Sự tham gia của nam giới vào chương
trình dự phòng lây truyền mẹ con ở
Việt Nam
NHỮNG THÁCH THỨC VÀ CƠ HỘI
ĐỐI VỚI CHƯƠNG TRÌNH
Báo cáo này dựa trên nghiên cứu định tính
được thực hiện ở Việt Nam
Tháng 3 năm 2008
Người viết báo cáo:
Bà Ritu Shro,
Với sự tham gia của:
Bà Bùi Thị Thu Hà,
Ông Vũ Văn Hoàn,
Bà Đậu Thị Hà Hải,
Bà Lê Lan Hương,
Ông Phạm Khánh Tùng,
Nhóm kỹ thuật:
Nguyễn Duy Khê,
Đinh T. Phương Hòa,
Lưu Thị Hồng,
Chu Quốc Ân ,
Trần Bích Trà,
Hoàng Anh Tuấn,
M. Tolvanen-Ojutkangas,
Luisa Brumana ,
Mai Thu Hien,
Nguyen Ngoc Trieu,
Trưởng nhóm tư vấn,
Nghiên cứu viên cao cấp
Nghiên cứu viên
Nghiên cứu viên
thành cảm ơn các nhân viên y tế các cấp xã, huyện, tỉnh đã tham gia trả lời phỏng vấn. Nhóm nghiên
cứu chân thành biết ơn tất cả những người đã dành thời gian trả lời các câu hỏi một cách cởi mở và
chân thành.
Sau cùng, tất cả những lỗi và thiếu sót đều thuộc trách nhiệm của riêng cố vấn hướng dẫn.
5
Từ viết tắt
AIDS Hội chứng suy giảm miễn dịch
ARV Thuốc kháng virut
BCS Bao cao su
BLTQĐTD Bệnh lây truyền qua đường tình dục
BPTT Biện pháp tránh thai
BVH Bệnh viện huyện
BYT Bộ Y Tế
CDC Trung tâm phòng, chống dịch bệnh Hoa Kỳ
CLB Câu lạc bộ
GF Quỹ toàn cầu về phòng chống HIV/AIDS, lao và sốt rét
HIV Virut gây hội chứng suy giảm miễn dịch ở người
HNMD Hành nghề mại dâm
KHHĐQG Kế hoạch hành động quốc gia
KT-TĐ-HV Kiến thức, thái độ, hành vi
LIFE GAP Dự án Sự lãnh đạo và đầu tư chống lại dịch bệnh _chương trình AIDS toàn cầu
LTQĐTD Lây truyền qua đường tình dục
PEPFAR Quĩ cứu trợ khẩn cấp về AIDS của Tổng thống
PLTMC Phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con
QHTD Quan hệ tình dục
TCMT Tiêm chích ma tuý
TTYTDP Trung tâm y tế dự phòng
TTCSSKSS Trung tâm chăm sóc sức khoẻ sinh sản
TTGDTT Thông tin giáo dục truyền thông
C. Số liệu được thu thập ................................................................................................................................................
D. Phân tích số liệu ..........................................................................................................................................................
E. Hạn chế của nghiên cứu ...........................................................................................................................................
IV. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ....................................................................................................................................................
A. Kiến thức, thái độ, sức khỏe thông qua tìm hiểu về các hành vi và thói quen của phụ nữ có thai,
bạn tình của họ và các cặp vợ chồng và gia đình ...............................................................................................
1. Kiến thức và nhận thức về HIV , PLTMC và chăm sóc phụ nữ có thai ...............................................
2. Thái độ đối với các dịch vụ PLTMC ...........................................................................................................
3. Hành vi và thói quen đi khám sức khoẻ của các phụ nữ có thai và bạn tình của họ ...
B. Các yếu tố quyết định về hành vi và văn hóa ảnh hưởng đến sự tham gia của nam giới vào
PLTMC và SKSS> ..........................................................................................................................................................
1. Sự giao tiếp giữa hai vợ chồng ........................................................................................................................
2. Việc ra quyết định trong gia đình ................................................................................................................
3. Những mong muốn xung quanh vấn đề sinh con ....................................................................................
4. Những mong muốn của nam giới xung quanh việc mang thai và sinh con ...................................
5. Tiết lộ tình trạng mắc bệnh ...............................................................................................................................
6. Chung sống với HIV ..............................................................................................................................................
7. Hỗ trợ và ảnh hưởng của gia đình đối với việc ra quyết định ..............................................................
C. Các vấn đề về cung cấp dịch vụ sinh sản hiện có và những ảnh hưởng của nó đến sự tham gia
của nam giới ......................................................................................................................................................................
1. Tính bao phủ của các dịch vụ ........................................................................................................................
2. Xét nghiệm ............................................................................................................................................................
3. Thuốc dự phòng ARV .......................................................................................................................................
4. Chăm sóc trẻ sơ sinh ..........................................................................................................................................
C. Các yếu tố quyết định, các rào cản và cơ hội về hành vi và văn hóa để giúp nam giới tham gia
nhiều hơn vào PLTMC và SKSS>
1. Lý do chính cần lôi kéo sự tham gia của nam giới .................................................................................
2. Những rào cản đối với việc tham gia tích cực hơn của nam giới ......................................................
3. Những cơ hội cho việc tham gia tích cực hơn của nam giới .............................................................
