Khuynh hướng đề cao tính chân thực và tình cảm tự nhiên trong quan niệm văn học thế kỉ XVIII-XIX doc - Pdf 19

Khuynh hướng đề cao tính
chân thực và tình cảm tự
nhiên trong quan niệm văn
học thế kỉ XVIII-XIX
Nói chung các nhà văn trong thời kỳ này, ở những mức độ và khía cạnh khác
nhau đều thấy được mối quan hệ gắn bó giữa văn chương với hiện thực. Ngô Thì Sỹ
nói: “Văn chương có quan hệ với vận đời” (Thượng tứ điều khải). Ngô Thì Nhậm
cũng cho rằng: “Làm thơ phải gửi tâm tình vào sự vật” (Bàn thơ cùng Phan Huy
Ích). Nhữ Bá Sỹ thì có phần nhấn mạnh hơn: “Văn chương là cái hiện trạng của một
thời làm nên nó” (Phi điểu nguyên âm). Phan Huy Chú chủ trương nhà văn phải đi
sâu tìm hiểu cuộc sống: “Văn tức là lẽ phải của sự vật xưa nay, cốt yếu của điển lễ
nhà nước. Kẻ học giả ngoài việc đọc kinh sử, còn phải xét hỏi sâu rộng, tìm kiếm xa
gần, khảo cứu để định lấy lẽ phải thế mới đáng là người học rộng, có phải chỉ nhặt
lấy từng câu, từng đoạn, nặn ra thành lời văn hoa mà gọi là văn đâu”
(6)
.
Đỗ Kiêm Thiện cho rằng văn chương phải phản ánh chân thực cuộc sống,
không nên quá tô vẽ: “Trong cái “đẹp” phải chứa đựng “sự đòi hỏi”. Người vịnh thơ
đời Tống viết: “Trời đất hết thảy một mùa xuân” hay “điềm lành, tin tốt tới luôn
luôn”. Viết như vậy, họ không biết rằng họ chỉ xô đẩy vua họ tới chỗ kiêu dật, mà
không biết đòi hỏi vua họ ở “chỗ ưu cần”
(7)
.
Rải rác đó đây trong những sáng tác của nhà văn ở giai đoạn này đã ẩn chứa
những ý kiến thể hiện một quan niệm văn chương phản ánh cuộc sống. Tuy nhiên
đây chưa phải là những ý kiến phát biểu dưới dạng văn nghị luận sản phẩm của tư
duy logic, mà chỉ là những câu văn, câu thơ nói lên những quan niệm văn học.
Đặc biệt về giá trị hiện thực trong Truyện Kiều cũng được nhận thức một cách

