VIỆT NAM TRÊN CON ĐƯỜNG ĐỔI MỚI
ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI (1986 - 2000)
- Thành tựu thứ năm là phát triển mạnh mẽ quan hệ đối ngoại, phá thế bị
bao vây cấm vận, tham gia tích cực vào đời sống cộng đồng quốc tế
Trong 5 năm 1991 - 1995, chúng ta đã triển khai tích cực và năng động
đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, đa phương hoá, đa dạng hoá; khôi
phục và mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác nhiều mặt với Trung Quốc;
tăng cường quan hệ hữu nghị, đoàn kết đặc biệt với Lào; xây dựng quan
hệ tốt với Campuchia; phát triển quan hệ với các nước trong khu vực.
Nước ta trở thành thành viên của tổ chức ASEAN (7-1995), củng cố
quan hệ hữu nghị truyền thống với nhiều nước; từng bước đổi mới quan
hệ với Liên bang Nga, các nước trong cộng đồng các quốc gia độc lập và
các nước Đông Âu; mở rộng quan hệ với các nước công nghiệp phát
triển; bình thường hoá quan hệ với M (7-1995); thiết lập và mở rộng
quan hệ với nhiều nước Nam á, Nam Thái Bình Dương, Trung Đông,
châu Phi và M La tinh; mở rộng quan hệ với phong trào không liên kết,
các tổ chức quốc tế và khu vực. Đến năm 1995, nước ta đã có quan hệ
ngoại giao với hơn 160 nước, có quan hệ buôn bán với trên 100 nước.
Các công ti của hơn 50 nước và vùng lãnh thổ đã đầu tư trực tiếp vào
nước ta. Nhiều chính phủ và tổ chức quốc tế dành cho ta viện trợ không
hoàn lại hoặc cho vay để phát triển. Thành tựu trên lĩnh vực đối ngoại là
một nhân tố quan trọng góp phần giữ vững hoà bình, phá thế bị bao vây,
cấm vận, cải thiện và nâng cao vị thế của nước ta trên thế giới, tạo môi
trường thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.
Bên cạnh những thành tựu đạt được, chúng ta còn có những khuyết điểm
và yếu kém:
Một là, nước ta còn nghèo và kém phát triển, trình độ phát triển kinh tế,
năng suất lao động, hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp, cơ sở vật chất và
chỉnh. Công tác tài chính, ngân hàng, giá cả, kế hoạch hoá, quy hoạch
xây dựng, quản lí đất đai còn nhiều yếu kém; thủ tục hành chính đổi mới
chậm.
Thương nghiệp nhà nước bỏ trống một số trận địa quan trọng, chưa phát
huy tốt vai trò chủ đạo trên thị trường. Chế độ phân phối thu nhập còn
nhiều bất hợp lí. Bội chi ngân sách và nhập siêu còn lớn. Lạm phát tuy
được kiềm chế nhưng chưa vững chắc. Quản lí nhà nước đối với các
hoạt động khoa học và công nghệ, bảo vệ tài nguyên và môi trường sinh
thái, giáo dục, đào tạo, thông tin, báo chí, xuất bản, văn hoá, văn nghệ
còn chưa tốt.
Năm là, hệ thống chính trị còn nhiều nhược điểm. Năng lực và hiệu quả
lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lí, điều hành của Nhà nước, hiệu quả
hoạt động của các đoàn thể chính trị, xã hội chưa nâng lên kịp với yêu
cầu của nhiệm vụ cách mạng. Không ít cán bộ, đảng viên phai nhạt lí
tưởng cách mạng, tha hoá về phẩm chất, đạo đức; sức chiến đấu của một
bộ phận tổ chức cơ sở Đảng bị suy yếu. Nhìn chung, sau 10 năm thực
hiện đường lối đổi mới và 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VII, đất
nước ta đã vượt qua một giai đoạn thử thách gay go. Nhiệm vụ do Đại
hội VII đề ra cho 5 năm 1991 - 1995 đã hoàn thành về cơ bản. Nước ta
đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, nhưng một số mặt chưa vững
chắc.
Nhiệm vụ đề ra cho chặng đường đầu của thời kì quá độ là chuẩn bị tiền
đề cho công cuộc công nghiệp hoá đã cơ bản hoàn thành, cho phép
chuyển sang thời kì mới đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước. "Xét trên tổng thể, việc hoạch định và thực hiện đường lối đổi mới
những năm qua về cơ bản là đúng đắn, đúng định hướng xã hội chủ
nghĩa" . Từ thực tiễn 10 năm đổi mới, Đảng ta rút ra một số bài học kinh
bảo vệ môi trường sinh thái. Vận dụng các hình thức kinh tế và phương
pháp quản lí nền kinh tế thị trường ,là để sử dụng mặt tích cực của nó
phục vụ mục đích xây dựng chủ nghĩa xã hội, không để chệch hướng đi
theo con đường tư bản chủ nghĩa.
Kinh tế thị trường có những mặt tiêu cực mâu thuẫn với bản chất của
chủ nghĩa xã hội. Đó là xu thế phân hoá giàu nghèo quá mức, là tâm lí
sùng bái đồng tiền dẫn đến sự chà đạp lên đạo đức, nhân phẩm. Cho nên,
đi vào kinh tế thị trường, phải kiên quyết đấu tranh khắc phục, hạn chế
tối đa những khuynh hướng tiêu cực đó. Để phát triển sản xuất, cần phát
huy khả năng của mọi thành phần kinh tế, thừa nhận trên thực tế còn có
bóc lột và sự phân hoá giàu nghèo nhất định trong xã hội, nhưng phải
luôn quan tâm bảo vệ lợi ích của người lao động, vừa khuyến khích làm
giàu hợp pháp, chống làm giàu phi pháp, vừa coi trọng xoá đói, giảm
nghèo, từng bước thực hiện công bằng xã hội.
Bốn là, mở rộng và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy sức
mạnh của cả dân tộc. Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân,
vì nhân dân và do nhân dân. Chính những ý kiến, nguyện vọng.và sáng
kiến của nhân dân là nguồn gốc hình thành đường lối đổi mới của Đảng.
Cũng do nhân dân hưởng ứng đường lối đổi mới, vượt qua bao khó khăn
thử thách mà công cuộc đổi mới đạt được thành tựu to lớn. Năm là, mở
rộng quan hệ hợp tác quốc tế, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ
của nhân dân thế giới, kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của
thời đại. Mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế phải trên cơ sở giữ vững độc
lập tự chủ, bình đẳng và cùng có lợi, giữ gìn, phát huy bản sắc và những
truyền thống tết đẹp của dân tộc.
Sáu là tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, coi xây dựng Đảng là
nhiệm vụ then chốt. Sự nghiệp cách mạng của nước ta do Đảng lãnh