8
Nghiên cứu này nhằm để:
Xác định kiến thức, thái độ, hành vi (KT-TĐ-HV) và thực tế tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức a.
khỏe của phụ nữ có thai, bạn tình của họ, các cặp vợ chồng và gia đình như là một đơn vị chủ
thể của hoạt động PLTMC trong bối cảnh rộng hơn về SKSS>, bao gồm cả dự phòng ban
đầu cho cặp vợ chồng trước và trong khi mang thai;
Xác định các yếu tố hành vi và văn hóa , các rào cản và cơ hội để nam giới tham gia nhiều hơn b.
vào PLTMC và SKSS>
Xác định việc cung cấp dịch vụ hiện nay, các dịch vụ này được gắn kết như thế nào để PLTMC c.
hiệu quả hơn (bao gồm dự phòng ban đầu cho cặp vợ chồng, phòng các bệnh lây truyền qua
đường tình dục (LTQĐTD) và thực hành nuôi dưỡng trẻ nhỏ), những khó khăn và thuận lợi để
nam giới/bạn tình tham gia vào các dịch vụ này.
Thiết kế nghiên cứu
Các số liệu được thu thập qua 115 cuộc thảo luận nhóm tập trung, phỏng vấn sâu và phỏng vấn
người cung cấp thông tin chính tại 6 quận của 3 tỉnh có tỷ lệ lây nhiễm cao ở Việt Nam là Quảng Ninh,
An Giang và TPHCM. Tại mỗi tỉnh đó, có 1 huyện đã có các dịch vụ PLTMC theo dự án của UNICEF và
1 huyện khác chưa có (nhưng có thể huyện này cũng đã có, nhưng do các tổ chức khác tài trợ). Các
số liệu được thu thập từ nam và nữ nhiễm HIV (một vài người trong số họ đã được nhận các dịch vụ
PLTMC), phụ nữ mang thai và bạn tình của họ (người hoặc chưa làm xét nghiệm HIV hoặc đã từng
làm nhưng có kết quả âm tính), thành viên gia đình, lãnh đạo địa phương và các cán bộ cung cấp
dịch vụ tại tỉnh, huyện và xã. Số liệu được phân tích và xử lý bằng phần mềm Nvivo.
Các phát hiện chính
Nhóm nghiên cứu đã khảo sát những yếu tố văn hoá-xã hội, sự giao tiếp trong gia đình, giao tiếp
giữa hai vợ chồng và vấn đề ra quyết định để xem liệu các vấn đề này có ảnh hưởng đến việc thai phụ
quyết định tiếp cận dịch vụ khám thai tại các thời điểm khác nhau trong thai kỳ và chấp nhận dịch vụ
PLTMC. Những yếu tố này cũng giúp đưa ra một nhận định rõ ràng về quyết định sinh đẻ, trò chuyện
về tình dục, tránh thai và chăm sóc sức khoẻ.
10
Sự tham gia của nam giới vào chương trình dự phòng lây truyền mẹ con ở Việt Nam
Kiến thức và nhận thức về lây nhiễm HIV của nam và nữ giới khá tốt nhưng kiến thức về PLTMC thì
còn tương đối hời hợt. Cả nam và nữ đều có thái độ rất tích cực đối với các hoạt động PLTMC cũng
lây nhiễm HIV trước khi có thai và cần đi làm xét nghiệm. Sự kỳ thị và phân biệt đối xử đối với những
người nhiễm HIV có thể là một nguyên nhân khiến nam giới hiếm khi nói cho vợ biết về những hành
vi nguy cơ và thậm chí cả về tình trạng nhiễm HIV của họ. Việc giấu giếm tình trạng nhiễm HIV với
vợ và người thân gia đình, việc mẹ chồng ủng hộ con trai cưới vợ mà không cho con dâu biết về tình
trạng nhiễm bệnh của con trai có thể được giải thích qua những chuẩn mực về xã hội và văn hóa
như vậy.
Các dịch vụ PLTMC ở Việt Nam đã tập trung mở rộng ở thành tố thứ 3 của quy trình tiếp cận toàn
diện, đó là dự phòng lây truyền từ mẹ nhiễm HIV sang trẻ sơ sinh. Nghiên cứu này cũng phát hiện
thấy cả nam và nữ giới, các gia đình và các nhân viên y tế đều gắn chương trình PLTMC với thành tố
thứ 3 và thậm chí hiểu đơn giản PLTMC được thực hiện qua hai hoạt động: nuôi con bằng thức ăn
thay thế và thuốc dự phòng ARV. Việc mở rộng và tăng cường về chiều sâu của chương trình PLTMC
cho nhân viên y tế cũng như cho cộng đồng là điều cần phải làm, đặc biệt khi nhìn vào khía cạnh
sự tham gia của nam giới. Nghiên cứu này khẳng định một lần nữa với các nhà quản lý, các nhà làm
11
Tóm tắt
chính sách và các nhân viên y tế rằng, không như các nơi khác trên thế giới, thực tế ở Việt Nam nam
giới hầu như không ngăn cản vợ mình làm xét nghiệm trong thời gian mang thai hay tiếp cận thuốc
dự phòng ARV và họ thậm chí có ít ảnh hưởng đến các quyết định nuôi con. Nghiên cứu này cũng
nhắc cho thấy chương trình PLTMC bao hàm ý nghĩa rộng hơn là chỉ đơn thuần bảo vệ trẻ sơ sinh
khỏi lây nhiễm.
Sự tham gia của nam giới trong vệc chăm sóc trẻ sơ sinh (CSSKSS) nổi lên như một vấn đề cần được
quan tâm. Việc ủng hộ phụ nữ nuôi dưỡng trẻ bằng một phương pháp duy nhất (bằng sữa bột hoặc
bú sữa mẹ) là rất cần thiết, đặc biệt khi việc nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ không phải là phương
pháp phổ biến trên thực tế, và khi việc nuôi con chỉ bằng sữa bột còn gặp nhiều khó khăn, và vô hình
chung sẽ dẫn đến kết quả các bà mẹ nuôi con bằng thức ăn hỗn hợp.