bỏ sách chẳng thèm ngó tới, bàn luận dông dài, ngày ngày đem những lời bàn cũ
rích, chắp nhặt thành văn. Tuy họ biết rõ là vô nghĩa lý, nhưng cứ theo bừa để mua
chuộc thói đời Cũng có bọn người, tự biết mình không khuất phục được ai, thì cố
nặn ra loại văn bí hiểm, quái dị, để che giấu cái học thô mãng nông cạn của mình,
mà còn làm ngu dốt những người đồng loại. Lúc đầu thì bọn ngu tin theo, sau đó thì
kẻ trí cũng bị mê hoặc. Cái hại còn quá quắt hơn các loại văn của bọn người không
đọc sách lúc bấy giờ”
(12)
.
Đề cao chức năng nhận thức, phản ánh của văn học các nhà văn cũng chú trọng
đến đối tượng của nhận thức văn học. Trong nền văn học trung đại nước ta thể loại thơ
là phát triển hơn cả. Chính vì vậy khi nói đến đối tượng nhận thức của văn học là nói
đến đối tượng của nhận thức thơ. Lê Quý Đôn đã đề cập đến ba đối tượng của nhận
thức chính là tình, cảnh và sự. Ông viết: “Ta thường làm thơ có ba điểm chính, một là
tình, hai là cảnh, ba là sự” và ông giải thích “Tình là người, cảnh là trời, hai là cảnh, ba
là sự” và ông giải thích “Tình là người, cảnh là trời, sự là hợp cả trời đất mà quán
thông. Lấy tình than cảnh, lấy cảnh hội việc, góp việc mà phát ra lời nói, nhân nói
thành tiếng. Cảnh không hẹn mà tự đến, nói không mong mà tự hay, cứ như thế có thể
lên đến bậc thơ tao nhã được” (Văn nghệ - Vân đài loại ngữ). Đề cao tình cảm tự
nhiên, Lê Quý Đôn đề cao cái gốc tình cảm của sáng tác văn nghệ. Ông đã chú ý đến
sự thống nhất biện chứng giữa chủ thể và khách thể trong một trạng thái cảm xúc dồi
dào.
Những tình cảm mãnh liệt thắm thiết cũng đã trở thành đối tượng của thơ văn.
Trong Đáp Hải phái đoàn hầu, Ngô Thời Nhậm viết: “Tình cảm dồi dào, thì thơ nảy
sinh. Hoặc là tình nam nữ thương nhau. Hoặc là tình vợ chồng nhớ nhau Niềm vui
thích của ta ở triều chính, thì ta cùng triều chính có cái tình nam nữ. Nỗi nhớ mong
của ta là ở ruộng vườn, thì ta cùng ruộng vườn có cái tình vợ chồng”
(13)
.
Đối tượng của thơ ca là cuộc sống xã hội, những xúc cảm của nhà thơ đều do

(16)
.
Về đặc trưng của văn học, vấn đề hình thức và nội dung của tác phẩm văn
chương đã được các học giả thời kỳ này quan tâm. Với ý thức coi trọng tính thiết
thực của văn học, các học giả cho rằng trong tác phẩm văn chương, nội dung bao
giờ cũng giữ vai trò quyết định chủ đạo. Trong Lê triều thông sử, Lê Quý Đôn có
viết: “Phải viết có nội dung thì văn chương thịnh, không như thế thì suy. Điều này
là một phương thuốc hay một luật lệ, mọi người theo thì không sai mảy may”
(17)
.
Hình thức phải xuất phát từ nội dung và phục vụ nội dung. Bùi Dương Lịch
viết: “Do tình sinh ý, do ý sinh chữ, bởi cái này mà có cái kia” (Bạt Thu Dương
lục). Nguyễn Đức Đạt cũng viết: “Lý thấu suốt, thì văn kỳ lạ” (Nam Sơn tùng
thoại). Ngô Thời Chí thì khẳng định: “Nói chung văn chương là dòng của nghĩa lý,
nghĩa lý là nguồn của văn chương, cho nên nguồn tắc thì dòng phân ly” (Lời bình
bài phú Mơ Thiên Thai).
Coi trọng tính thiết thực của văn học, chống lại thói trau chuốt hình thức
thuần túy, Vũ Khâm Lân đã lên án cách “đua nhau theo đòi cái ngọn từ chương, tỉa
tách chạm trổ, hết mực xa hoa: “Kỳ dị thay cái gọi là văn chương thời bây giờ. Họ
chỉ bo bo đi tìm kiếm những lời cũ kỹ trên mặt giấy, chắp vá, bớt thêm để đi tới
cái thể đối ngẫu, mà không có cái hay của việc vận ý tìm lời. Với nghị luận thì
không đủ phù hợp nhân tình, thỏa đáng vật lý. Với phép tắc thì ngày càng rơi vào
hư phù lả lướt. Đúng như trò bôi son trát phấn, để mua vui cho người đời chốc lát,
mà người hiểu biết đã sớm hay là nó không thỏa đáng với sự việc trong đời”
(18)
.
Tóm lại, quan niệm văn học thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX đã có sự chuyển
biến về bản chất so với các giai đoạn trước đó. Sự xuất hiện với tư cách là các thể
loại mới như truyện thơ nôm, ngâm khúc, v.v ở giai đoạn này đã thể hiện sự phát
triển của thể loại văn học, một trong những chỉnh thể chủ yếu của văn học. Truyện


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status