền (đi bộ, chạy bước nhỏ, bơi, đạp xe đạp) có cường độ hợp lý và
một cuộc sống tinh thần thoải mái, sẽ đảm bảo một cuộc sống mạnh khỏe và
hạnh phúc ở NCT [19].
Hoạt động thể lực tham gia vào quá trình thiết lập cân bằng giữa năng
lượng tiêu hao và năng lượng ăn vào do đó có vai trò hết sức quan trọng đối
với tình trạng thừa cân – béo phì. Mặt khác, hoạt động thể lực còn giúp cơ thể
chuyển hóa tích cực. Do phương thức lao động và điều kiện sống thay đổi nên
hoạt động thẻ lực có xu hướng giảm đi. Cùng với yếu tố ăn uống, sự gia tăng
tỷ lệ béo phì thường đi song song với giảm hoạt động thể lực trong lối sống
tĩnh tại. Một số nghiên cứu nhận thấy nhóm người thừa cân – béo phì thường
1,4%, Công giáo 1,1%, Tin Lành 0,2%.
Về kinh tế, tốc độ tăng trưởng kinh tế trong năm 2008 là 15,52% so với
năm 2007 là 14,16%. Trong đó khu vực I (Nông – Lâm- Thuỷ sản) tăng
6,81%; Khu vực II (công nghiệp) tăng 14,37%; khu vực III ( thương mại- dịch
vụ) tăng 20,66 %; GDP bình quân đầu người 14,717 triệu.
Về cơ sở hạ tầng, hiện nay đã phát triển tương đối khá như: 99% số hộ
đều sử dụng điện lưới quốc gia. Đường liên xã, liên ấp đều được nhựa hoặc bê
tông hoá, mạng lưới truyền thanh đã phủ khắp các ấp, lại có thêm đài tiếp
sóng VTV3 đặt tại thị trấn có khả năng phát những Post truyền hình giáo dục
sức khoẻ cho nhân dân trong Huyện.
Tất cả các ấp đều có trường tiểu học và các xã đều có trường trung học
cơ sở, riêng trường trung học phổ thông có 5 trường: 2 trường tại thị trấn, 3
trường ở các xã Tân An (Nguyễn Quang Diêu), Vĩnh Xương, Châu Phong.
Năm 2003, Huyện đã được Bộ Giáo dục - Đào tạo xét công nhận đạt chuẩn