Khuyến nghị
Tiếp cận PLTMC toàn diện đòi hỏi phải có một chương trình tập trung vào cả 4 thành tố theo như
khuyến nghị của Liên hiệp quốc. Ở Việt Nam, nam giới có thể đóng vai trò quan trọng trong hai thành
tố đầu của chương trình PLTMC. Những khuyến nghị chung cho công tác truyền thông thay đổi hành
vi (TTTĐHV) và cung cấp dịch vụ đã được đưa ra, kèm theo một mô hình thử nghiệm dựa vào ba cấp
Kết luận
Nghiên cứu định tính cho thấy sự tham gia của nam giới trong việc ủng hộ vợ đi xét nghiệm HIV
trong dịch vụ chăm sóc thai sản định kỳ và tiếp cận các dịch vụ liên quan đến chăm sóc PLTMC là rất
hạn chế. Nghiên cứu cũng cho thấy cần nỗ lực tăng cường sự tham gia của nam giới vào thành tố 1
và 2 của các quy trình PLTMC toàn diện và đưa ra những lợi ích, lý do căn bản của việc làm này. Trong
khi Bộ y tế cố gắng mở rộng hoạt động PLTMC trên toàn quốc thì cũng nên áp dụng một cách có
hiệu quả những kiến nghị và những phát hiện liên quan đến vấn đề về tiếp cận, chất lượng chăm sóc,
quyền lợi của người bệnh và sau cùng là nhằm giảm tỷ lệ hiện nhiễm HIV ở phụ nữ và trẻ em.
13
Sự tham gia của nam giới vào chương trình dự phòng lây truyền mẹ con ở Việt Nam
I. Thông tin chung
(tham khảo phụ lục 1 để xem bài phê bình hoàn chỉnh)
A. Tình hình HIV/AIDS trên thế giới và tại Việt Nam
Ước tính trên thế giới hiện có khoảng 33,2 triệu người đang sống chung với HIV/AIDS, trong đó
khoảng 2,5 triệu trẻ em dưới 15 tuổi (UNAIDS/WHO 2007). Tỷ lệ nhiễm ở các quốc gia châu Á vẫn ở
mức độ thấp hơn so với các châu lục khác, nhưng do là các nước đông dân nên dù tỷ lệ lây nhiễm
thấp nhưng số lượng người sống chung với HIV/AIDS ở Châu Á lại rất cao (UNAIDS/WHO 2007 và
UNICEF Việt Nam 2006). Các hành vi nguy cơ cao như tiêm chích ma túy và quan hệ tình dục không
bảo vệ, chủ yếu là mại dâm, đang tiếp tục làm gia tăng đại dịch này ở châu Á (cùng tài liệu nêu trên).
Tuy nhiên những nỗ lực dự phòng chưa đủ để giải quyết hai vấn nạn này (cùng tài liệu nêu trên).
Nam giới có các hành vi nguy cơ cao cũng có thể đang là bạn tình lâu năm hoặc đã kết hôn, và theo
quan niệm xã hội thì có quyền quan hệ tình dục không dùng biện pháp bảo vệ với bạn tình hoặc vợ
(UNAIDS/WHO 2007 và BYT 2008a). Áp lực phải sinh con ở các nước châu Á rất cao, và vì vậy hầu hết
phụ nữ đều có thể có thai, do đó trẻ cũng có nguy cơ bị lây nhiễm từ người mẹ trong quá trình mang
thai, trong khi sinh hoặc khi bú mẹ (Oosterho 2008, Chương 1). Vì vậy, rất nhiều nước ở châu Á đang
chứng kiến sự lây lan HIV vượt ra khỏi các nhóm dễ bị ảnh hưởng như những người tiêm chích ma túy
(TCMT), người hành nghề mại dâm (HNMD), khách mua dâm và lan rộng ra ngoài xã hội, bao gồm cả
phụ nữ có thai và trẻ em (UNAIDS/WHO 2007 và UNICEF Việt Nam 2006).
Đại dịch ở Việt Nam hiện vẫn đang được cho là đại dịch tập trung, với tỷ lệ lây nhiễm cao trong nhóm
những người tiêm chích ma túy, quan hệ tình dục đồng giới nam, và người hành nghề mại dâm. Từ
mắc mới ra phạm vi các đối tượng rộng hơn, bao gồm cả nhóm bạn tình lâu năm của những nam
giới có các hành vi nguy cơ. Vì sinh con là một quan niệm văn hóa lâu đời đối với các cặp bạn tình lâu
năm, nên cả phụ nữ có thai và trẻ sơ sinh đều là những đối tượng dễ bị ảnh hưởng. Hiện tại, do tỷ lệ
làm xét nghiệm trong các nhóm nêu trên còn thấp cộng với các định kiến về giới tính, cần phải chú
trọng tới các nỗ lực PLTMC.
B. Các văn bản hướng dẫn quốc tế về PLTMC
Liên hợp quốc đã áp dụng phương pháp tiếp cận 4 thành tố để ngăn ngừa sự lây truyền từ mẹ sang
con (WHO 2007). Phương pháp tiếp cận 4 thành tố này nhằm bảo vệ và hỗ trợ sức khỏe cho cả mẹ và
con, và kết hợp cả dự phòng cơ bản cũng như PLTMC (WHO 2007).
Thành tố 1: Dự phòng lây truyền HIV cơ bản trong nhóm phụ nữ ở độ tuổi sinh đẻ
Thành tố 2: Dự phòng có thai ngoài ý muốn trong nhóm phụ nữ có HIV dương tính
Thành tố 3: Dự phòng lây nhiễm từ mẹ có HIV+ sang trẻ sơ sinh
Thành tố 4: Chăm sóc và hỗ trợ phụ nữ, trẻ em và các gia đình bị nhiễm hoặc bị ảnh
hưởng bởi HIV/AIDS
C. Chương trình Hành động quốc gia và các văn bản hướng dẫn
của Bộ Y tế:
Bộ Y tế Việt Nam đã soạn thảo một chương trình hành động quốc gia (2006 - 2010) để giải quyết vấn
đề PLTMC (BYT 2006). Chịu trách nhiệm thực hiện ở cấp trung ương là Cục Phòng chống AIDS Việt
Nam và Vụ Sức khỏe sinh sản.
Mục tiêu tổng thể của chương trình hành động quốc gia của BYT là giảm tỷ lệ lây truyền HIV từ mẹ
sang con xuống dưới 10% cho đến năm 2010 (cùng tài liệu nêu trên). Các mục tiêu cụ thể là đảm bảo
tỷ lệ lây nhiễm trong nhóm phụ nữ có thai ở mức thấp hơn 0,5%, 90% phụ nữ có thai được tư vấn,
60% làm xét nghiệm, 100% phụ nữ có HIV đã đăng ký khám và con của họ được điều trị dự phòng và
90% được chăm sóc sau khi sinh và tiếp tục được theo dõi (cùng tài liệu nêu trên).
Chương trìnhhành động này bao gồm các hoạt động xã hội, hỗ trợ kỹ thuật, và các hoạt động tổ
chức/quản lý. Trách nhiệm thuộc về các cấp khác nhau, như các bệnh viện tỉnh, các trạm y tế quận
huyện, và các trạm y tế xã, cũng như các vụ và các đơn vị hành chính đã được nêu tên. Chương trình
hành động này nêu rõ các dịch vụ PLTMC sẽ được mở rộng ra tất cả 64 tỉnh thành trong thời gian từ
2008-2010.
D. Các vấn đề về giới ở Việt Nam và những mối liên hệ tiềm tàng
vậy họ có thể đóng vai trò tích cực trong việc mang thai và sinh nở, đặc biệt đối với những phụ nữ
trẻ, lần đầu tiên làm mẹ (cùng tài liệu nêu trên). Tư tưởng thích có con trai, đặc biệt là ở một số vùng
quê hiện vẫn còn rất phổ biến— vì theo truyền thống nho giáo, cần phải có con trai để duy trì dòng
họ (Oosterho, trên báo Văn hóa, Sức khỏe và Giới tính). Các quyết định về khả năng sinh sản được
nhìn nhận tùy từng bối cảnh văn hóa xã hội, trong đó các quan điểm và áp lực của toàn bộ gia đình
có ảnh hưởng rất mạnh mẽ.
Oosterho cho thấy một áp lực rất lớn, kèm theo các nền tảng văn hóa và sức ép từ phía gia đình
buộc người phụ nữ phải có con. Bà nhấn mạnh rằng là một người mẹ sẽ nâng cao vị thế của một
cuộc hôn nhân, và rằng một cặp vợ chồng đã kết hôn nếu không có con thì sẽ không có hạnh phúc
trọn vẹn (cùng tài liệu nêu trên). Khuynh hướng thích con trai rất mạnh mẽ, và trong trường hợp
người chồng là người con trai duy nhất trong gia đình, thì áp lực phải có con càng lớn (cùng tài liệu
nêu trên). Động cơ thúc đẩy trong những trường hợp như vậy thường là mong ước sớm có một đứa
cháu trai để nối dõi tông đường. Luận cương của bà cũng chỉ ra một số ví dụ về những đứa con trai
là những người sử dụng ma túy, thậm chí đã biết về tình trạng nhiễm HIV, nhưng vẫn được gia đình
khuyến khích kết hôn, với hy vọng là sẽ “ngay lập tức” sinh ra một đứa con trai, và đôi khi là mong
muốn để có một đứa cháu nội. Những người phụ nữ bị ràng buộc bởi các cuộc hôn nhân này có thể
không được biết về tình trạng HIV của chồng họ, và sẽ quan hệ tình dục với chồng mà không dùng
biện pháp bảo vệ. Thậm chí sau khi biết về tình trạng HIV của chồng, họ có thể vẫn quyết định có
thai vì những định kiến gia đình, văn hóa và xã hội xoay quanh việc kết hôn và sinh con (cùng tài liệu
nêu trên).
Trong khi khó có thể rút ra được các kết luận chung về hành vi tình dục của các cặp vợ chồng, thì việc
đàn ông đã có vợ có quan hệ với gái mại dâm là chuyện rất bình thường – một số người có thể rất ít
khi làm chuyện này, trong khi những người khác lại là khách hàng thường xuyên (Trần Đức Hòa và
nhóm nghiên cứu, 2007). Những lần quan hệ với gái mại dâm thường là đi cùng với bạn bè là nam
giới, hoặc với các nam đồng nghiệp trong những lần đi giao dịch công việc (cùng tài liệu nêu trên).
Trong những trường hợp như vậy, ngoài việc quan hệ với gái mại dâm, những người đàn ông này
16
Sự tham gia của nam giới vào chương trình dự phòng lây truyền mẹ con ở Việt Nam
thường uống rượu. Những người đàn ông này thú nhận rằng rất khó từ chối những lời mời như vậy.
Và không chắc rằng họ có luôn sử dụng bao cao su trong những lần quan hệ như vậy hay không vì
III. Phương pháp và Thiết kế nghiên cứu
Nhóm nghiên cứu bao gồm một chuyên gia tư vấn quốc tế, một nghiên cứu viên cao cấp và 4 nghiên
cứu viên người Việt Nam (hai nam và hai nữ). Bốn nghiên cứu viên này được chia thành 2 nhóm – một
nhóm đi Quảng Ninh và nhóm kia đi thực hiện nghiên cứu ở 2 tỉnh phía Nam. BYT và UNICEF hỗ trợ
về mặt kỹ thuật, giám sát và hậu cần cho các nhóm.
17
Sự tham gia của nam giới vào chương trình dự phòng lây truyền mẹ con ở Việt Nam
A. Các khu vực thu thập số liệu
Vì đại dịch ở Việt Nam là đại dịch tập trung nên một số tỉnh thành có tỷ lệ lây nhiễm cao hơn các tỉnh
thành khác. Các dịch vụ HIV/AIDS nói chung, và các dịch vụ PLTMC nói riêng thường được cung cấp
tại các quận huyện trọng điểm tại các tỉnh thành có tỷ lệ lây nhiễm cao (xem phụ lục 3 về bản đồ các
địa điểm có chương trình PLTMC thông qua dự án do UNICEF hỗ trợ). Nghiên cứu này tập trung
thu thập số liệu từ ba tỉnh thành có nguy cơ cao nhưng rất khác nhau nhằm đưa ra một nhìn nhận
chính xác hơn về các vấn đề và những mối liên quan. Vì các dịch vụ PLTMC không được cung cấp tại
tất cả các quận huyện của 3 tỉnh có nguy cơ cao này, nên việc chọn mẫu được thực hiện tại cả các
quận huyện có dịch vụ và các quận huyện không có dịch vụ.
Các tỉnh thành này bao gồm tỉnh Quảng Ninh ở miền Bắc, là tỉnh có tỷ lệ nhiễm HIV cao, chủ yếu do
sử dụng ma túy. Mặc dù tỉnh có cả các khu vực đô thị và nông thôn, các số liệu ở tỉnh này chủ yếu tập
trung ở các khu vực cận đô thị và vùng nông thôn. Địa điểm thứ hai là T.P Hồ Chí Minh, một thành
phố chủ yếu là đô thị, là nơi đại dịch gia tăng do ma túy và mại dâm, và cũng do tình trạng nhập cư.
Tỉnh thứ ba là An Giang, giáp với biên giới Cam-pu-chia, là nơi có đại dịch gia tăng do ma túy và mại
dâm, và cả do tình trạng lao động nhập cư và mại dâm qua biên giới. Ba tỉnh thành này rất khác nhau
về văn hóa và kinh tế- xã hội và vì vậy, việc ra quyết định trong gia đình, thái độ trong gia đình, và các
mối quan hệ vợ chồng cũng có thể rất khác nhau.
Các số liệu được thu thập ở tổng cộng 6 quận, huyện. Sáu quận huyện này bao gồm 3 quận, huyện
đã cung cấp các dịch vụ PLTMC kể từ năm 2005 và 3 quận huyện còn lại chưa hề được cung cấp bất
kỳ một dịch vụ PLTMC nào. Việc so sánh giữa các địa bàn đã có và chưa có các dịch vụ PLTMC rất có
ích trong việc xác định các mức độ nhận thức về PLTMC và sự cởi mở trong việc trao đổi về các vấn
đề có liên quan đến HIV.
B. Các phương pháp nghiên cứu:
12 cuộc phỏng vấn /thảo luận nhóm với phụ nữ mang thai chưa bao giờ làm xét nghiệm HIV •
hoặc đã từng làm xét nghiệm nhưng có kết quả âm tính
13 cuộc phỏng vấn /thảo luận nhóm với chồng/bạn tình của những phụ nữ này•
11 cuộc phỏng vấn /thảo luận nhóm với các thành viên trong gia đình của các nam giới/nữ •
giới nhiễm HIV
5 cuộc phỏng vấn /thảo luận nhóm với các thành viên trong cộng đồng có con dâu/con gái •
đang có thai
Rất may mắn, nhóm nghiên cứu đã phỏng vấn được một nhóm phụ nữ có thai, tất cả các ông chồng
và bố mẹ chồng của họ. Việc này không phải lúc nào cũng có thể thực hiện được, vì các ông chồng
của họ phải đi làm, hoặc bố mẹ chồng sống ở xa. Vì vậy, trong một 2-3 cuộc phỏng vấn khác, nhóm
chỉ phỏng vấn được một số các ông chồng/bạn tình hoặc mẹ đẻ/mẹ chồng của những phụ nữ có
tham gia vào cuộc thảo luận nhóm. Ở TP. HCM, vì khó tiến hành phỏng vấn những người có liên quan
với nhau, nên trong một số trường hợp nhóm đã tiến hành phỏng vấn những nam và nữ giới nhiễm
HIV và mẹ đẻ/mẹ chồng của những người nhiễm HIV nhưng họ không hề có quan hệ gì với nhau.
Cuộc phỏng vấn được ghi âm và gỡ băng ra bằng tiếng Việt. Sau đó các đoạn băng này được dịch
sang tiếng Anh. Sau khi đã hoàn tất việc thu thập số liệu, chuyên gia tư vấn quốc tế gặp riêng từng
cá nhân nghiên cứu viên để làm rõ nội dung của cuộc phỏng vấn, trao đổi về những ấn tượng ban
đầu và kiểm tra các quá trình thu thập số liệu.
D. Phân tích
Sau khi đã gỡ băng và dịch sang tiếng Anh, một cuộc họp tổng kết đã được tổ chức giữa nhóm
nghiên cứu, BYT và UNICEF để cùng phân tích các kết quả thu được. Các số liệu được nhập vào phần
mềm NVivo và được mã hóa, sau đó được sắp xếp theo các dòng điều tra thông tin đã được phát
triển. Các mối liên hệ và các yếu tố gia đình chính có ảnh hưởng tới việc chấp nhận và sử dụng các
dịch vụ PLTMC cũng được hình thành.
Trưởng nhóm nghiên cứu đã lập dự thảo báo cáo, dựa trên các cuộc thảo luận với các nghiên cứu
viên, các báo cáo tóm tắt của các nghiên cứu viên và bản phân tích bằng chương trình NVivo. Dự
thảo báo cáo này đã được chia xẻ và chỉnh sửa dựa trên các ý kiến nhận xét của các nghiên cứu
viên, BYT, UNICEF và các tổ chức quốc tế khác. Các mô hình và đề xuất được phát triển tại cuộc hội
thảo sau khi dự thảo báo cáo được trình bày, trong đó có sự tham dự của các đại diện từ các tổ chức
UNFPA, WHO và các tổ chức quốc tế khác.
Sự tham gia của nam giới vào chương trình dự phòng lây truyền mẹ con ở Việt Nam
Các phát hiện chính
Năm loại câu hỏi được phát triển để dùng trong
nghiên cứu này là:
Sự hiểu biết về HIV trong các thành viên 1.
trong cộng đồng là gì? Phụ nữ có thai,
bạn tình và gia đình của họ nhận thức thế
nào về HIV?
Vai trò của nam giới trong quá trình 2.
mang thai, khi sinh và sau khi sinh là gì?
Tình trạng HIV có ảnh hưởng như thế nào
đối với vai trò này? Mối quan hệ giữa tình
trạng HIV và có con là gì? Nam giới và phụ
nữ cảm thấy thế nào về mối quan hệ này?
Họ thông tin cho nhau về vấn đề này
bằng cách nào?
Các quyết định về việc chăm sóc và hỗ 3.
trợ trong khi mang thai, trong lúc sinh
và sau khi sinh được thực hiện như thế
nào? Tình trạng HIV (đã biết rõ, còn nghi
ngờ, không biết) có ảnh hưởng gì tới các
quyết định này? Ai là người có ảnh hưởng
tới các quyết định đó và ảnh hưởng như
thế nào? Nam giới có quan điểm và cảm
nhận gì về những quyết định này và sự
tham gia của họ vào những quyết định
đó?
Sự hiểu biết và quan điểm về các dịch vụ 4.
sẵn có cho phụ nữ mang thai có nguy cơ/
đã nhiễm HIV? Nam giới có thể tham gia
Vai trò và ảnh hưởng của các thành •
viên trong gia đình đối với việc ra các quyết
định:
Vấn đề này có vẻ mạnh mẽ hơn ở Quảng Ninh
so với hai tỉnh thành ở trong Nam. Nhóm nghiên
cứu cảm thấy một phần là do các cặp vợ chồng ở
các tỉnh trong Nam có thể sống tương đối xa gia
đình của họ, đôi khi là do nhu cầu việc làm. Ngoài
ra còn có một cảm nhận khác là nhìn chung các
cặp vợ chồng trong Nam sống độc lập hơn, họ
thường có khuynh hướng giữ khoảng cách với
hàng xóm, với cộng đồng và các thành viên trong
gia đình họ và vợ chồng thường sống dựa vào
nhau nhiều hơn.
Sự gần gũi giữa các cặp vợ chồng •
nhiễm HIV:
Nghiên cứu này cũng phát hiện thấy nhiều trường
hợp tại các tỉnh trong Nam, các cặp vợ chồng
trở nên gần gũi với nhau hơn sau khi biết được
tình trạng HIV của họ, hoặc duy trì được sự gần
gũi giữa hai vợ chồng. Ở Quảng Ninh, các cặp vợ
chồng nhiễm HIV khi được phỏng vấn đã bày tỏ
sự buồn bã và thất vọng nhiều hơn, đặc biệt là
trong các trường hợp khi mà người vợ không biết
gì về tình trạng HIV của chồng mình. Ở An Giang
và TP HCM, các cặp vợ chồng nhiễm HIV nói rằng
họ sống dựa vào sự hỗ trợ lẫn nhau là chính và
cùng trao đổi về tương lai và cuộc sống của con
cái họ. Có những ví dụ về sự lo ngai và quan tâm
của những người chồng.
Như nhiều nghiên cứu khác tại Việt Nam, nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng phụ nữ và nam giới có
kiến thức khá tốt về lây truyền HIV và họ đều nhận thức được rằng bao cao su (BCS) có thể bảo vệ
họ không bị lây nhiễm. Kiến thức về HIV và các đường lây truyền chính đã được phổ cập. Trong số 76
cuộc phỏng vấn và thảo luận nhóm tập trung được tiến hành với những người dân trong cộng đồng,
tất cả mọi người tham gia trả lời phỏng vấn đều đã nghe nói về HIV, và thường có thể liệt kê 3 đường
lây truyền chính. Chỉ một số ít trường hợp, người trả lời phỏng vấn chỉ biết có 2 đường lây truyền.
Mặc dù kiến thức tổng thể về lây truyền HIV, trong đó có lây truyền mẹ con, của cả nam và nữ giới,
người nhiễm và không nhiễm HIV đều khá tốt, nhưng vẫn còn tồn tại những hiểu nhầm về sự lây
truyền. Những điều này cho thấy vẫn còn sự sợ hãi, lo ngại lây nhiễm HIV, cũng như sự kỳ thị liên
quan đến HIV. Tuy nhiên, khi được hỏi về những hoạt động nào là có nguy cơ, thì sự hiểu biết của
mọi người rất khác nhau. Một số câu trả lời cho thấy họ hiểu nhầm, khi nghĩ rằng việc dùng chung
dụng cụ để cắt tóc hoặc cắt móng chân/móng tay, giặt chung quần áo, dùng chung bàn chải đánh
răng, khăn mặt và xà phòng và cả việc ăn uống cùng nhau, dùng chung bát và đũa là có nguy cơ bị
lây nhiễm.
“Tôi biết một người bị nhiễm HIV nên thỉnh thoảng tôi tránh xa họ, vì cũng có thể có nguy cơ. •
Đi cạo râu hoặc lấy ráy tai cũng có thể có nguy cơ. Nếu dùng chung mọi thứ với những người
nhiễm, chúng ta cũng sẽ bị nhiễm. Theo tôi biết thì HIV không thể bị lây truyền do muỗi đốt.
Đi cạo râu và cắt móng tay cũng có thể nguy hiểm nên tôi mua đồ riêng và sử dụng ở nhà
(cười).” Bạn tình nam của một phụ nữ có thai, Tân Châu, An Giang
“…qua đường máu, quan hệ tình dục, tiếp xúc với máu và bị nhiễm, chơi bời trác táng, tiêm •
chích ma túy, quan hệ tình dục bừa bãi, dùng chung dao cạo râu, bàn chải đánh răng, xà
phòng .” Thành viên trong gia đình của người nhiễm, Tân Châu, An Giang
b. Phòng lây truyền mẹ con
Mặt khác, kiến thức về PLTMC, đặc biệt là của nam giới còn rất khiêm tốn, thậm chí ở cả những
địa phương đã được tiếp nhận các dịch vụ PLTMC. Mặc dù nhiều nam giới cho rằng các quyết định
22
Sự tham gia của nam giới vào chương trình dự phòng lây truyền mẹ con ở Việt Nam
về sức khoẻ sinh sản nên dành cho phụ nữ nhưng họ vẫn rất quan tâm về tương lai của con cái họ và
luôn muốn tìm hiểu các biện pháp để bảo vệ vợ, con mình.
“Em lấy chồng năm 22 tuổi, 23 tuổi có con, và góa chồng năm 25 tuổi. Chồng em làm việc ở •
Một số ông chồng có quan tâm, nhưng những người khác thì chẳng quan tâm gì hết. Một •
số là do đi làm về mệt, những người khác thì đi nhậu nhẹt – nên chẳng quan tâm gì cả.” Một
thành viên trong gia đình,Tân Châu, An Giang
“Đối với một số cặp vợ chồng, người vợ thông báo cho chồng mình rằng hôm nay họ sẽ đi •
khám thai hoặc hỏi ý kiến chồng về việc đi làm xét nghiệm nhưng những người khác thì
không vì ở nơi họ ở hầu hết nam giới phải đi làm từ sáng sớm đến tận khuya mới về, vì thế
những người vợ tự quyết định và sau đó thông báo cho chồng họ biết kết quả. Hơn nữa,
những người chồng cũng không mấy quan tâm về những vấn đề này”. Một nam giới nhiễm
HIV, Tân Châu, An Giang
23
Sự tham gia của nam giới vào chương trình dự phòng lây truyền mẹ con ở Việt Nam
A.2. Thái độ đối với chương trình PLTMC
a. Thái độ đối với việc sử dụng BCS nếu nhiễm HIV
Nghiên cứu cho thấy trong số các cặp nhiễm HIV, nhiều cặp nói rằng họ sử dụng BCS khi biết là họ
bị nhiễm HIV. Thái độ về việc sử dụng BCS nhìn chung rất tích cực, tuy nhiên nam giới nói rằng họ
không đạt khoái cảm như trước đây. Sử dụng BCS để phòng tránh lây nhiễm và tránh thai khi một
người bị nhiễm HIV cũng được một số cặp vợ chồng thực hiện thường xuyên.
“Khi em biết là em bị nhiễm, em bảo chồng em dùng BCS để phòng tránh những điều xấu và •
anh ấy nghe theo.” Một phụ nữ nhiễm HIV , Quận 6, TP. HCM
“Sau khi kết hôn, tôi vẫn luôn dùng BCS cho đến tận bây giờ, tôi đã khuyên cô ấy đi làm xét •
nghiệm rất nhiều lần, cuối cùng thì cô ấy cũng đi xét nghiệm và kết quả là âm tính.” Một nam
giới nhiễm HIV, Yên Hưng, Quảng Ninh
b. Thái độ về việc sinh con nếu nhiễm HIV
Nghiên cứu thấy cả nam và nữ giới nhiễm HIV đều cho rằng các cặp vợ chồng nhiễm HIV không
nên sinh con. Điều này trái ngược với thực tế, khi rất nhiều cặp vợ chồng nhiễm HIV vẫn có con.
Trong nhiều trường hợp, người phụ nữ phát hiện ra tình trạng của họ trong khi mang thai. Dựa vào
những thông tin cả nam và nữ giới đều cho rằng các cặp vợ chồng nhiễm HIV không nên sinh con,
một câu hỏi được đặt ra là liệu các cặp vợ chồng có thay đổi quyết định về việc sinh con hay
không nếu họ biết được tình trạng nhiễm HIV của họ trước khi có thai
Một vài phụ nữ nhiễm HIV khẳng định rõ rằng họ không muốn sinh con vì tình trạng nhiễm bệnh
Hầu hết nam giới, nữ giới và các thành viên trong gia đình đều rất ủng hộ việc làm xét nghiệm trong
khi mang thai.
“Đa số các ông chồng ủng hộ làm xét nghiệm HIV. Nhưng chúng tôi chỉ làm xét nghiệm HIV •
cùng với các xét nghiệm khác khi chúng tôi có thai chứ không làm xét nghiệm HIV riêng vào
những thời điểm khác vì chồng sẽ nghĩ là chúng tôi không tin tưởng họ.” Phụ nữ có thai , Uông
Bí, Quảng Ninh
“Tôi nghĩ là mọi người đều cần làm xét nghiệm HIV, vì như vậy chúng ta sẽ biết là bản thân •
mình có nhiễm hay không. Tất cả phụ nữ có thai đều nên làm xét nghiệm để biết cách phòng
tránh cho con họ.” Một phụ nữ nhiễm HIV, Uông Bí, Quảng Ninh.
Có lẽ phát hiện bất ngờ nhất trong cuộc nghiên cứu này là những người phụ nữ thể hiện sự tự chủ
trong việc tự quyết định làm xét nghiệm HIV trong thời kỳ mang thai. Bằng việc đưa xét nghiệm HIV
vào thành một phần của chăm sóc thai sản, hoạt động này được đón nhận như một phần của loạt
dịch vụ mọi người phải làm trong thời gian mang thai, và có rất ít sự kỳ thị đối với hoạt động này. Hơn
nữa, việc đưa xét nghiệm HIV vào thành một phần của hoạt động chăm sóc thai sản đã giúp điều này
nằm trong quyền quyết định của phụ nữ, có nghĩa là phụ nữ có thể quyết định có hoặc không làm
xét nghiệm. Cuộc nghiên cứu này mạnh dạn khuyến nghị rằng hầu hết các ông chồng và thành viên
trong gia đình nên ủng hộ việc làm xét nghiệm thường xuyên trong những lần khám thai hơn tư vấn
xét nghiệm HIV tự nguyện riêng biệt cho phụ nữ mang thai.
“Đối với một số cặp vợ chồng, người vợ thường thông báo cho chồng mình rằng hôm nay •
họ sẽ đi khám thai hoặc hỏi ý kiến chồng về việc làm xét nghiệm, nhưng nhiều người khác
thì không, vì ở nơi họ ở hầu hết nam giới phải đi làm từ sáng sớm đến tận khuya mới về, do
vậy người vợ tự quyết định và sau đó thông báo cho chồng họ biết kết quả. Hơn nữa, những
người chồng cũng không mấy quan tâm về những vấn đề này”. Một nam giới nhiễm HIV, Tân
Thái độ đối với việc chăm sóc trẻ sơ sinh
Tất cả các bà mẹ rất có ý thức bảo vệ sức khỏe cho con họ và nói rằng họ làm theo đúng hướng dẫn
của bác sĩ. Họ đều biết là cần phải làm theo đúng hướng dẫn của bác sĩ để có lợi và bảo vệ sức khỏe
cho con của họ. Cả nam giới và nữ giới đều chấp nhận hình thức nuôi con bằng thức ăn thay thế tuy
nhiên họ gặp phải một vài khó khăn về chi phí cho hình thức nuôi con này. Các thành viên trong gia
đình cũng chấp nhận hình thức nuôi con bằng thức ăn thay thế.
A.3. Hành vi và thực tế tìm kiếm dịch vụ y tế của phụ nữ có thai và bạn
sinh hoặc khi sinh tại các cơ sở y tế. Những quyết định như vậy thường bị ảnh người chồng và gia
đình tác động mạnh. Các quyết định về sử dụng biện pháp tránh thai (BPTT) được thảo luận giữa
vợ và chồng, đặc biệt khi quyết định bắt đầu hay ngừng sử dụng BPTT để quyết định có hay không
sinh con.
“Chúng tôi ít khi nói về chuyện đó (tình dục và những vấn đề có liên quan như tránh thai) •
nhưng trước khi có con chúng tôi có nói chuyện với nhau về chuyện đó, khi chúng tôi muốn
có con, chúng tôi thôi không nói chuyện đó nữa (tránh thai).” Chồng của một phụ nữ có
thai,Tân Châu, An Giang
Các cặp vợ chồng có thể có hoặc không trao đổi về các bệnh lây truyền qua đường tình dục (LTQĐTD).
Nhưng thường thì nam giới không thảo luận với vợ về vấn đề này do sợ bị quy kết là không chung
thủy. Ngược lại, họ thường thảo luận với bạn bè nhiều hơn, kể cả những lo lắng làm thế nào mà bị
nhiễm bệnh. Họ có thể tự mua thuốc chữa hoặc đi đến bác sỹ. Một số nam giới cũng nói rằng họ cảm
thấy thoải mái khi nói với vợ về chủ đề SKTD, phần lớn nói rằng đây vẫn là chủ đề kiêng kỵ. Thảo luận
về SKTD cũng liên quan đến các vấn đề tiết lộ trình trạng nhiễ HIV hoặc quyết định đi xét nghiệm
cho cả hai.
“Ví dụ, khi tôi có QHTD với gái mại dâm mà tôi không rõ về vấn đề lây truyền qua đường tình •
dục, tôi nói với bạn tôi rằng tôi đã ngủ với gái mại dâm và đã không dùng BCS tuy nhiên tôi
đã xuất tinh ra ngoài mà không xuất tinh vào trong. Vậy thì liệu tôi có bị nhiễm không? Đại
loại là thế ” Chồng của một phụ nữ mang thai, Tân Châu, An Giang
“Những chuyện riêng tư liên quan đến tình dục thì đàn ông thường hay tâm sự với bạn bè, •
sau đó nếu không tìm ra giải pháp, họ sẽ về tâm sự với vợ. Họ không bao giờ tâm sự ngay
với vợ về vấn đề của họ. Giải pháp cuối cùng là họ sẽ đi khám bác sĩ hoặc tự mua thuốc về
để uống. Tôi cho rằng như thế là không đúng lắm, nhưng bản chất đàn ông vốn là vậy.” Hội
Nông dân, Tân Châu, An Giang